Quyết
định số 3389/QĐ-BTC ngày 06/10/2025 của Bộ Tài chính đánh dấu bước ngoặt quan
trọng trong tiến trình cải cách quản lý thuế tại Việt Nam, khi chính thức xóa bỏ
hình thức thuế khoán và áp dụng phương pháp kê khai thuế đối với hộ kinh doanh
(HKD) kể từ ngày 01/01/2026. Mục tiêu tổng quát của đề án này là xây dựng hệ thống
quản lý thuế minh bạch, công bằng và hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng
giữa HKD và doanh nghiệp (DN), đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, cắt giảm chi
phí tuân thủ và hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung trình bày
các chính sách thuế đối với từng nhóm HKD, đồng thời phân tích ý nghĩa và tác động
của chính sách thuế mới trong việc thúc đẩy minh bạch hóa, hiện đại hóa và phát
triển kinh tế tư nhân.
1.
Đặt vấn đề
HKD là một bộ phận quan
trọng của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam, đóng vai trò không nhỏ trong thúc đẩy
tăng trưởng, tạo việc làm và đóng góp nguồn thu ngân sách nhà nước. Theo báo
cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2024, Việt Nam có khoảng 3,6 triệu hộ
và cá nhân kinh doanh đang được quản lý thuế, trong đó hơn 90% hoạt động ở quy
mô nhỏ và siêu nhỏ. Tổng thu ngân sách từ khu vực này đạt khoảng 25.953 tỷ đồng,
tăng 20% so với năm 2023, cho thấy tiềm năng nguồn thu và vai trò chiến lược của
khu vực HKD trong cơ cấu thu ngân sách quốc gia (Bộ Tài chính, 2025).
Trong nhiều năm, chính
sách thuế đối với HKD được thiết kế với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục, giảm chi
phí, và phù hợp với đặc điểm của khu vực sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Theo quy định
cũ của luật thuế và các văn bản hướng dẫn có liên quan, HKD được áp dụng hai
phương pháp nộp thuế chính: (i) phương pháp khoán, dành cho hộ không thực hiện
hoặc không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, trong đó cơ quan thuế ấn định
mức thuế dựa trên doanh thu ước tính và tỷ lệ thuế theo ngành nghề; và (ii)
phương pháp kê khai, áp dụng cho hộ có quy mô lớn hoặc tự nguyện lựa chọn, thực
hiện khai báo, ghi sổ kế toán và lập hóa đơn điện tử tương tự như DN.
Tuy nhiên, cùng với quá
trình chuyển đổi số và yêu cầu minh bạch hóa tài chính công, mô hình thuế khoán
dần bộc lộ nhiều hạn chế cả về kỹ thuật và quản lý, bao gồm: (1) thiếu căn cứ
xác định chính xác doanh thu thực tế; (2) chưa đảm bảo công bằng thuế giữa các
hộ có quy mô khác nhau; và (3) tạo kẽ hở cho gian lận hoặc ẩn doanh thu. Chênh
lệch về cơ chế tính thuế, chế độ kế toán và hóa đơn cũng tạo ra khoảng cách về
nghĩa vụ thuế giữa HKD và DN chính thức, khiến nhiều hộ quy mô lớn vẫn lựa chọn
duy trì hình thức hộ cá thể để tránh các yêu cầu kiểm toán, kế toán, và quản lý
rủi ro nghiêm ngặt hơn.
Nhằm khắc phục những tồn
tại trên và tiến tới hiện đại hóa hệ thống quản lý thuế, Bộ Tài chính đã ban
hành Quyết định số 3389/QĐ-BTC ngày 06/10/2025, phê duyệt Đề án “Chuyển đổi mô
hình và phương pháp quản lý thuế đối với HKD khi xóa bỏ thuế khoán”. Theo đó, kể
từ ngày 01/01/2026, hình thức thuế khoán sẽ chính thức bị xóa bỏ, thay thế bằng
phương pháp kê khai – tự khai, tự nộp thuế. Đề án đặt mục tiêu 100% HKD được tiếp
cận thông tin và nhận được sự hỗ trợ từ cơ quan thuế về nội dung chuyển đổi từ
phương thức thuế khoán sang phương thức kê khai, và chuyển đổi từ HKD thành DN,
100% hộ thuộc diện phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền theo
Nghị định 70/2025/NĐ-CP thực hiện đăng ký và kết nối dữ liệu với cơ quan thuế,
đồng thời cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính và chi phí
tuân thủ (Bộ Tài chính, 2025). Bên cạnh đó, Quyết định 3389/QĐ-BTC cũng đề xuất
mô hình phân nhóm HKD theo quy mô doanh thu, bao gồm ba nhóm chính (≤ 200 triệu
đồng/năm, từ 200 triệu đến 3 tỷ đồng/năm, trên 3 tỷ đồng/năm).
Tuy nhiên, việc chuyển đổi
từ thuế khoán sang kê khai đặt ra thách thức đáng kể về năng lực thực thi. Nhiều
HKD, đặc biệt ở khu vực nông thôn hoặc ngành nghề truyền thống, chưa quen với
quy trình kê khai điện tử, sử dụng hóa đơn điện tử, hoặc ghi chép kế toán định
kỳ. Thực tế cho thấy, nếu không có hướng dẫn chi tiết, dễ áp dụng và thống nhất
trên toàn quốc, chính sách có thể gặp khó khăn trong giai đoạn đầu triển khai,
gây gián đoạn hoạt động sản xuất – kinh doanh và gia tăng rủi ro vi phạm hành
chính. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài nghiên cứu này tập trung phân tích các
quy định mới về chính sách thuế đối với HKD theo Quyết định 3389/QĐ-BTC, trình
bày hướng dẫn phương pháp kê khai, chế độ kế toán và cách xác định nghĩa vụ thuế
tương ứng cho từng nhóm hộ, đồng thời đánh giá ý nghĩa của chính sách này trong
việc thúc đẩy minh bạch hóa, hiện đại hóa và chính thức hóa khu vực kinh tế cá
thể cũng như đề xuất các chính sách hỗ trợ cho HKD.
2.
Mô hình quản lý thuế đối
với HKD, cá nhân kinh doanh theo Quyết định 3389/QĐ-BTC
Việc bắt buộc HKD phải chuyển
đổi từ phương pháp thuế khoán sang phương pháp kê khai theo Quyết định
3389/QĐ-BTC, đòi hỏi cơ quan thuế phải thiết lập một hệ thống phân loại HKD dựa
trên quy mô doanh thu và mức độ phát triển hoạt động kinh doanh. Căn cứ vào mô
hình quản lý mới, HKD được chia thành ba nhóm chính nhằm xác định nghĩa vụ thuế,
hình thức kê khai, chế độ kế toán và trách nhiệm sử dụng hóa đơn điện tử phù hợp
với năng lực thực tế.
2.1. Phân loại HKD theo doanh thu
Theo hướng dẫn tại Bảng 2
Quyết định 3389/QĐ-BTC thì HKD được phân thành ba nhóm doanh thu để áp dụng các
phương pháp quản lý và kê khai thuế khác nhau:
Nhóm 1: HKD
có doanh thu không quá 200 triệu đồng/năm. Đây là nhóm có quy mô nhỏ, thường hoạt
động mang tính tự phát hoặc hộ gia đình.
Nhóm 2: HKD
có doanh thu từ trên 200 triệu đến 3 tỷ đồng/năm. Đây là nhóm chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số HKD, có hoạt động ổn định và doanh thu trung bình.
Nhóm 3: HKD có doanh thu
trên 3 tỷ đồng/năm, được coi là nhóm quy mô lớn, có khả năng quản lý và ghi
chép kế toán tương đối đầy đủ.
2.2. Hướng dẫn chính sách thuế đối với từng nhóm HKD
2.2.1. Hướng
dẫn chính sách thuế đối với HKD thuộc nhóm 1
Nhóm 1 bao gồm các HKD có
tổng doanh thu trong năm không vượt quá 200 triệu đồng, được xác định là nhóm
có quy mô nhỏ và mức rủi ro thuế thấp nhất trong hệ thống quản lý thuế mới.
Theo quy định tại Đề án chuyển đổi, nhóm này được áp dụng cơ chế quản lý đơn giản,
nhằm vừa đảm bảo tuân thủ pháp luật, vừa giảm tối đa gánh nặng hành chính cho
người nộp thuế.
- Nghĩa vụ thuế và
trách nhiệm kê khai: Các HKD trong nhóm này không phải nộp thuế
giá trị gia tăng (GTGT) và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN), do
doanh thu thấp hơn ngưỡng chịu thuế theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính minh bạch và cập nhật dữ liệu quản lý, hộ vẫn phải
thực hiện kê khai doanh thu hai lần mỗi năm vào đầu kỳ và cuối kỳ tính thuế. Việc kê khai định kỳ giúp cơ quan thuế
có cơ sở đánh giá biến động doanh thu và xác định kịp thời khả năng phát sinh
nghĩa vụ thuế nếu doanh thu vượt ngưỡng 200 triệu đồng.
- Hóa đơn và chứng
từ: Đối
với hoạt động bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng, HKD
nhóm 1 được khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế. Việc sử
dụng hóa đơn điện tử, dù không bắt buộc, đóng vai trò quan trọng trong việc
hình thành thói quen giao dịch minh bạch và tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi
số trong lĩnh vực thuế.
- Sổ kế toán và quản
lý tài chính: Nhằm giảm gánh nặng tuân thủ, HKD nhóm 1 chỉ cần ghi
chép sổ kế toán đơn giản, tập trung vào hai nội dung cơ bản: doanh thu bán hàng
và chi phí hoạt động chủ yếu. Dữ liệu này giúp cơ quan thuế xác định tính chính
xác của kê khai doanh thu và hỗ trợ việc theo dõi khi hộ có tăng trưởng vượt
ngưỡng chịu thuế.
- Quản lý tài khoản
ngân hàng và giao dịch thương mại điện tử: HKD nhóm 1 không bắt buộc
mở tài khoản ngân hàng riêng cho hoạt động kinh doanh, song được khuyến khích sử
dụng tài khoản thanh toán để thuận tiện trong việc ghi nhận giao dịch và chứng
minh doanh thu khi cần thiết.
- HKD, cá nhân
kinh doanh qua nền tảng thương mại điện tử: Đối với HKD qua nền tảng
thương mại điện tử (TMĐT), cơ chế kê khai được phân biệt như sau:
+
Nếu sàn TMĐT có chức năng thanh toán, sàn sẽ khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế
GTGT và thuế TNCN theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu. Trường hợp doanh thu
cuối năm của hộ dưới 200 triệu đồng, cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế nộp thừa
cho HKD.
+
Nếu sàn không có chức năng thanh toán, HKD phải tự kê khai và nộp thuế theo từng
lần phát sinh, hoặc theo kỳ tháng/quý tùy quy mô hoạt động và hướng dẫn của cơ
quan thuế.
2.2.2. Hướng
dẫn chính sách thuế đối với HKD thuộc nhóm 2
Nhóm 2 bao gồm các HKD có
doanh thu trên 200 triệu đồng đến 3 tỷ đồng/năm, là nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng số HKD hiện nay. Đây là nhóm có quy mô trung bình, hoạt động ổn định
và thường có địa điểm kinh doanh cố định, doanh thu tương đối rõ ràng. Theo đề
án chuyển đổi, nhóm này trở thành đối tượng trọng tâm của chính sách kê khai
thuế thay cho thuế khoán, với các quy định tương đối cụ thể về nghĩa vụ thuế,
quy trình kê khai và chế độ quản lý.
- Nghĩa vụ thuế và
phương pháp tính thuế: HKD nhóm 2 có nghĩa vụ nộp thuế GTGT và
thuế TNCN theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu.
Đối
với thuế GTGT, số thuế phải nộp được xác định theo công thức:
Thuế
GTGT phải nộp = Doanh thu x Tỷ lệ %
Tỷ lệ phần trăm áp dụng
phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ví dụ: thương mại, dịch vụ, sản xuất, vận
tải, ăn uống, v.v.
Đối
với thuế TNCN, số thuế phải nộp được tính theo tỷ lệ phần trăm tương tự:
Số
thuế TNCN phải nộp = Doanh thu x Tỷ lệ %
Tỷ lệ này được cơ quan
thuế xác định theo từng nhóm ngành cụ thể để phản ánh tương đối chính xác thu
nhập chịu thuế của HKD.
Tuy nhiên, trong trường hợp
HKD đáp ứng đủ điều kiện về kế toán, hóa đơn và chứng từ, HKD có thể tự nguyện
đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, tương tự như DN siêu nhỏ hoặc DN nhỏ.
Khi đó, thuế GTGT được tính theo công thức:
Thuế
GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Việc mở tùy chọn này thể
hiện định hướng khuyến khích HKD tiến gần hơn đến mô hình DN, đồng thời tăng
tính minh bạch và khả năng hạch toán tài chính.
- Kỳ kê khai và
quyết toán thuế: HKD nhóm 2 phải kê khai thuế theo quý (4 lần/năm)
và thực hiện quyết toán thuế hàng năm. Việc kê khai được thực hiện thông qua hệ
thống điện tử của Cục thuế, giúp giảm thiểu thủ tục giấy tờ, đồng thời tạo cơ sở
dữ liệu tập trung phục vụ quản lý rủi ro. Đối với các hộ có doanh thu tăng liên tục và vượt ngưỡng 3 tỷ đồng
trong hai năm liền, từ năm tiếp theo sẽ chuyển sang nhóm 3 và áp dụng chế độ kế
toán cùng phương pháp tính thuế như DN nhỏ, siêu nhỏ. Quy định này nhằm đảm bảo
sự linh hoạt và phân tầng quản lý hợp lý, đồng thời khuyến khích hộ phát triển
theo hướng chính thức hóa.
- Quản lý hóa đơn
điện tử và chứng từ: Nhằm kiểm soát doanh thu và phòng ngừa thất
thu thuế, HKD nhóm 2 bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử. Cụ thể:
+
Trường hợp doanh thu trên 1 tỷ đồng/năm và có hoạt động bán hàng hóa, cung cấp
dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng, hộ phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo
từ máy tính tiền (HĐĐT-MTT) có kết nối dữ liệu trực tiếp với cơ quan thuế.
+
Đối với hộ có doanh thu thấp hơn, vẫn được phép sử dụng hóa đơn điện tử có mã của
cơ quan thuế thông qua phần mềm hỗ trợ miễn phí.
- Sổ
kế toán và tài khoản ngân hàng: HKD nhóm 2 được áp dụng
chế độ sổ kế toán đơn giản, chỉ yêu cầu ghi nhận doanh thu, chi phí cơ bản, hóa
đơn đầu ra và đầu vào, thay vì lập báo cáo tài chính phức tạp. Khác với nhóm 1,
hộ nhóm 2 bắt buộc mở tài khoản ngân hàng riêng phục vụ hoạt động kinh doanh,
nhằm tách bạch dòng tiền cá nhân và kinh doanh. Quy định này góp phần nâng cao
tính minh bạch tài chính và hỗ trợ cơ quan thuế trong việc xác định chính xác
doanh thu, đặc biệt đối với hộ có hoạt động giao dịch điện tử hoặc nhận thanh
toán qua nền tảng trực tuyến.
- Kê khai thuế đối
với HKD qua sàn thương mại điện tử (TMĐT): Trường hợp HKD hoạt động
qua sàn TMĐT, việc kê khai và nộp thuế được thực hiện theo hai cơ chế:
+
Nếu sàn có chức năng thanh toán, sàn khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế GTGT và
TNCN theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu. Nếu doanh thu thực tế của hộ dưới
200 triệu đồng/năm, cơ quan thuế xử lý hoàn thuế nộp thừa.
+
Nếu sàn không có chức năng thanh toán, HKD phải tự kê khai và nộp thuế theo từng
lần phát sinh hoặc theo tháng/quý, tùy mức doanh thu.
2.2.3. Hướng
dẫn chính sách thuế đối với HKD thuộc nhóm 3
Nhóm 3 bao gồm các HKD có
doanh thu hàng năm vượt quá 3 tỷ đồng, được xem là nhóm có quy mô lớn và mức độ
chuyên nghiệp cao nhất trong khung phân loại HKD. Theo định hướng của Bộ Tài
chính tại Quyết định số 3389/QĐ-BTC năm 2025, nhóm này được quản lý tương tự DN
nhỏ và vừa, nhằm tăng cường tính minh bạch, kiểm soát rủi ro thuế và khuyến
khích chuyển đổi sang hình thức DN chính thức.
- Phương pháp tính
thuế và nghĩa vụ kê khai: HKD nhóm 3 bắt buộc áp dụng phương
pháp khấu trừ thuế đối với thuế GTGT. Theo đó, số thuế GTGT phải nộp được xác định
theo công thức:
Thuế
GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Phương pháp này cho phép HKD
hạch toán và khấu trừ phần thuế GTGT đã nộp ở khâu mua hàng hóa, dịch vụ đầu
vào, tương tự như DN. Việc áp dụng cơ chế khấu trừ là dấu mốc quan trọng, đánh
dấu sự chuyển đổi từ HKD truyền thống sang mô hình quản lý thuế hiện đại và
minh bạch hơn.
Đối với thuế TNCN, hộ
nhóm 3 thực hiện tính thuế trên thu nhập tính thuế thay vì theo tỷ lệ phần trăm
trên doanh thu như các nhóm thấp hơn. Công thức được xác định như sau:
Thuế
TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x 17%
Trong đó, Thu nhập tính
thuế = Doanh thu - chi phí hợp lý. Chi phí hợp lý được xác định theo danh mục
được pháp luật quy định, có chứng từ hợp lệ và phục vụ trực tiếp cho hoạt động
sản xuất, kinh doanh.
Về kỳ kê khai, HKD nhóm 3
thực hiện kê khai thuế theo quý, và chuyển sang kê khai theo tháng nếu doanh
thu hàng năm vượt 50 tỷ đồng. Cuối năm, hộ phải thực hiện quyết toán thuế toàn
phần trên cơ sở sổ sách kế toán và báo cáo tài chính được lập theo chuẩn mực kế
toán dành cho DN siêu nhỏ hoặc vừa.
- Quản lý hóa đơn
điện tử và chứng từ
Do đặc thù có quy mô lớn
và khối lượng giao dịch cao, HKD nhóm 3 bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử có mã
của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền (HĐĐT-MTT).
- Sổ kế toán và
tài khoản ngân hàng
Hộ nhóm 3 phải áp dụng chế
độ kế toán của DN siêu nhỏ hoặc DN vừa, bao gồm việc ghi chép đầy đủ sổ sách kế
toán, lập báo cáo tài chính, và lưu trữ chứng từ kế toán theo quy định của Luật
Kế toán.
Song song với đó, hộ nhóm
3 bắt buộc mở tài khoản ngân hàng riêng phục vụ kinh doanh, qua đó tách biệt
dòng tiền cá nhân và hoạt động kinh doanh. Tất cả các giao dịch thu, chi, thanh
toán với đối tác hoặc khách hàng cần được thực hiện qua tài khoản này để đảm bảo
minh bạch và phục vụ công tác kiểm tra, đối chiếu thuế.
- Quản lý HKD qua
nền tảng thương mại điện tử (TMĐT)
Đối với HKD nhóm 3 có hoạt
động qua sàn thương mại điện tử, quy trình kê khai và nộp thuế được áp dụng
tương tự như các nhóm khác nhưng với mức độ kiểm soát chặt chẽ hơn:
+
Nếu sàn có chức năng thanh toán, sàn thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thay
thuế GTGT và TNCN theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu. Trường hợp doanh thu
thực tế của hộ dưới 200 triệu đồng, cơ quan thuế thực hiện hoàn lại phần thuế nộp
thừa.
+ Nếu sàn không có chức
năng thanh toán, hộ phải tự kê khai và nộp thuế định kỳ theo tháng hoặc quý,
tùy thuộc vào quy mô doanh thu và tính chất hoạt động.
3. Ý nghĩa của việc phân
chia các nhóm HKD và các chính sách hỗ trợ chuyển đổi lên DN
3.1.
Ý nghĩa tác động của việc phân chia các nhóm HKD
Việc phân chia HKD thành
ba nhóm theo ngưỡng doanh thu (≤200 triệu; 200 triệu–3 tỷ; >3 tỷ) không chỉ
mang tính kỹ thuật trong quản lý thuế, mà còn thể hiện bước tiến về tư duy quản
trị công và cải cách chính sách thuế theo hướng phân tầng, rủi ro và năng lực
tuân thủ.
Thứ nhất,
đảm bảo tính công bằng và hợp lý trong chính sách thuế. Phân chia theo doanh
thu cho phép áp dụng các nghĩa vụ thuế phù hợp với quy mô và khả năng tài chính
của từng nhóm HKD. Các hộ nhỏ, doanh thu dưới 200 triệu đồng, được miễn thuế và
áp dụng thủ tục đơn giản, tránh gánh nặng hành chính; trong khi đó, hộ có quy
mô lớn phải thực hiện kê khai, kế toán và khấu trừ thuế như đối với một DN. Điều
này góp phần thiết lập công bằng theo chiều dọc (người có năng lực đóng góp cao
hơn phải thực hiện nghĩa vụ thuế cao hơn), đồng thời khuyến khích tuân thủ tự
nguyện trong khu vực kinh tế cá thể.
Thứ hai,
nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm soát rủi ro thuế. Phân loại theo doanh thu
cho phép cơ quan thuế áp dụng quản lý rủi ro có trọng tâm, thay vì kiểm tra đồng
loạt. Các nhóm doanh thu cao được giám sát chặt chẽ qua hệ thống hóa đơn điện tử,
tài khoản ngân hàng và báo cáo định kỳ, trong khi nhóm nhỏ được quản lý thông
qua kê khai đơn giản và cơ sở dữ liệu thu thập gián tiếp. Cách tiếp cận này
giúp phân bổ nguồn lực quản lý hợp lý, giảm chi phí hành chính cho Nhà nước và
người nộp thuế.
Thứ ba,
thúc đẩy quá trình chính thức hóa khu vực kinh tế phi chính thức. Trước đây, phần
lớn HKD nhỏ hoạt động trong khu vực “phi chính thức” – không ghi sổ kế toán,
không sử dụng hóa đơn, khó kiểm soát doanh thu. Việc áp dụng cơ chế kê khai, sổ
sách đơn giản, cùng chính sách khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử, giúp các hộ
từng bước tiếp cận và hòa nhập vào hệ thống quản lý chính thức. Đặc biệt, nhóm
2 và nhóm 3, với yêu cầu kế toán và kê khai chặt chẽ hơn, trở thành “vườn ươm”
cho sự chuyển đổi lên DN – một hướng đi quan trọng trong quá trình mở rộng cơ sở
thuế và phát triển khu vực tư nhân.
Thứ tư,
tạo nền tảng cho chuyển đổi số trong quản lý thuế. Hệ thống phân nhóm giúp Nhà
nước từng bước chuẩn hóa dữ liệu thuế theo doanh thu, lĩnh vực, khu vực địa lý,
qua đó phục vụ việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) của ngành
thuế. Việc áp dụng hóa đơn điện tử, kê khai trực tuyến và tài khoản ngân hàng
riêng là bước khởi đầu cho một hệ sinh thái thuế số hóa, góp phần minh bạch hóa
hoạt động kinh doanh và giảm thiểu gian lận.
3.2. Các chính sách để hỗ trợ HKD chuyển đổi lên DN
Nhận thức được những khó
khăn mà HKD gặp phải khi chuyển từ phương thức thuế khoán sang kê khai, Bộ tài
chính và các cơ quan có liên quan đã thiết kế một hệ thống chính sách hỗ trợ đa
chiều nhằm vừa tạo điều kiện tuân thủ, vừa khuyến khích chuyển đổi lên DN chính
thức.
Thứ nhất,
hỗ trợ kỹ thuật và số hóa hoạt động kê khai. Cơ quan thuế cung cấp phần mềm kế
toán và kê khai miễn phí, đồng thời hướng dẫn sử dụng hóa đơn điện tử, hệ thống
máy tính tiền kết nối cơ quan thuế. Đây là chính sách mang tính “bao trùm kỹ
thuật số”, giúp HKD – đặc biệt là nhóm nhỏ và trung bình – tiếp cận công nghệ
quản lý tài chính hiện đại mà không phát sinh chi phí ban đầu. Chính phủ cũng cần
triển khai chương trình tập huấn, tư vấn trực tiếp và trực tuyến, giúp HKD hiểu
và thực hành đúng các quy trình kê khai.
Thứ hai,
hỗ trợ pháp lý và tư vấn chuyển đổi. Cơ quan thuế, Sở Tài chính, cùng với các
hiệp hội DN nhỏ và vừa, cần phối hợp triển
khai các chương trình tư vấn pháp lý miễn phí nhằm hướng dẫn HKD chuyển đổi mô
hình hoạt động lên DN (Nghị quyết 68-NQ/TW). Chính sách này đặc biệt hữu ích đối
với nhóm hộ có doanh thu lớn (nhóm 3), khi quy mô hoạt động đã đạt mức cần tuân
thủ chuẩn mực kế toán, hóa đơn và khấu trừ thuế như DN.
Thứ ba,
ưu đãi tài chính và thuế cho hộ chuyển đổi lên DN. Theo định hướng của Nghị quyết
68-NQ/TW và Nghị quyết 198/2025/QH15, các HKD chuyển đổi lên DN được hưởng các
ưu đãi thuế tạm thời, như: (1) Chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày
01/01/2026; (2) Miễn 100% thuế thu nhập DN cho DN nhỏ và vừa trong 3 năm đầu kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu…Những ưu đãi này không chỉ
giúp giảm gánh nặng chi phí trong giai đoạn đầu chuyển đổi mà còn tạo động lực
để HKD chính thức đi vào hoạt động.
Thứ tư,
hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị và tuân thủ. Song song với hỗ trợ tài chính,
Nhà nước đã chú trọng đào tạo kỹ năng quản trị kinh doanh, kế toán và thuế cho HKD
thông qua các chương trình phối hợp giữa Cục Thuế, Bộ tài chính, Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các tổ chức nghề nghiệp. Mục tiêu của chính
sách này không chỉ là giúp hộ kê khai đúng luật, mà còn nâng cao năng lực cạnh
tranh, khả năng mở rộng quy mô và hội nhập thị trường chính thức.
4. Kết luận
Việc ban hành Quyết định
số 3389/QĐ-BTC năm 2025 về chuyển đổi phương pháp quản lý thuế đối với HKD,
thay thế hình thức thuế khoán bằng cơ chế kê khai – tự khai, tự nộp, đánh dấu
bước cải cách có ý nghĩa chiến lược trong hệ thống thuế Việt Nam. Đây không chỉ
là sự thay đổi kỹ thuật trong phương pháp quản lý, mà còn phản ánh chuyển biến
về tư duy quản trị tài chính công, hướng tới minh bạch hóa, công bằng hóa và hiện
đại hóa quản lý thuế phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy,
việc phân chia HKD theo quy mô doanh thu thành ba nhóm (≤200 triệu; 200 triệu–3
tỷ; >3 tỷ đồng) là cơ sở khoa học hợp lý, cho phép áp dụng mức độ nghĩa vụ
thuế, chế độ kế toán và hình thức kê khai phù hợp với năng lực tuân thủ của từng
đối tượng. Cách tiếp cận phân tầng này vừa đảm bảo công bằng, vừa giảm gánh nặng
hành chính cho hộ nhỏ, đồng thời nâng cao hiệu quả giám sát và quản lý rủi ro đối
với nhóm hộ có quy mô lớn hơn.
Bên cạnh đó, chính sách hỗ
trợ đa chiều của Nhà nước – bao gồm miễn phí phần mềm kế toán, hỗ trợ sử dụng
hóa đơn điện tử, tư vấn pháp lý, đào tạo nghiệp vụ và các ưu đãi tài chính cho
hộ chuyển đổi lên DN – đóng vai trò then chốt trong việc giảm chi phí tuân thủ
và khuyến khích chính thức hóa hoạt động kinh doanh. Những hỗ trợ này không chỉ
giúp HKD thích ứng với phương pháp kê khai mới mà còn tạo nền tảng thúc đẩy
hình thành lớp DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa năng động, góp phần mở rộng khu vực kinh
tế chính thức và nâng cao năng suất của nền kinh tế.
Tuy nhiên, để chính sách
đạt hiệu quả cao nhất, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thuế, mở
rộng khả năng tiếp cận kỹ thuật số ở khu vực nông thôn, và tăng cường công tác
tuyên truyền – hướng dẫn HKD. Đồng thời, nên triển khai cơ chế đánh giá định kỳ
về tác động của việc xóa bỏ thuế khoán, nhằm kịp thời điều chỉnh quy định cho
phù hợp với thực tiễn.
Tổng thể, việc chuyển đổi
từ thuế khoán sang kê khai thuế theo Quyết định 3389/QĐ-BTC là bước ngoặt trong
tiến trình cải cách hệ thống thuế Việt Nam, góp phần hướng tới một nền quản lý
thuế hiện đại, công bằng và minh bạch, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và yêu cầu
phát triển bền vững trong giai đoạn 2026–2030.
Tài liệu tham khảo
Ban chấp hành trung ương (2025). Nghị quyết của bộ chính trị về phát triển kinh tế tư
nhân số 68-NQ/TW ban hành ngày 04/5/2025. Hà Nội: Ban chấp hành
trung ương.
Bộ Tài chính (2021). Thông
tư 40/2021/TT-BTC Thông tư hướng dẫn Thuế Giá trị gia tăng, Thuế thu nhập cá
nhân và quản lý thuế đối với HKD, cá nhân kinh doanh ban hành ngày
01/06/2021. Hà Nội: Bộ Tài chính.
Bộ Tài chính (2025). Quyết
định số 3389/QĐ-BTC ban hành ngày 06/10/2025 về việc phê duyệt Đề án chuyển đổi
phương pháp quản lý thuế đối với HKD khi xóa bỏ thuế khoán. Hà Nội: Bộ
tài chính.
Chính phủ. (2020). Nghị định 123/2020/NĐ-CP Nghị định quy định về hóa đơn, chứng từ
ban hành ngày 19/10/2020. Hà Nội: Chính phủ.
Chính phủ. (2025). Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ban hành ngày 20/03/2025 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế đối với HKD,
cá nhân kinh doanh. Hà Nội: Chính phủ.
Quốc hội (2019). Luật Quản
lý thuế số 38/2019/QH14 ban hành ngày 13/06/2019. Hà Nội: Quốc hội.
Quốc hội. (2024). Luật Thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ban hành ngày 26/11/2024.
Hà Nội: Quốc
hội.
Quốc hội. (2025). Luật Thuế Thu nhập DN số 67/2025/QH15 ban hành ngày 14/06/2025.
Hà Nội: Quốc
hội.
Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ban hành ngày 17/05/2025 Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển
kinh tế tư nhân. Hà Nội: Quốc hội.