Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn lực kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và bắt kịp Cuộc Cách mạng Công nghiệp (CMCN) 4.0 đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu là một vấn đề cấp bách
Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
lực kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và bắt kịp Cuộc Cách mạng Công nghiệp (CMCN) 4.0 đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu là một
vấn đề cấp bách. Kế toán đóng
vai trò quan trọng trong lĩnh vực kinh tế quốc gia, là bộ phận không thể thiếu
trong việc quản lý tài chính, kiểm soát chi phí và cung cấp thông tin phục vụ
cho việc ra quyết định. Đây là ngành nghề đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng
cao, có trình độ chuyên môn vững vàng, khả năng thích ứng với công nghệ và
chuẩn mực kế toán hiện đại. Đặc biệt, tại các khu vực tập trung nhiều khu công
nghiệp lớn ở nước ta, nhu cầu về đội ngũ kế toán chuyên nghiệp, am hiểu thực
tiễn sản xuất – kinh doanh và pháp luật ngày càng gia tăng. Bài viết đề cập đến
thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn lực kế toán
trong thời đại mới tại Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và đưa ra ý
kiến cá nhân góp phần phát triển ngành kế toán, cũng như làm tiền đề cho các
nghiên cứu khoa học trong tương lai.
1.Đặt vấn đề
Theo Vũ Thị Thê (2019) việc làm trong lĩnh vực kế toán đã được thảo luận sôi nổi tại nhiều diễn
đàn vã được nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế đề cập. Điển hình
như Tạp chí INTHEBLACK-CPA Australia (2018) đăng bài viết “Blockchain có đe
dọa nghề kế toán?”, trong bài viết có đưa ra phân tích
mối quan tâm to lớn hiện nay của các kế toán viên trên thế giới về vấn đề nghề nghiệp của mình có bị đe dọa trong bối
cảnh CMCN 4.0. Bài viết này cho rằng, tất cả các kế toán viên sẽ phải đối
mặt với nhiều công nghệ số, ngay cả tại các Doanh nghiệp tuyển dụng. Tại Đại
hội Kế toán Thế giới 2018 diễn ra tại Australia từ ngày 5-8/11/2018, hàng
loạt câu hỏi được đặt ra để các đại biểu thảo luận, như: CMCN 4.0 sẽ có
những tác động như thế nào đến nghề kế toán? Nhân viên kế toán dành phần lớn
thời gian làm các nghiệp vụ tuân thủ, vậy khi các công việc này không còn nữa
thì họ sẽ làm gì? Nếu trí tuệ nhân tạo (AI) được ứng dụng mạnh mẽ thì vai
trò của kế toán viên sẽ ra sao?,... Qua phân tích nội dung, các ý kiến trên đều
cho rằng công nghệ thông tin có tác động và ảnh hưởng đến lĩnh vực kế toán và
việc làm kế toán, nhưng yếu tố con người vẫn đóng vai trò quan trọng nhất,
quyết định đến hiệu quả và chất lượng công việc.
Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê của Hội Kiểm toán
viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đến 2020: Việt Nam mới có khoảng 1.000 hội viên
ACCA, trong khi đó, con số này trên toàn cầu là 170.000 hội viên. Điều đó cho
thấy nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán của Việt
Nam vẫn còn khá khiêm tốn. Kết quả khảo sát của VACPA với các sinh viên tốt
nghiệp các trường đại học lớn chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán cho thấy: có tới
2/3 sinh viên tốt nghiệp phải qua đào tạo, hướng dẫn lại. Gần 100% sinh viên
được khảo sát tự nhận thấy không thể đáp ứng ngay những yêu cầu của các doanh
nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do
sinh viên còn yếu kém về ngoại ngữ.
Như vậy, với xu thế phát triển không ngừng và đòi hỏi
tính chất chuyên nghiệp ngày càng cao cho thấy tính cấp thiết của việc nâng cao
chất lượng nguồn lực ngành kế toán để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng như hiện nay,
yêu cầu đặt ra cần phải có được nguồn nhân lực thạo việc sau khi ra trường hay
nâng cao nguồn lực hiện có tại các đơn vị là một vấn đề rất được sự quan tâm
của quốc gia.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1.
Kế toán là gì?
Theo Luật
Kế toán năm 2015, số 88/2015/QH13 thì Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Là
quá trình thực hiện công việc ghi chép số liệu, thu thập thông tin chứng từ,
phân tích và xử lý thông tin tài chính, các hoạt động liên quan đến dòng tiền
và tài sản của DN, của nội bộ công ty. Kế toán viên là người sẽ gắn liền công
việc của mình với những con số, giấy tờ, sổ sách. Vì vậy, công việc này đòi hỏi
sự tỉ mỉ, cẩn thận và tập trung cao. Kế toán là bộ phận có vai trò vô cùng quan
trọng trong công ty DN, từ phạm vi quản lý kinh tế trong từng đơn vị, cơ quan, DN
đến phạm vi lớn hơn và bao quát hơn như toàn bộ nền kinh tế.
Tùy theo mỗi cơ cấu tổ chức cũng như lĩnh vực hoạt
động của DN mà bộ phận kế toán được phân chia thành các thành phần khác nhau,
như kế toán tổng hợp, kế toán quản trị, kế toán kho, kế toán thuế, kế toán công
nợ,...
2.2.Nhu cầu tuyển dụng
Trong bài nghiên cứu của TS.
Trần Khánh Lâm - Tổng thư ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam có
đề cập đến nghiên cứu
Collins, C. J., & Han, J. (2014) cho rằng, các chiến lược tuyển dụng sớm có
tác động tích cực đến số lượng và chất lượng của nguồn ứng viên, trong khi
quảng cáo DN chỉ có tác động tích cực đến số lượng và danh tiếng DN chỉ có tác động tích cực đến chất lượng của
nguồn ứng viên.
Nghiên cứu của Deloitte (2017) chỉ ra rằng, tuyển dụng
và phát triển nhân sự là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của DN. Theo
nghiên cứu này, 84% DN tin rằng tuyển dụng và phát triển nhân sự là một trong
những yếu tố chủ chốt giúp DN thành công, đây là hai yếu tố không thể thiếu đối
với sự phát triển của DN. Chúng giúp đảm bảo DN có đủ nhân sự tài năng và đủ kỹ
năng để đáp ứng các thách thức của thị trường và phát triển trong tương
lai. Một số nghiên cứu của các tác giả, như Ryan và Tippins (2004) cho rằng chiến
lược tuyển dụng sớm có thể giúp cho DN thu hút được lượng ứng viên nhiều hơn,
đa dạng hơn so với DN tuyển dụng chậm.
Ngày 14/12/2017, Bộ Tài chính và World Bank đã công bố
báo cáo “Đánh giá sự tuân thủ các chuẩn mực và quy tắc (ROSC) trong lĩnh vực kế
toán và kiểm toán”. Báo cáo được thực hiện nhằm tăng cường việc tuân thủ các
chuẩn mực, các quy tắc quốc tế, các tiêu chuẩn và thông lệ kế toán, kiểm toán
cũng như củng cố hệ thống báo cáo tài chính cho doanh nghiệp. Theo Báo cáo đánh giá lĩnh vực kế toán,
kiểm toán của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam trung bình có 55.000 sinh
viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học chuyên ngành kế toán, kiểm toán tham gia vào
thị trường lao động. Tuy nhiên, để đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường
là vấn đề đáng quan tâm.
3.Thực trạng về chất lượng đào tạo nguồn lực
ngành kế toán tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Viện Khoa học, lao động và xã hội,
lao động Việt Nam đã qua đào tạo mặc dù được đánh giá là nhanh nhẹn, sáng tạo
và có thể đáp ứng được nhu cầu nhưng lại thiếu và yếu kỹ năng mềm, đặc biệt
là tư duy phản biện, sáng tạo, tuân thủ công nghệ chưa cao,... từ đó làm giảm
sức cạnh tranh trên thị trường lao động, việc làm.
Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm
2024, Việt Nam có 128 trường đại học đào tạo chuyên ngành kế toán, với khoảng
hơn 92.000 sinh viên là nguồn nhân lực chính trong lĩnh vực kế toán trong thời
đại công nghệ số. Sự phát triển CMCN 4.0 nói chung và công nghệ blockchain
nói riêng làm thay đổi ngành kế toán, tạo ra những công việc mới hoặc nghiệp
vụ mới. Những kiến thức lý thuyết được đào tạo trong trường đại học hay những
thực tiễn hành nghề chưa chắc đã đảm bảo được cho kế toán viên. Do vậy, kế toán
viên không chỉ nắm rõ lý thuyết, thành thạo thực hành và am hiểu công nghệ mà
còn phải nắm bắt được các xu thế, hình dung được các quy trình kế toán mới
trong quá trình làm việc.
Theo TS. Lương Thị Thủy (2018), nhìn vào thực trạng
đào tạo ngành kế toán hiện nay có thể đánh giá nội dung môn học vẫn còn nặng về
lý thuyết thuần túy. Mặc dù, trong mấy năm gần đây nhiều trường đại học và học
viện đã có những đổi mới tích cực trong phương pháp giảng dạy theo hướng giảm
giờ lý thuyết, tăng giờ thực hành và giờ tự học của sinh viên. Tuy nhiên, hiệu
quả của việc này còn quá thấp, vì cơ sở vật chất và kinh phí của các trường
thường quá thiếu. Mặt khác, sự phối hợp với các DN, để sinh viên đi thực tập
tốt nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, thời gian thực tập ít, thậm chí chỉ là hình
thức” (GS.TS. Ngô Thế Chi - Giám đốc Học viện Tài chính). “Các trường bắt buộc
phải tuân thủ chương trình khung của Bộ, trong đó các môn học bắt buộc thuộc
phần giáo dục đại cương còn chiếm khối lượng khá lớn, khiến cho việc giảm tải
chương trình gặp nhiều khó khăn. Phương pháp giảng dạy vẫn thầy đọc trò chép và
làm bài tập được thay bằng công thức “thầy giảng, trò nghe và làm bài tập”.
Cách làm này tưởng chừng như đã đổi mới phương pháp dạy học nhưng không đảm bảo
kiểm soát tất cả người học phải làm việc và không đảm bảo nâng cao kiến thức
cho người học ở trình độ cao, người học chỉ học được những gì thầy dạy” (TS.
Nguyễn Khắc Hùng, Trường ĐH Sài Gòn).
Từ thực trạng trên cho thấy, công tác đào tạo tại các
cơ sở giáo dục đại học nói chung và chuyên ngành kế toán nói riêng vẫn chủ yếu
theo định hướng truyền thống; chương trình đào tạo chưa hoặc chưa hoàn toàn gắn
kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, còn nặng về lý thuyết và
chưa chú trọng đúng mức đến kỹ năng thực hành. Nhiều trường đại học chưa xây
dựng hoặc chưa triển khai hiệu quả các mô hình kế toán mô phỏng; các học phần
thực hành ứng dụng chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến sinh viên gặp khó khăn trong
việc tiếp cận và thích ứng với công việc kế toán sau khi tốt nghiệp. Bên cạnh
đó, nguồn lực giảng viên còn những hạn chế nhất định về kinh nghiệm thực tiễn
và năng lực cập nhật yêu cầu mới của thị trường lao động; mặc dù một số trường
mời các chuyên viên kế toán giàu kinh nghiệm hoặc kế toán trưởng doanh nghiệp
tham gia giảng dạy, song phương pháp truyền đạt chưa thực sự giúp sinh viên
hiểu sâu, hình dung rõ và vận dụng hiệu quả kiến thức vào bối cảnh hoạt động
thực tế của doanh nghiệp.
4.
Kết
quả nghiên cứu cần thiết nâng cao chất lượng nguồn lực kế toán
Thông qua
việc thống kê số liệu số lao động có việc làm trong một số ngành nghề kinh tế qua
các năm 2020 đến 2023, cho thấy nhu cầu tuyển dụng ngày cang cao nhưng số lao
động có việc làm lại giảm dần, tuy không nhiều nhưng cho thấy nhu cầu về việc làm
đòi hỏi cao hỏi về năng lực, công nghệ số và AI càng phát triên dẫn đến số lao
động liên quan ngành thông tin truyền thông tăng nhẹ đặc biệt trong năm 2022,
trong đó kế toán đa số tập trung rải rác các ngành nghề tài chính, dịch vụ khác
thì số lao động có việc thấp hơn so với nông nghiệp và truyền thông. Như vậy, cho
thấy khi xã hội phát triển theo xu hướng hiện đại hóa, số hóa, đòi hỏi chất
lượng trong chuyên môn lẫn công nghệ thông tin tiếp cận xu thế đồng nghĩa số
lượng người làm kế toán cũng phải đạt chất lượng cao mới có thể đáp ứng nhu cầu
xã hội số hóa và phát triển như hiện nay. Do đó, nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn lực kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và bắt kịp Cuộc Cách mạng
Công nghiệp (CMCN) 4.0 là thực sự cần
thiết.
(Cục Thống kê quốc gia)
(Cục Thống kê quốc gia)
TS.
Trần Khánh Lâm cũng có một bài nghiên cứu khảo sát về nhu cầu tuyển dụng nhân
lực kế toán, kiểm toán của các DN kiểm toán hiện nay. Ông đã gửi khảo sát đến
148 DNKT trên cả nước Kết quả cho thấy, tuyển dụng và phát triển nhân sự là một
trong những yếu tố quan trọng nhất đối với sự phát triển và các DNKT ưu tiên
tuyển dụng từ các trường đại học tại Hà Nội và Hồ Chí Minh.
Tác
giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả các số liệu và thông qua phân tích thực
trạng và kế thừa từ các nghiên cứu khác cũng như căn cứ vào dữ liệu quốc gia về
nhu cầu, số lượng lao động đồng thời tác giả sử dụng phương pháp phân tích,
tổng hợp số liệu nội dung có liên quan cho thấy sự cần thiết phải nâng cao chất
lượng nguồn lực kế toán trong thời đại
công nghệ số. Bên cạnh đó, đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn
lực kế toán ở Việt Nam.
5. Một
số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực kế toán ở Việt Nam
Thứ nhất,việc đầu tiên cần cải thiện chính là đào tạo
người làm kế toán sinh viên, học viên tập trung tại các cơ sở ngành và các
trường cao đẳng, đại học
Thực trạng đào tạo ngành kế toán hiện nay
cho thấy, nội dung các học phần vẫn chủ yếu thiên về lý thuyết hàn lâm; hoạt động
thực hành tuy đã được lồng ghép thông qua một số học phần thực tập, thực tế
mang tính ứng dụng nghề nghiệp, song hiệu quả còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu
xuất phát từ những ràng buộc về cơ sở vật chất, kinh phí đào tạo, cũng như điều
kiện tổ chức thực hành tại các cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó, sự phối hợp và liên
kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong việc bố trí cho sinh viên thực tập tại
các phần hành kế toán còn gặp nhiều khó khăn, do chưa đồng bộ về thời gian, sự
e ngại từ phía doanh nghiệp, cũng như năng lực và thái độ học tập của một bộ phận
sinh viên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong thời gian thực tập. Trong bối
cảnh đó, các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã và đang từng bước
điều chỉnh đề cương, đổi mới chương trình đào tạo và triển khai các hoạt động
kiểm định chất lượng theo chuẩn quốc tế nhằm bắt kịp xu thế hội nhập. Tuy
nhiên, quá trình đổi mới này cũng làm gia tăng khối lượng công việc, đặt ra nhiều
nhiệm vụ song song trong cùng một thời điểm, từ đó hạn chế khả năng nghiên cứu
chuyên sâu và sự tập trung phát triển chuyên ngành. Do vậy, việc thay đổi định
hướng và triển khai cải cách cần được xây dựng trên cơ sở kế hoạch khoa học, thực
hiện theo lộ trình phù hợp, tránh nóng vội, vượt cấp hoặc bỏ qua các bước cần
thiết. Để xây dựng được chương trình đào tạo kế toán chuẩn hóa, phù hợp và đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội, yếu tố then chốt là đội ngũ giảng viên
nòng cốt có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, am hiểu sâu sắc học phần
giảng dạy và có năng lực thích ứng với yêu cầu đổi mới. Đồng thời, chương trình
đào tạo cần được thiết kế hợp lý về cấu trúc học phần, số lượng môn học theo học
kỳ, mối quan hệ giữa các môn tiên quyết và cơ sở, nhằm tạo điều kiện cho sinh
viên tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, hiệu quả và có tính hệ thống. Trên
cơ sở đó, nhà trường cần thường xuyên lắng nghe ý kiến của giảng viên, người học
và doanh nghiệp để xây dựng các phương án triển khai phù hợp, góp phần đào tạo
đội ngũ kế toán chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội
trong tương lai
Hai là, căn cứ vào thực tế nhu cầu công việc và nhu
cầu tuyển dụng
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ
nhân tạo (AI) và công nghệ số đã tác động sâu rộng đến hoạt động quản trị và kế
toán trong doanh nghiệp, trong đó phần lớn các doanh nghiệp đã và đang ứng dụng
các phần mềm kế toán và hệ thống quản lý thông minh. Mặc dù kế toán thường được
xem là lĩnh vực mang tính truyền thống và chậm đổi mới về công nghệ, song trước
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp buộc phải từng bước chuyển đổi
số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững.
Đồng thời, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và lợi ích kinh doanh, nhiều doanh
nghiệp đặt ra yêu cầu cao đối với nguồn nhân lực kế toán, không chỉ về kinh
nghiệm làm việc thực tế mà còn về năng lực ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng
Trung, tiếng Nhật,… nhằm đáp ứng yêu cầu giao dịch, hợp tác và báo cáo trong
môi trường kinh doanh toàn cầu.
Trong khi đó, sinh viên ngành kế toán hiện
nay vẫn còn những hạn chế nhất định về kỹ năng nghề nghiệp, tác phong và thái độ
làm việc thực tế tại doanh nghiệp, đặc biệt là các kỹ năng mang tính thực hành
và khả năng thích ứng với môi trường công việc chuyên nghiệp. Do đó, giải pháp
đặt ra là cần tăng cường tích hợp đào tạo kỹ năng làm việc độc lập và làm việc
nhóm thông qua các bài tập cá nhân và nhóm, được giảng viên đánh giá một cách
khách quan, khoa học và phù hợp. Bên cạnh đó, các học phần thực hành cần được
thiết kế theo hướng mô phỏng môi trường làm việc thực tế, chú trọng giáo dục
thái độ nghề nghiệp tích cực, đồng thời làm rõ trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền lợi
của người làm kế toán trong tương lai, qua đó giúp sinh viên hình thành nhận thức
sớm và chủ động thích nghi với lộ trình chuyển tiếp từ môi trường học tập sang
môi trường doanh nghiệp.
Ba là, bất cứ vấn đề gì muốn có hiệu quả tốt phải thực
hiện song song giữa trách nhiệm đi đôi với quyền lợi
Doanh nghiệp cần phải cho chính sách hậu đãi, tạo điều
kiện cho người làm kế toán có thể an tâm cống hiến hay gắn bó lâu dài thì vấn
đề cốt lõi doanh nghiệp cần chú trọng đến quyền lợi người lao động.
Đối với sinh viên mới tốt nghiệp: Doanh nghiệp cần tạo điều kiện để sinh viên sau khi
ra trường được tiếp cận sớm với môi trường làm việc thực tế, tham gia vào các
hoạt động thực hành đúng với yêu cầu và tính chất công việc của doanh nghiệp.
Đồng thời, doanh nghiệp cần thường xuyên hướng dẫn, trao đổi và cập nhật kịp
thời cho người lao động các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực tài chính
– kế toán, thuế, cũng như việc sử dụng các công cụ và phần mềm kế toán hiện
đại. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và trí tuệ nhân
tạo cần được triển khai song song với việc tạo điều kiện để người lao động học
tập, nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp.
Đối với đội ngũ kế toán có kinh nghiệm đang làm việc
tại doanh nghiệp: Doanh nghiệp cần
chú trọng tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, cải thiện đời sống vật
chất và xây dựng môi trường làm việc thân thiện, chủ động và chuyên nghiệp. Khi
người lao động có tinh thần làm việc tích cực và sự ổn định về thu nhập, họ sẽ phát
huy tối đa năng lực, trách nhiệm và sự sáng tạo trong công việc. Bên cạnh đó,
doanh nghiệp cần có cơ chế khen thưởng, đề bạt, nâng lương, nâng ngạch và bổ
nhiệm chức vụ minh bạch, công bằng; đồng thời hạn chế tình trạng quản lý mang
tính quan liêu, cục bộ, tránh tạo áp lực tâm lý tiêu cực cho người lao động, từ
đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
Đối với Nhà nước: Việt Nam cần thường xuyên quan tâm và có các chính
sách hỗ trợ thiết thực đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Sự hỗ trợ này nên tập trung vào khía cạnh tài chính thông qua các chính
sách ưu đãi phù hợp, đồng thời chủ động nghiên cứu, học hỏi và vận dụng có chọn
lọc kinh nghiệm, chính sách tiên tiến của các quốc gia khác nhằm bảo đảm phát
triển doanh nghiệp đúng với định hướng đã đề ra. Bên cạnh đó, đối với những
doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động hoặc thực hiện chưa đầy đủ các chế độ,
quyền lợi đối với người lao động, Nhà nước cần áp dụng các biện pháp xử phạt
nghiêm minh để răn đe, đồng thời buộc doanh nghiệp điều chỉnh và hoàn thiện lại
bộ máy hoạt động. Để thực hiện hiệu quả mục tiêu này, Nhà nước cần xây dựng các
kênh quản lý và cơ chế giám sát phù hợp nhằm tiếp nhận và lắng nghe ý kiến phản
hồi từ người lao động. Trong đó, đội ngũ kế toán giữ vai trò đặc biệt quan
trọng trong bộ máy quản lý doanh nghiệp; nếu công tác kế toán không được tổ
chức và vận hành hiệu quả thì doanh nghiệp khó có thể đạt được hiệu quả hoạt
động tối ưu.
6.Kết
luận
Trong Cuộc CMCN 4.0, mỗi cá nhân hoạt động trong lĩnh
vực kế toán – kiểm toán nói chung và sinh viên kế toán tại các cơ sở đào tạo trên
cả nước nói riêng cần ý thức được tầm quan trọng của công nghệ để có định
hướng, ứng dụng nó vào việc học việc làm cho phù hợp xu thế, tiết kiệm thời
gian và gia tăng hiệu quả công việc. Công tác đào tạo nguồn nhân lực kế toán,
kiểm toán hiện nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường lao động, do
đó cần được nghiên cứu và đổi mới theo hướng cải tiến phương pháp giảng dạy,
tăng cường ứng dụng công nghệ nhằm phù hợp với xu thế phát triển và nhu cầu của
nhà tuyển dụng cũng như xã hội. Các trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo
đóng vai trò là nguồn cung ứng nhân lực trực tiếp cho các doanh nghiệp trên địa
bàn và các khu vực thành thị lân cận.
Điều này không chỉ là vấn đề phát triển kinh tế của tỉnh nhà, thành phố và quốc
gia, mà còn là ý thức được rèn dũa đối với sinh viên, học viên chuyên ngành kế
toán từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Ý thức tốt và thái độ tích cực của
mỗi cá nhân, tổ chức, cộng động sẽ giúp nước nhà phát triền vươn xa ra tầm thế
giới.
Bài viết phân tích kinh nghiệm quản lý nhà nước trong phát triển doanh nghiệp của Nhật Bản và Trung Quốc. Nhật Bản chú trọng chiến lược công nghiệp dài hạn (Society 5.0), pháp luật minh bạch, khuyến khích R&D và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trung Quốc nổi bật với các quy hoạch tập trung (Made in China 2025, “dual circulation”), phát triển đặc khu kinh tế, khuyến khích quốc tế hóa và áp dụng giám sát qua SASAC, hệ thống tín nhiệm xã hội. Bài học cho Việt Nam là kết hợp định hướng chiến lược vớ
Bài viết phân tích thực trạng vận dụng bốn kỹ thuật Kế toán quản trị chiến lược (SMA) – Kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC), chi phí mục tiêu, chi phí vòng đời sản phẩm và thẻ điểm cân bằng (BSC) tại hai công ty niêm yết thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV). Đây là nghiên cứu cần thiết trong bối cảnh ngành khai khoáng chịu áp lực từ biến động giá năng lượng, cam kết phát thải ròng bằng “0” và yêu cầu nâng cao năng lực quản trị chiến lược. Bằng phương pháp nghiên cứu t
Bài báo này phân tích Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 15 (IFRS 15) – Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng dưới góc nhìn lý thuyết và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.