Vận dụng kế toán quản trị các các công ty xây lắp

PGS.TS. Trần Văn Tùng* - CN. Tô Thị Dung* Thứ năm, 02/04/2026 10:45 (GMT+7)

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến vận dụng kế toán quản trị (KTQT) tại các công ty xây lắp (CTXL) khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) và Đông Nam Bộ (ĐNB).

Mẫu khảo sát gồm 178 cá nhân là đại diện lãnh đạo của các CTXL tại TP.HCM và ĐNB. Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng bằng việc sử dụng mô hình hồi quy đa biến để nghiên cứu đề tài. Kết quả cho thấy có 6 nhân tố gồm Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin; Quy mô công ty; Trình độ nhân viên kế toán; Chi phí cho việc tổ chức KTQT; Cam kết và hiểu biết của người điều hành DN và Sự phân quyền quản lý tác động cùng chiều đến vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP.HCM và ĐNB.

1. Giới thiệu

Ngành xây lắp được xác định là tiền đề phát triển quan trọng, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia. Khu vực TP.HCM và ĐNB là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với tốc độ tăng trưởng năng động, là nơi tập trung số lượng lớn các CTXL. Mặc dù thị trường bất động sản thương mại gặp nhiều khó khăn, ngành Xây dựng Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng nhờ vào đầu tư công. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm (VA) của ngành Xây dựng năm 2024 được ước tính đạt 7,87% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2020 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2024). Ngành Xây dựng đóng góp 0,57 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP chung năm 2024 (Tổng cục Thống kê, 2024), khẳng định vai trò then chốt trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường khó khăn hiện nay, các CTXL phải đối mặt với thách thức lớn về cấp phép dự án, giảm doanh thu và rủi ro dòng tiền. Để thích ứng và nâng cao hiệu quả điều hành, việc vận dụng KTQT - một công cụ hữu hiệu cho hoạch định, kiểm soát chi phí và ra quyết định - trở nên cấp thiết. Thực trạng cho thấy, việc vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP.HCM và ĐNB còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở các công ty lớn và chỉ áp dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống. Hầu hết các nhà quản trị chưa nhận diện đầy đủ các nhân tố tác động đến hiệu quả KTQT, dẫn đến việc triển khai gặp nhiều vướng mắc. Phát triển từ các nghiên cứu trước (ví dụ: Huỳnh Cao Khải, 2018; Đoàn Thị Hoài Giang, 2019), nghiên cứu này bổ sung và kiểm định các nhân tố mới như Sự phân quyền quản lý và Mức độ ứng dụng CNTT. Mục tiêu là nhằm nhận diện và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này lên khả năng vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP.HCM và ĐNB. Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà điều hành có giải pháp tối ưu hóa việc vận dụng KTQT, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

2. Cơ sở lý thuyết và khung nghiên cứu

2.1. Các khái niệm

KTQT

Kaplan và cộng sự (1998) đã định nghĩa, KTQT là một hệ thống cung cấp thông tin cho những người quản lý DN trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động. Theo trường phái KTQT của Pháp có giáo sư H.Bouquin Đại học Paris – Dauphin cho rằng, KTQT là hệ thống thông tin định lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao.

Vai trò của KTQT

KTQT là một bộ phận cấu thành hệ thống thông tin kế toán trong các DN, trong đó thông tin được thu thập, đánh giá, phân tích tình hình, hỗ trợ cho việc lập kế hoạch, ra quyết định kiểm soát, từ đó đưa ra các dự báo, dự toán giúp nhà quản trị xây dựng các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn (Ray H.Garrison, 1998).

Mô hình tổ chức KTQT

Theo Phạm Văn Dược và cộng sự (2011), việc tổ chức bộ máy KTQT trong các DN phải phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, phù hợp với mức độ phân cấp quản lý tài chính, phù hợp với quy mô đầu tư và địa bàn hoạt động. Từ các điều kiện cụ thể, các DN có thể tổ chức bộ máy KTQT theo một trong các mô hình sau:

-   Mô hình tách biệt: Theo mô hình này các chuyên gia KTQT độc lập với các chuyên gia KTTC. Mô hình này thường được vận dụng ở các DN có quy mô lớn, với tần suất số lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều, sản xuất kinh doanh đa ngành, nghề.

-   Mô hình kết hợp: Theo mô hình này các chuyên gia kế toán đảm nhiệm đồng thời hai nhiệm vụ gồm thu nhận và xử lý thông tin KTTC và KTQT. Mô hình này thường được vận dụng ở các DN có quy mô vừa và nhỏ, số lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh với tần suất ít. Mô hình này có ưu điểm là kết hợp chặt chẽ thông tin KTTC và KTQT, tiết kiệm được chi phí, thu nhận thông tin nhanh.

-   Mô hình hỗn hợp: Tổ chức bộ máy KTQT hỗn hợp là mô hình kết hợp giữa hai mô hình nêu trên. Mô hình này vừa có tính tách rồi lại vừa có tính kết hợp thông tin KTTC và KTQT một cách linh hoạt. Theo mô hình này, bộ phận thực hiện KTQT còn đảm nhiệm thêm phần hành chi phí và tính giá thành sản phẩm. Song, khó vận dụng mô hình này ở các DN có quy mô vừa và nhỏ vì tốn kém chi phí, đòi hỏi sự đầu tư tương đối lớn về tài chính và không đủ trình độ thực hiện.

2.2. Lý thuyết nền

Nghiên cứu này sử dụng Lý thuyết Dự phòng (Contingency Theory), Lý thuyết Ủy nhiệm (Agency Theory), Lý thuyết Hệ thống Thông tin (Information System Theory) và Lý thuyết Quan hệ Lợi ích – Chi phí (Cost-Benefit Relationship Theory) làm nền tảng để giải thích các nhân tố trong mô hình nghiên cứu.

Lý thuyết Dự phòng (Contingency Theory)

Khẳng định không có cơ cấu tổ chức hay hệ thống KTQT nào là cố định. Hiệu quả của KTQT phụ thuộc vào sự phù hợp với các yếu tố ngữ cảnh như quy mô DN, môi trường kinh doanh, chiến lược, công nghệ, và trình độ nhân viên (Otley, 1980). Lý thuyết này giải thích ảnh hưởng của các nhân tố như Quy mô công ty, Trình độ nhân viên và Ứng dụng CNTT lên việc vận dụng KTQT.

Lý thuyết Ủy nhiệm (Agency Theory)

Nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (chủ sở hữu) và bên được ủy nhiệm (nhà quản lý) (Jensen et al., 1976). Sự bất cân xứng thông tin và mâu thuẫn lợi ích đòi hỏi phải có cơ chế giám sát. KTQT đóng vai trò cung cấp thông tin cần thiết để kiểm soát và đánh giá thành quả, làm cơ sở lý thuyết cho sự cần thiết của Cam kết và hiểu biết của người điều hành cũng như Sự phân quyền quản lý.

Lý thuyết Hệ thống thông tin (Information System Theory)

Tập trung vào việc lựa chọn, xử lý dữ liệu và cung cấp thông tin ra quyết định hữu hiệu (Maduekwe, 2015). Lý thuyết này là cơ sở xác định tầm quan trọng của Nhu cầu thông tin KTQT và Ứng dụng CNTT trong mô hình nghiên cứu.

Lý thuyết Quan hệ Lợi ích – Chi phí (Cost-Benefit Relationship Theory)

Đề xuất rằng, mọi quyết định thực hiện dự án hay chính sách, bao gồm việc tổ chức hệ thống KTQT, phải đảm bảo lợi ích thu được không được vượt quá chi phí bỏ ra (Dasgupta và cộng sự, 1972). Lý thuyết này đặc biệt giải thích nhân tố Chi phí cho việc tổ chức KTQT, nhấn mạnh rằng hệ thống KTQT phải tương xứng với quy mô và lợi ích mong muốn của DN.

2.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu

KTQT là một chủ đề học thuật được quan tâm rộng rãi, có thể được tổng hợp thành ba hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu KTQT theo loại hình doanh nghiệp (DN), tình hình vận dụng các kỹ thuật KTQT và các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT. Các nghiên cứu quốc tế, như của Junjie Wu và Agyenim Boateng (2010) tại Trung Quốc, thường tiếp cận KTQT qua nhiều nội dung từ kế toán chi phí, đánh giá ngân sách, đến KTQT chiến lược. Các nghiên cứu này đã xác định các yếu tố liên quan đến trình độ và đặc điểm ngành là những nhân tố quan trọng tác động đến việc áp dụng KTQT. Các nghiên cứu trong nước Các công trình tại Việt Nam cũng đi theo hai hướng chính: (1) Nghiên cứu Thực trạng Vận dụng: Các nghiên cứu điển hình tập trung vào việc mô tả đặc điểm tổ chức sản xuất và ảnh hưởng của nó đến công tác KTQT; (2) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng: Hướng này tập trung phát hiện và kiểm định các nhân tố tác động. Ví dụ, nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vũ (2017) chỉ ra 5 nhân tố ảnh hưởng tại các DN niêm yết: Áp lực cạnh tranh, Chiến lược cạnh tranh, Ứng dụng tiến bộ công nghệ, Quy mô DN, và Năng lực của kế toán viên. Nghiên cứu của Trần Văn Tùng và cộng sự (2020) dựa trên các lý thuyết hành vi (DOI, TPB, TAM) để xác định 5 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến ý định áp dụng KTQT hiện đại, bao gồm Thái độ của nhà quản trị, Chuẩn mực chủ quan, và Đặc thù của DN.

Mặc dù các nghiên cứu trong nước đã chỉ ra nhiều nhân tố ảnh hưởng (như quy mô, trình độ nhân viên, cam kết quản lý), nhưng vẫn còn tồn tại các hạn chế: Mẫu nghiên cứu của một số công trình chưa đủ lớn hoặc chưa đại diện cho đối tượng nghiên cứu cụ thể; nhiều nhân tố khác có ảnh hưởng chưa được xem xét, đặc biệt là các nhân tố đặc thù của CTXL với quy trình sản xuất riêng biệt; các mô hình nghiên cứu trước chưa đề cập hoặc kiểm định các nhân tố như Sự phân quyền quản lý (Đoàn Ngọc Phi Anh, 2012) hay Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) một cách toàn diện.

2.4. Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu

2.4.1. Mô hình nghiên cứu

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm từ mô hình hồi quy đa biến và cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:

Hình 1: Mô hình nghiên cứu chính thức

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

2.4.2. Các giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1 (H1): Quy mô công ty có tác động cùng chiều đến vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP. HCM và ĐNB.

Giả thuyết 2 (H2): Chi phí tổ chức KTQT có tác động cùng chiều đến vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP. HCM và ĐNB.

Giả thuyết 3 (H3): Cam kết và hiểu biết của người điều hành DN có tác động cùng chiều đến vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP. HCM và ĐNB.

Giả thuyết 4 (H4): Sự phân quyền quản lý có tác động cùng chiều đến vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP. HCM và ĐNB.

Giả thuyết 5 (H5): Trình độ nhân viên kế toán có tác động cùng chiều đến vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP. HCM và ĐNB.

Giả thuyết 6 (H6): Mức độ ứng dụng CNTT có tác động cùng chiều đến vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP. HCM và ĐNB.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Thiết kết nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (Mixed-Methods), bao gồm:

Giai đoạn Định tính: Tham vấn chuyên gia (các giảng viên có kinh nghiệm giảng dạy về kế toán; các kế toán trưởng, các nhà quản lý DN) để điều chỉnh thang đo, bổ sung các biến quan sát phù hợp với bối cảnh đặc thù của khu vực TP.HCM và ĐNBvà xác nhận mô hình nghiên cứu.

Giai đoạn Định lượng: Sử dụng khảo sát trực tuyến/trực tiếp với mẫu nghiên cứu là đại diện các nhà quản lý (giám đốc tài chính, các kế toán trưởng) của các CTXL tại khu vực TP.HCM và ĐNB để thu thập dữ liệu sơ cấp.

3.2. Mẫu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

Theo quan điểm của Bollen (1989) cho rằng kích thước mẫu tối thiểu là 5 quan sát cho một câu hỏi cần ước lượng của các biến trong mô hình nghiên cứu. Theo đó, nghiên cứu này có 31 câu hỏi, vì vậy kích thước mẫu tối thiểu là 31x5 = 155. Để đạt được tối thiểu 155 quan sát, tác giả đã gửi 200 bảng câu hỏi từ tháng 7/2025 đến tháng 9/2025 cho đối tượng khảo sát để thu thập dữ liệu sơ cấp phục vụ nghiên cứu đề tài. Kết quả thu về 189 phiếu, trong đó 11 phiếu bị loại do không hợp lệ (chủ yếu là do thiếu thông tin). Do đó số lượng quan sát đưa vào phân tích là 178 phiếu thỏa yêu cầu kích thước mẫu tối thiểu cho nghiên cứu. Dữ liệu phục vụ nghiên cứu là dữ liệu sơ cấp, thu thập qua bảng hỏi thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ qua công cụ Google Form.

3.3. Kỹ thuật phân tích Dữ liệu

Dữ liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0 với các bước sau: (1) Kiểm định độ tin cậy của thang đoqua việc sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá sự nhất quán nội tại của các biến quan sát; (2) Phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác nhận cấu trúc các biến độc lập và phụ thuộc; (3) Phân tích hồi quy đa biến thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để kiểm định các giả thuyết H1 đến H6 và đo lường mức độ tác động của 6 biến độc lập đến vận dụng KTQT cho các công ty.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha

Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thang đo được thể hiện tại Bảng 2, cho thấy các thang đo này đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0.6 và hệ số tương quan biến tổng > 0.3. Kết quả kiểm định cho thấy, từ tập hợp 28 biến quan sát xây dựng được đã có 2 biến quan sát bị loại (NV5, QT5) và còn 26 biến quan sát đạt độ tin cậy giữ lại để tiếp tục phân tích nhân tố khan phá EFA.

Bảng 1: Kết quả kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha các thang đo

Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 26.0.

4.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA

Kết quả phân tích EFA thang đo các nhân tố là biến độc lập

Kết quả phân tích cho thấy hệ số KMO = 0.810 > 0.5, kiểm định Batlett có p-value bằng 0.000 < 0.05, phương sai trích bằng 82.144% > 50%, các hệ số factor loading đều > 0.5, các biến quan sát hình thành 6 nhân tố. Như vậy, các tiêu chuẩn khi sử dụng phân tích khám phá nhân tố đều phù hợp với tập dữ liệu nghiên cứu.

Kết quả phân tích EFA thang đo của nhân tố là biến phụ thuộc

Kết quả phân tích EFA cho thấy hệ số KMO = 0.877 > 0.5, kiềm định Bartlett có p-value bằng 0.000 < 0.05, phương sai trích bằng 75.123% > 50%, các biến quan sát chỉ hình thành duy nhất một nhân tố. Như vậy, sử dụng phân tích EFA là phù hợp và thang đo biến phụ thuộc (Vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP.HCM và Đôn Nam Bộ) chỉ là thang đo đơn hướng.

Như vậy, sau khi tiến hành phân tích khám phá nhân tố từ tập hợp 26 biến quan sát của 5 biến độ lập và 5 biến quan sát của 1 biến phụ thuộc đều được giữ lại để tiếp tục phân tích hồi quay. Vì vậy, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu vẫn được giữ nguyên như mô hình ban đầu.

4.3. Kết quả phân tích hồi quy

Từ kết quả của bảng 2 ta thấy, có 6 nhân tố tố có ý nghĩa về mặt thống kê. Các nhân tố bao gồm: Mức độ ứng dụng CNTT; Quy mô công ty; Trình độ nhân viên kế toán; Chi phí cho việc tổ chức KTQT; Cam kết và hiểu biết của người điều hành DN và Sự phân quyền quản lý. Vì vậy, phương trình hồi quy được xác định.

Bảng 2: Kết quả phân tích hồi quy

Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS 26.0

5. Kết luận và hàm ý quản trị

5.1. Kết luận và đóng góp lý thuyết

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng KTQT tại các CTXL khu vực TP.HCM và ĐNB. Kết quả phân tích hồi quy đa biến từ mẫu khảo sát 178 cá nhân đã xác nhận sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, với các biến độc lập giải thích được 84,1% sự biến thiên của biến phụ thuộc. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có 6 nhân tố tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến việc vận dụng KTQT tại các CTXL. Theo thứ tự ảnh hưởng giảm dần, các nhân tố đó là: Quy mô công ty (QM), Mức độ ứng dụng CNTT (CN), Trình độ nhân viên kế toán (NV), Chi phí cho việc tổ chức KTQT (CP), Cam kết và hiểu biết của người điều hành DN (CK), và Sự phân quyền quản lý (PQ). Trong đó, Quy mô công ty là nhân tố có tác động mạnh nhất.

Đề tài đã bổ sung đáng kể vào lý thuyết KTQT trong bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực xây lắp. Thứ nhất, nghiên cứu đã kiểm định thành công và mở rộng ứng dụng của Lý thuyết Dự phòng và Lý thuyết Ủy nhiệm bằng cách đưa vào mô hình hai nhân tố mới là Sự phân quyền quản lý và Mức độ ứng dụng CNTT (bổ sung từ Lý thuyết Hệ thống Thông tin), vốn chưa được kiểm định đầy đủ trong các nghiên cứu trước tại CTXL Việt Nam. Thứ hai, kết quả đã lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ về thứ tự ưu tiên các yếu tố tác động, làm giàu thêm cơ sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo về KTQT trong ngành công nghiệp đặc thù này.

5.2. Hàm ý quản trị

Đối với quy mô công ty: Đối với các công ty nhỏ, cần nhanh chóng chuẩn hóa và thiết lập các quy trình KTQT tối giản, phù hợp với sự mở rộng về mặt quy mô, tránh tình trạng bị động khi công ty tăng trưởng. Đối với công ty lớn, cần đầu tư vào hệ thống tích hợp và đảm bảo các quy trình KTQT được thực hiện đồng bộ giữa các dự án/đơn vị thành viên.

Đối với mức độ ứng dụng CNTT: các CTXL cần ưu tiên đầu tư vào các hệ thống ERP hoặc phần mềm quản lý dự án chuyên biệt cho ngành xây dựng. Mục tiêu là tự động hóa việc thu thập dữ liệu chi phí tại công trường, lập dự toán, và phân tích độ lệch ngân sách, từ đó cung cấp thông tin quản trị kịp thời và chính xác.

Đối với trình độ nhân viên kế toán: Các công ty cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên đề về KTQT hiện đại trong ngành xây lắp (ví dụ: KTQT chi phí dựa trên hoạt động ABC, lập ngân sách linh hoạt, phân tích lợi nhuận dự án). Ưu tiên tuyển dụng nhân sự không chỉ giỏi về kế toán tài chính mà còn có kiến thức về quản lý dự án và kỹ thuật xây dựng.

Đối với chi phí tổ chức KTQT: Nhà quản trị cần thay đổi nhận thức, xem chi phí cho việc thiết lập và vận hành hệ thống KTQT là một khoản đầu tư mang lại lợi ích lớn hơn (kiểm soát chi phí hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh). Cần thực hiện phân tích Lợi ích – Chi phí cẩn thận trước khi triển khai để đảm bảo tính khả thi tài chính.

Đối với cam kết và hiểu biết của người điều hành DN: Tổ chức các buổi hội thảo hoặc khóa học ngắn hạn dành riêng cho ban lãnh đạo về tầm quan trọng của KTQT trong việc ra quyết định chiến lược (như định giá thầu, lựa chọn phân khúc thị trường). Sự cam kết từ cấp cao là động lực quan trọng nhất thúc đẩy việc vận dụng KTQT.

Đối với sự phân quyền quản lý: Xây dựng cơ cấu tổ chức phân quyền quản lý cho các Quản lý dự án (Project Manager). Khi quyền ra quyết định được phân bổ, nhu cầu về thông tin KTQT (như báo cáo hiệu suất, kiểm soát ngân sách) tại cấp dự án sẽ tăng lên, từ đó thúc đẩy toàn bộ hệ thống KTQT hoạt động hiệu quả hơn.

5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên địa bàn TP.HCM và ĐNB. Mặc dù đây là khu vực kinh tế trọng điểm, kết quả có thể chưa đại diện cho các CTXL hoạt động ở các vùng miền khác của Việt Nam (như miền Bắc hay miền Trung), nơi có điều kiện kinh tế, văn hóa và mức độ cạnh tranh khác biệt. Mặc dù mẫu khảo sát 182 quan sát đủ để chạy mô hình hồi quy đa biến, việc mở rộng quy mô mẫu sẽ giúp tăng tính đại diện và khả năng khái quát hóa của kết quả nghiên cứu. Mặt khác, đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát và mô hình hồi quy. Việc này có thể chưa khai thác sâu được các vấn đề định tính phức tạp, đặc thù trong quá trình vận dụng KTQT tại các công trường và dự án xây lắp. Ngoài ra, mô hình chưa đưa vào một số nhân tố tiềm năng khác, ví dụ như Văn hóa doanh nghiệp, Chiến lược cạnh tranh, hay Đặc điểm dự án.

Để khắc phục các hạn chế trên và tiếp tục phát triển nghiên cứu về KTQT trong ngành xây lắp, các hướng nghiên cứu sau được đề xuất:

Thực hiện nghiên cứu so sánh về các nhân tố ảnh hưởng tại các khu vực kinh tế khác (ví dụ: Hà Nội và Đồng bằng Sông Hồng) hoặc so sánh giữa các loại hình công ty xây lắp (nhà thầu chính vs. nhà thầu phụ; xây dựng dân dụng vs. xây dựng công nghiệp).

Kết hợp phương pháp định lượng và nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu) với các nhà quản lý và kế toán trưởng. Điều này giúp khám phá các rào cản hành vi và văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến việc áp dụng các kỹ thuật KTQT hiện đại.