Thách thức khi triển khai trí tuệ nhân tạo (AI) trong hệ thống kế toán chính phủ tại các nước đang phát triển
Nghiên cứu này tập trung nhận diện các rào cản cốt lõi, thông qua việc phân tích bối cảnh thể chế và hạ tầng kỹ thuật đặc thù.
Nghiên cứu xác định các xu hướng chính và các chủ đề mới nổi, cung cấp những hiểu biết có giá trị về các khía cạnh ít được biết đến của hoạt động KTNB tại các DN trong thời gian gần đây.
Đại dịch Covid-19 tuy để lại những ảnh hưởng tiêu cực, nhưng cũng được xem như một chất xúc tác cho những thay đổi trong hoạt động kinh doanh và quản trị doanh nghiệp (DN). Đặc biệt, khi chuyển đổi số trở nên ngày càng quan trọng trong mọi hoạt động của tổ chức, kiểm toán nội bộ (KTNB) cũng không phải là ngoại lệ. Trên cơ sở lập bản đồ khoa học các mảng nghiên cứu chính, mục đích của bài viết là khám phá chất lượng KTNB trong bối cảnh hậu Covid-19 và chuyển đổi số. Phương pháp nghiên cứu là sử dụng phân tích trắc lượng thư mục (bibiometric review) và khung PRISMA 2020, nhằm xem xét 132 nghiên cứu về chất lượng KTNB từ Đại dịch Covid-19 (đầu năm 2020) đến nay từ cơ sở dữ liệu Web of Science. Với sự hỗ trợ của phần mềm VOSviewer và Rstudio, bài viết thực hiện hai kĩ thuật phân tích đồng trích dẫn và phân tích đồng từ khoá. Nghiên cứu xác định các xu hướng chính và các chủ đề mới nổi, cung cấp những hiểu biết có giá trị về các khía cạnh ít được biết đến của hoạt động KTNB tại các DN trong thời gian gần đây.
1. Giới thiệu chung
KTNB được định nghĩa chính thức là "một hoạt động độc lập và khách quan, cung cấp các dịch vụ đảm bảo và tư vấn nhằm gia tăng giá trị và cải thiện hoạt động của tổ chức" (IIA, 2017). Mục đích chính của KTNB là hỗ trợ tổ chức đạt được các mục tiêu thông qua hệ thống và kỷ luật để đánh giá và cải thiện hiệu quả của các quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trị. Ban đầu, chức năng KTNB tập trung vào các hoạt động chống gian lận và xác minh các giao dịch tài chính, sau đó mở rộng phạm vi sang việc tuân thủ hoạt động (Kotb và cộng sự, 2020). Theo thời gian, vai trò này không chỉ dừng lại ở chức năng giám sát đơn thuần mà còn phát triển ra các hoạt động chiến lược, tạo dựng giá trị gia tăng, tham mưu và cố vấn về các thay đổi đến từ môi trường vĩ mô như khủng hoảng biến đổi khí hậu, cản trở địa chính trị (Hazaea và ctg, 2025), công nghệ kĩ thuật số, các luật lệ mới, hay mô hình kinh doanh mới (Kotb và cộng sự, 2020; IIA, 2022).
Đại dịch Covid-19 đã để lại nhiều ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trên toàn cầu, bao gồm cả những tác động tiêu cực do các vấn đề dịch tễ, đứt gãy chuỗi cung ứng, rủi ro thanh khoản,… lẫn những ý nghĩa tích cực trong việc thúc đẩy các ý tưởng đổi mới để khắc phục những bất cập trong hoạt động kinh doanh (IIA, 2022). Mặt khác, các tiến bộ trong chuyển đổi số cũng đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các chức năng của DN. Nói cách khác, Covid-19 và chuyển đổi số đặt ra nhiều vấn đề cho DN nói chung, và hoạt động KTNB nói riêng (Hazaea và ctg, 2025).
KTNB đóng vai trò như một cơ chế giám sát độc lập, vừa hỗ trợ củng cố quản trị DN và hiệu suất tổ chức, vừa cân bằng hành vi của nhà quản lý với lợi ích của cổ đông và các bên liên quan. Với chức năng đảm bảo tính minh bạch, kiểm soát rủi ro tiềm tàng và thiết lập trách nhiệm giải trình đối với các bộ phận và nhân sự, KTNB góp phần giải quyết các vấn đề của lý thuyết đại diện và giảm thiểu chi phí phát sinh (Jiang và ctg, 2017, Kotb và ctg, 2020, Turetken và ctg, 2019). Tuy nhiên, Christopher (2018) cũng lưu ý các DN cần đảm bảo sự chặt chẽ trong cơ cấu tổ chức và quyền hạn của KTNB, sự linh hoạt và hiệu quả trong thiết lập và vận hành để ngăn ngừa ban lãnh đạo có thể can thiệp khiến cho KTNB không thực hiện được đúng vai trò giám sát độc lập theo mục tiêu ban đầu của quản trị DN. KTNB đóng vai trò là nguồn lực quý giá cho các bên chịu trách nhiệm giám sát quản trị DN (hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán), được coi là một trong bốn "trụ cột" của quản trị DN (gồm ủy ban kiểm toán, ban lãnh đạo cấp cao, kiểm toán viên độc lập, cùng với sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể này) (Prawitt và ctg, 2009). KTNB hỗ trợ thực hiện trách nhiệm giám sát bằng cách cung cấp sự đảm bảo độc lập về hiệu quả của các quy trình kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro và quản trị. KTNB đạt chất lượng có thể cải thiện hiệu quả hoạt động, hạn chế thao túng lợi nhuận, giảm chi phí kiểm toán độc lập và nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (Prawitt và ctg, 2009; Jiang và ctg, 2017). Không chỉ vậy, hiệu quả của KTNB còn liên quan đến sống còn của các công ty, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng (Kotb và ctg, 2020). Gần đây, vai trò phát hiện và ngăn chặn kịp thời của KTNB được nghiên cứu để giải thích cho những trường hợp DN phá sản do hạn chế trong khả năng quản lý rủi ro và kiểm soát tài chính (Kotb và ctg, 2020).
Khái niệm chất lượng KTNB được xem xét là thước đo cho hoạt động này, thông thường được thể hiện qua hiệu quả và hiệu suất (Turetken và ctg, 2019). Bất chấp những tranh cãi khác nhau về mức độ quan trọng của hai thước đo này, Turetken và ctg (2019) vẫn khẳng định rằng một hoạt động KTNB tốt cần có cả hai phẩm chất nêu trên. Theo đó, bài viết này sử dụng định nghĩa của Turetken và ctg (2019) để xem xét chất lượng hoạt động KTNB. Liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả KTNB, do KTNB thường phục vụ hai chủ thể - hội đồng quản trị và ban lãnh đạo cấp cao - điều này có thể tạo ra các mối quan hệ phức tạp và xung đột tiềm ẩn (Jiang và cộng sự, 2017). Hệ quả là, hiệu quả hoạt động KTNB có thể bị ảnh hưởng bởi việc giám sát chặt chẽ của hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán, hoặc bởi quyền lực đáng kể của CEO (Jiang và ctg, 2017).
Dù vậy, các nghiên cứu về KTNB vẫn còn những khoảng trống đáng kể, còn chưa thể hiện được cái nhìn toàn diện về giá trị và sự hiệu quả của chức năng này (Turetken và ctg, 2019; Kotb và ctg, 2020). Kotb và ctg (2020) cho rằng nhiều nghiên cứu về KTNB chỉ tập trung ở các quốc gia cụ thể, chẳng hạn như khu vực Bắc Mỹ, Nam Phi, hay tập trung nhiều vào các công ty niêm yết công khai, dựa trên các phân tích thực chứng và thường thiếu cơ sở lý thuyết rõ ràng. Điều này dẫn đến một sự hiểu biết hạn hẹp, có thể không áp dụng cho các nền kinh tế mới nổi hoặc các bối cảnh tổ chức khác như DN tư nhân vừa và nhỏ (SME) và các tổ chức phi lợi nhuận. Một số nghiên cứu tổng quan tài liệu về KTNB cũng được thực hiện, tuy nhiên nhiều bài báo chưa áp dụng các phương pháp có hệ thống trong việc xác định vị trí và phân tích các nguồn và tài liệu đã xuất bản (Turetken và ctg, 2019), do đó, còn có những hạn chế về phạm vi và khả năng khái quát hoá. Mặt khác, thực tiễn hoạt động cũng đòi hỏi phát triển các nghiên cứu tìm hiểu cách kiểm toán viên nội bộ có thể thích ứng với những rủi ro mới nổi trong thế giới hậu Covid-19, và khám phá tác động của các công nghệ mới như phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong bối cảnh chuyển đổi số (IIA, 2022). Nói cách khác, đứng trước những thay đổi của môi trường bên ngoài, chức năng KTNB sẽ chịu nhiều tác động có thể làm ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng hoạt động. Tổng quan tài liệu hệ thống của Turetken và ctg (2019) đã được thực hiện khá chặt chẽ với chiến lược nghiên cứu nghiệm ngặt và lựa chọn cơ sở dữ liệu đã dạng, tuy nhiên thời điểm thực hiện nghiên cứu đã lâu và không còn khả năng phản ánh những thay đổi trọng yếu gần đây trong KTNB.
Trên cơ sở đó, bài viết sẽ thực hiện tổng quan trắc lượng thư mục về chất lượng KTNB giai đoạn từ Covid-19 bằng việc giới hạn thời gian tìm kiếm tài liệu từ năm 2020 (khi ghi nhận sự bùng phát của Đại dịch, kéo theo các gián đoạn trong đời sống kinh tế-xã hội như giãn cách xã hội, tăng cường phát triển công nghệ và các chính sách làm việc từ xa,…). Nhóm tác giả sử dụng hai kĩ thuật phân tích trắc lượng phổ biến là phân tích đồng trích dẫn và phân tích đồng từ khoá để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu: RQ1 - Các chủ đề nghiên cứu chính hiện có về chất lượng KTNB là gì? RQ2 - Lĩnh vực nghiên cứu chất lượng KTNB đã phát triển như thế nào theo thời gian?
2. Phương pháp nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nghiên cứu trắc lượng thư mục nổi lên như một công cụ hiệu quả để nắm bắt khối lượng tri thức khoa học rộng lớn thông qua việc lập bản đồ khoa học, từ đó trực quan hoá và minh hoạ được thực trạng và sự phát triển của một vấn đề nghiên cứu cụ thể (Mukherjee và ctg, 2022; Lim và ctg, 2024). Đặc biệt, với các công cụ trực quan hoá có thể kể đến, như CiteSpace, CiteNet, VosViewer, Rstudio,… phân tích trắc lượng thư mục ngày càng hỗ trợ các nhà nghiên cứu trong việc chắt lọc kiến thức, phát hiện khoảng trống từ khối lượng nghiên cứu khoa học đồ sộ qua thời gian (Paul và ctg, 2021; Lim và ctg, 2024), mà các nghiên cứu thủ công trước đây khó có thể thực hiện một cách khách quan và có độ bao phủ rộng (Donthu và ctg, 2021). Với giả định rằng, những khám phá khoa học trong bất kỳ lĩnh vực hay chủ đề nào đều có liên hệ với nhau về mặt thời gian, các nghiên cứu sau kế thừa nghiên cứu trước (Gupta và ctg, 2021), các phân tích trắc lượng thư mục cung cấp "bức tranh toàn cảnh" về mạng lưới quy phạm của các chủ đề và chủ đề, sự phát triển của các khái niệm theo thời gian và xu hướng theo những cách có ý nghĩa, chẳng hạn như xu hướng chính, khoảng trống kiến thức, ý nghĩa, hướng nghiên cứu trong tương lai,… (Mukherjee và ctg, 2022).
Các kỹ thuật phân tích trắc lượng thư mục được thể hiện qua hai loại: (1) Phân tích hiệu suất và (2) Lập bản đồ khoa học. Trong đó, phân tích hiệu suất tính đến sự đóng góp của các thành phần nghiên cứu, còn lập bản đồ khoa học tập trung vào mối quan hệ giữa các thành phần nghiên cứu (Donthu và ctg, 2021). Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định cái nhìn tổng quan về các tài liệu khoa học liên quan đến chất lượng KTNB, do đó chúng tôi lựa chọn sử dụng các kĩ thuật lập bản đồ khoa học trong bài viết. Các kỹ thuật lập bản đồ khoa học, bao gồm phân tích trích dẫn (citation analysis), phân tích đồng trích dẫn (co-citation analysis), ghép nối thư mục (bibliographic coupling), phân tích đồng từ khoá (co-word analysis) và phân tích đồng tác giả (co-author analysis). Bài viết này sử dụng hai kỹ thuật là phân tích đồng trích dẫn (co-citation analysis) và phân tích đồng từ khoá (co-word analysis), để khám phá các chủ đề cơ bản và các xu hướng nghiên cứu gần đây (Donthu và ctg, 2021) trong lĩnh vực chất lượng KTNB.
Để đảm bảo tính khách quan và chặt chẽ của nghiên cứu, các tác giả áp dụng khung PRISMA 2020 (Page và ctg, 2021), nhằm đảm bảo tuân thủ các giao thức chuẩn hoá cho phân tích tổng quan tài liệu. Theo đó, quy trình thực hiện nghiên cứu được tiến hành qua 3 giai đoạn: Nhận diện (Identification), Tìm kiếm (Screening), Phân tích dựa trên dữ liệu được chọn (Included).
Giai đoạn 1: Nhận diện (Identification)
Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu này được thu thập từ cơ sở dữ liệu Web of Science, bởi đây là nguồn dữ liệu lớn và đáng tin cậy (Sevinc, 2004). Đặc biệt, chỉ mục SSCI của WoS giúp giới hạn các chủ đề liên quan trong lĩnh vực khoa học xã hội (Silvério et al., 2025). Chủ đề nghiên cứu được xác định thông qua các cụm từ khoá liên quan, bao gồm cả những biến thể của từ khoá. Các từ khoá liên quan đến KTNB, bao gồm: “internal audit” hoặc “internal auditing”, do đó người viết sử dụng cụm “internal audit*” để đại diện cho hai cụm này. Như biện luận ở phần 1, chất lượng hoạt động KTNB được đo lường qua hai thước đo là hiệu quả (effectiveness) và hiệu suất (efficiency), do đó, các từ khoá được sử dụng ở đây gồm “effect*”, “efficien*”, “qualit*” và hai từ khoá khác thường được thay thế như “profess*” (Profession/professions) và “perform*” (performance(s)). Như vậy, cú pháp tìm kiếm được thực hiện trên công cụ tìm kiếm của cơ sở dữ liệu WoS là: "internal audit*" AND ("effect*"or “efficien*” or "qualit*"or"profess*"or"Perform*") ở trường Topic (bao gồm tiêu đề, tóm tắt và các từ khoá của các bài báo). Kết quả thu được 531 bài báo trong giai đoạn từ 2020-2025.
Giai đoạn 2: Tìm kiếm (Screening)
Để xác định được bộ dữ liệu liên quan cho nghiên cứu, trong giai đoạn này, nhóm tác giả tiếp tục sử dụng các tiêu chí loại bỏ để giới hạn lại khối lượng tài liệu. Trước hết, chỉ có những nghiên cứu thuộc lĩnh vực liên quan đến kinh doanh, quản trị, tài chính được đưa vào nghiên cứu. Sau bước lọc này, bộ dữ liệu còn lại 138 bài liên quan. Chỉ mục SSCI giúp loại tiếp 4 bài báo không được xếp hạng, và sau đó loại tiếp 1 bài báo không được viết bằng tiếng Anh nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận dữ liệu. 133 bài báo còn lại tiếp tục được kiểm tra thủ công thông qua tiêu đề và tóm tắt nội dung nhằm đảm bảo tính liên quan chặt chẽ đến chủ đề nghiên cứu. Theo đó, 1 bài báo bị loại khỏi mẫu do chủ đề không phù hợp. Kết quả mẫu thu được sau cùng là 132 bài báo được sử dụng cho các phân tích tiếp theo.
Giai đoạn 3: Phân tích dựa trên dữ liệu được chọn (Included)
Phân tích dữ liệu bao gồm ba bước: Đầu tiên, chúng tôi sử dụng chức năng biblioshiny trong phần mềm Rstudio tính toán thống kê mô tả để thể hiện kết quả phân tích trích dẫn tổng thể trong nghiên cứu chất lượng KTNB; Thứ hai, người viết sử dụng phần mềm VOSviewer để lập bản đồ mạng lưới đồng trích dẫn nhằm xác định các cụm chủ đề nghiên cứu. Phân tích nội dung được sử dụng để chi tiết hóa các chủ đề này; và Cuối cùng, để xem xét sự phát triển của các chủ đề nghiên cứu và các luồng chính theo thời gian từ năm 2020 đến 2025, nhóm tiếp tục sử dụng VOSviewer để lập bản đồ mạng lưới đồng từ khoá, nhằm xác định và khám phá các mô hình nghiên cứu trong lĩnh vực chất lượng KTNB, giữa bối cảnh hậu Covid-19 và chuyển đổi số.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Thống kê mô tả
Tóm tắt trong Bảng 1, bài tổng quan này nghiên cứu 132 bài báo liên quan đến chất lượng KTNB, từ 46 nguồn và do 310 tác giả khác nhau đóng góp, trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025. Đáng chú ý, gần 85% các tài liệu này được viết bởi nhiều tác giả (số lượng đồng tác giả trung bình trên mỗi tài liệu cao hơn hai) và tỷ lệ trích dẫn trung bình là 9,4.
Bảng 1. Tóm tắt thống kê mô tả dữ liệu

(Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp trích xuất từ Rstudio)
Bảng 2 cho thấy, 7 tạp chí hàng đầu về số lượng bài báo và tổng số trích dẫn trong lĩnh vực chất lượng KTNB. Trên hai tiêu chí xếp hạng là tổng số lượng bài báo và tổng số trích dẫn, 4/7 tạp chí xuất hiện trong cả hai danh sách, mặc dù đôi khi ở các vị trí khác nhau. Ba tạp chí bao gồm Accounting Review, Contemporary Accounting Research và Accounting Horizons được thống kê là ba trong bảy tạp chí nhiều nhất về số lượng trung bình trích dẫn, dù rằng không phải là tạp chí xuất bản nhiều bài báo nhất (đặc biệt là tạp chí Accounting Review). Có thể thấy rằng, nghiên cứu về chất lượng KTNB đã được xuất bản trên một loạt các tạp chí, bao gồm cả những tạp chí về kế toán, kiểm toán, hệ thống thông tin, đạo đức kinh doanh và vận hành DN. Điều này cho thấy lĩnh vực này đã và đang thu hút được sự quan tâm trên cả góc nhìn liên ngành. Nhìn chung, Managerial Auditing Journal là tạp chí có ảnh hưởng nhất theo cả hai tiêu chí xếp hạng, với 84 xuất bản và 409 trích dẫn.
Bảng 2. Thống kê các tạp chí có ảnh hưởng nhất, theo số lượng bài viết và tổng số trích dẫn

(Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp trích xuất từ Rstudio)
3.2. Phân tích đồng trích dẫn
Phân tích đồng trích dẫn tìm kiếm các liên kết về tác giả được trích dẫn hoặc tài liệu tham khảo giữa các bài báo khác nhau và do đó, có thể được sử dụng để xác định cơ sở tri thức chuyên ngành và các tác giả có ảnh hưởng (Lim và ctg, 2024). Áp dụng điều kiện tối thiểu bảy trích dẫn cho một tài liệu tham khảo được trích dẫn từ kho dữ liệu, gồm 132 bài báo về chất lượng KTNB, phân tích đồng trích dẫn đã xác định được 88 tài liệu tham khảo quan trọng có bảy trích dẫn trở lên. Như thể hiện trong Hình 1, kết quả cho thấy ba cụm riêng biệt được biểu thị bằng ba màu khác nhau: đỏ, xanh lam và xanh lá. Dựa trên tính trung tâm (centrality), với nhận định rằng các cụm xuất hiện ở lõi trung tâm của mạng lưới biểu thị tầm quan trọng của nhóm tri thức này, còn các cụm nằm ở phía ngoài lõi thể hiện các mối quan tâm nghiên cứu chuyên biệt (Lim và ctg, 2024). Như vậy, các cụm nghiên cứu trong Hình 1 được phân tích, như sau:
Cụm 1: Cụm màu đỏ - Các khái niệm liên quan đến chất lượng KTNB
Cụm 1 được tô màu đỏ là cụm lớn nhất với 43 bài báo. Cụm này bao gồm các nghiên cứu nền tảng về vai trò của KTNB trong quản trị DN với các công trình của Spira và Page (2003), Paape và ctg (2003) và Al-Twaijry và ctg (2003). Theo sau đó là các bài báo của Soh và Martinov‐Bennie (2011), Lenz và Hahn (2015), Roussy và Perron (2018), Trotman và Duncan (2018), Arena và Azzone (2019), sử dụng khái niệm chất lượng KTNB và xây dựng các mô hình tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng KTNB, hay các vai trò đa dạng của chức năng này. Nghiên cứu mới nhất trong cụm này là bài báo của Christ và cộng sự (2021), đề cập để các khái niệm mới mẻ liên quan đến đổi mới công nghệ thông tin, quản trị nhân sự và linh hoạt (agile) trong lĩnh vực KTNB. Như vậy, cụm này có vai trò xác lập các khái niệm cơ bản liên quan đến chức năng KTNB và chất lượng KTNB, và đây cũng là nhóm chủ đề ghi nhận nhiều sự quan tâm của giới khoa học nhất.
Hình 1. Phân tích đồng trích dẫn các tài liệu tham khảo

(Nguồn: trích xuất từ phần mềm Vosviewer)
Cụm 2: Cụm màu xanh lá - Vai trò của chất lượng KTNB
Cụm thứ 2 được tô màu xanh lá bao gồm 37 bài báo, với nghiên cứu nền tảng của DeAngelo (1981) về chất lượng kiểm toán, dù rằng không phải tập trung vào KTNB nhưng đây lại là nghiên cứu có giá trị tham khảo cho khái niệm chất lượng KTNB. Cụm này cũng bao gồm các nghiên cứu tập trung khám phá vai trò của KTNB (Messier và ctg, 2011; Lin và cộng sự, 2011) và đặc biệt là chất lượng KTNB. Cụ thể, Messier và ctg (2011) xem xét vai trò của chức năng KTNB từ góc nhìn quản trị và ra quyết định, chứng minh rằng KTNB được xem như một nền tảng đào tạo quản lý trong quyết định về sự tin cậy của kiểm toán viên bên ngoài. Prawitt và ctg (2009) trong nghiên cứu của mình khẳng định vai trò của chất lượng KTNB và quản trị lợi nhuận. Tập trung vào chất lượng KTNB, các tác giả chỉ ra vai trò của chất lượng KTNB trong việc đánh giá rủi ro gian lận (Norman và ctg, 2010), ngăn chặn các hành vi sai trái của ban quản trị (Ege, 2015) hay giám sát hiệu quả báo cáo tài chính (Abbott và ctg, 2016).
Cụm 3: Cụm xanh dương - KTNB với hoạt động quản trị DN
Cụm thứ 3 được tô màu xanh dương là cụm nhỏ nhất trong phân tích đồng trích dẫn, bao gồm 8 bài báo. Cụm này là các nghiên cứu khá chuyên biệt về các lĩnh vực cụ thể hoặc một bối cảnh cụ thể trong KTNB, khởi nguồn từ nghiên cứu nền tảng của Adams (1994) đánh dấu việc sử dụng Lý thuyết đại diện trong nghiên cứu về KTNB để giải thích và dự đoán sự tồn tại của KTNB, vai trò và trách nhiệm được tổ chức giao cho kiểm toán viên nội bộ, và chức năng KTNB có thể bị ảnh hưởng như thế nào bởi sự thay đổi của tổ chức. Theo sau đó là các nghiên cứu về quy trình kiểm toán (Cohen và ctg, 2002), ảnh hưởng của KTNB đến quản trị DN thông qua mối quan hệ với kiểm toán bên ngoại, uỷ ban kiểm toán và ban quản trị (Gramling và ctg, 2004), các yếu tố liên quan đến việc đầu tư vào KTNB của các công ty đại chúng Hoa Kỳ (Carcello và ctg, 2005), tính độc lập của chức năng KTNB (Christopher và cộng sự, 2009); đặc điểm của uỷ ban kiểm toán và quyết định đầu tư vào KTNB (Barua và ctg, 2010), hay tác động của chất lượng KTNB và đóng góp của KTNB vào kiểm toán bên ngoài đến phí kiểm toán (Zain và cộng sự, 2015).
3.3 Phân tích đồng từ khoá
Để khám phá được sự phát triển về mặt kiến thức của một lĩnh vực nghiên cứu, Donthu và ctg (2021), Mukherjee và ctg (2022) và Lim và ctg (2024) gợi ý sử dụng phân tích đồng từ khoá của các tài liệu trích dẫn. Từ mẫu gồm 132 tài liệu, phân tích đồng từ khoá với giới hạn 5 lần xuất hiện của mỗi từ khoá đã trích xuất được 41 từ khoá đạt điều kiện, chia thành 5 cụm như trong Hình 2, với 5 màu: đỏ, xanh lá, xanh dương, tím và vàng. Với kĩ thuật gán nghĩa (sensemaking) do Lim và cộng sự (2024) giới thiệu, chúng tôi tiến hành các bước scanning – sensing – substantiating (như đã làm ở Phân tích đồng trích dẫn phía trên) để giải mã nội dung chính của mỗi cụm từ khoá. Các chủ đề trung tâm là “internal audit”, “quality”, “impact”, “corporate governance” phản ánh các khía cạnh cốt lõi trong nghiên cứu về chất lượng KTNB trong bối cảnh quản trị DN.
Cụm màu đỏ với 13 từ khoá, chủ yếu tập trung vào vai trò của chất lượng KTNB trong các quyết định quản trị, cụ thể là trong việc quản trị rủi ro, quản trị lợi nhuận, kiểm soát nội bộ phí kiểm toán…, thể hiện thông qua các từ khoá “audit quality”, “board”, “corporate governance”, “earnings”, “fees”, “internal audit function”, “internal control”, “management”, “quality”, “risk”… Cụm xanh dương với 9 từ khoá tập trung vào các khía cạnh chuyên biệt của KTNB như các bên liên quan trong KTNB, các yêu cầu cần có của KTNB, do đó phản ánh qua các từ khoá như “audit commitee”, “expertise”, “external audit”, “financial reporting quality”, “independence”, “objectivity” … Cụm màu xanh lá, màu vàng và màu tím tập trung nhiều ở ngoại vi (periphery) mạng lưới là những khía cạnh cụ thể trong nghiên cứu về KTNB, như vấn đề về tuân thủ (“risk management”, standards”), ứng dụng các công nghệ mới nổi (“information”, “big data”, “data analytics”…) và phát triển bền vững (“assurance”, “performance”, “sustainability”, “systems”…). Đồng thời, ở các cụm này, các kết nối (linkages) còn ít hơn so với các từ khoá thuộc cụm đỏ và xanh dương – vốn là hai cụm có nhiều liên kết chặt chẽ, thể hiện sự rời rạc trong các nghiên cứu thuộc các lĩnh vực này. Nói cách khác, ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo chất lượng và phát triển bền vững là các xu hướng mới trong các nghiên cứu về chất lượng KTNB. Từ đây, có thể thấy được tầm quan trọng của các chủ đề này, như một gợi ý cho các nghiên cứu về chất lượng KTNB trong tương lai.
Hình 2. Phân tích đồng từ khoá từ tất cả từ khoá

(Nguồn: trích xuất từ phần mềm Vosviewer)
4. Kết luận
Dù KTNB không còn là chủ đề mới trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán, tuy nhiên chất lượng KTNB lại là vấn đề gần đây nhận được nhiều quan tâm của các học giả cũng như nhà quản trị DN, đặc biệt là từ những thay đổi xuất phát sau Đại dịch Covid-19 và thời đại Công nghiệp 4.0. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu với sự hỗ trợ của kỹ thuật phân tích trắc lượng thư mục đã thiết lập một bản đồ khoa học kiến thức về chất lượng KTNB trong giai đoạn từ năm 2020 đến nay. Kết quả từ phân tích đồng trích dẫn trên 132 bài báo trích xuất từ cơ sở dữ liệu WoS từ năm 2020 đến năm 2025 đã chỉ ra ba nhóm chủ đề chính, đó là: (1) Các khái niệm liên quan đến chất lượng KTNB; (2) Vai trò của chất lượng KTNB; và (3) KTNB với hoạt động quản trị DN..
Phân tích đồng từ khoá cũng chỉ ra các xu hướng nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực này, đồng thời gợi ý các hướng nghiên cứu trong thời gian tới về ứng dụng của khoa học công nghệ, vấn đề phát triển bền vững, vấn đề đảm bảo tuân thủ trong KTNB. Tuy nhiên, bài viết còn một vài hạn chế: Thứ nhất, các tiêu chí loại bỏ hạn chế khả năng bao phủ của dữ liệu tìm kiếm, dù rằng việc sử dụng dữ liệu từ WoS và SSCI giúp đảm bảo chất lượng nguồn bài báo cho việc thực hiện tổng quan, hay không lựa chọn các bài không viết bằng tiếng Anh để đảm bảo tính tiếp cận. Do đó, nghiên cứu trong tương lai có thể xem xét mở rộng nghiên cứu sang các cơ sở dữ liệu xám như Google Scholar,… hay cơ sở dữ liệu có độ phủ cao hơn như Scopus,…; Mặt khác, bài viết mới chỉ sử dụng hai trong năm kĩ thuật phân tích trắc lượng thư mục. Do đó, để gia tăng đóng góp khoa học, các kĩ thuật còn lại có thể đưa vào xem xét để phát triển và mở rộng khối kiến thức về chất lượng KTNB hơn, giúp giải quyết được nhiều câu hỏi nghiên cứu trong tương lai.