Thu thêm "Phụ phí năng lượng", doanh nghiệp phải tính thuế GTGT như thế nào?
Theo Bộ tài chính
Thứ tư, 03/06/2026 11:15 (GMT+7)
Do chi phí nhiên liệu biến động, nhiều doanh nghiệp phát sinh khoản "phụ phí năng lượng" thu thêm ngoài giá bán hàng hóa và băn khoăn về cách thể hiện trên hóa đơn cũng như thuế GTGT áp dụng.
Chị K hỏi:
Đơn vị chúng tôi là doanh nghiệp thương mại máy móc, thiết bị công nghiệp (không kinh doanh xăng dầu, điện, dịch vụ vận chuyển,...). Do biến động giá nhiên liệu, chúng tôi đã thỏa thuận và khách hàng đồng ý hỗ trợ thêm khoản "Phụ phí năng lượng" ngoài giá trị hàng hóa chính. Khách hàng yêu cầu phải thể hiện khoản phí này thành một dòng riêng trên hóa đơn.
Xin hướng dẫn: Công ty không có chức năng kinh doanh năng lượng thì có được phép xuất hóa đơn ghi dòng nội dung "Phụ phí năng lượng" hay không?
Thuế suất thuế GTGT cho dòng phụ phí này sẽ áp dụng theo thuế suất của mặt hàng chính hay theo mức thuế suất nào khác?
Trường hợp không xuất được hóa đơn với nội dung "phụ phí năng lượng", vậy có thể xuất nội dung "Phụ phí vận chuyển" được không ạ?
Thuế cơ sở 14 Thành phố Hồ Chí
Minh có ý kiến như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 14 Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày
01/07/2025 quy định:
“14. Nguyên tắc xác định giá tính thuế giá trị gia tăng
1. Giá tính thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ quy
định tại Mục này:
a) Bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng
hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
b) Không bao gồm các khoản thu không liên quan đến bán hàng
hóa, cung cấp dịch vụ của cơ sở kinh doanh: các khoản thu về bồi thường bằng
tiền (bao gồm cả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất khi bị thu hồi đất
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), tiền thưởng, thu đòi người
thứ ba của hoạt động bảo hiểm, các khoản thu hộ, các khoản thù lao từ cơ quan
nhà nước do thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ các cơ quan nhà nước, các khoản
thu tài chính.”
Căn cứ điểm b khoản 7 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP ngày
20/03/2025 sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 6 Điều 10 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP
ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về nội dung hóa đơn như sau:
“b) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 6 như sau:
“a) Tên, đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hóa, dịch vụ
a.1) Tên hàng hóa, dịch vụ: Trên hóa đơn phải thể hiện tên
hàng hóa, dịch vụ bằng tiếng Việt. Trường hợp bán hàng hóa có nhiều chủng loại
khác nhau thì tên hàng hóa thể hiện chi tiết đến từng chủng loại (ví dụ: Điện
thoại Samsung, điện thoại Nokia; mặt hàng ăn, uống;...). Trường hợp hàng hóa
phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu thì trên hóa đơn phải thể hiện các số
hiệu, ký hiệu đặc trưng của hàng hóa mà khi đăng ký pháp luật có yêu cầu. Ví
dụ: Số khung, số máy của ô tô, mô tô, địa chỉ, cấp nhà, chiều dài, chiều rộng,
số tầng của một ngôi nhà... Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thì trên hóa
đơn phải thể hiện biển kiểm soát phương tiện vận tải, hành trình (điểm đi -
điểm đến). Đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải cung cấp dịch vụ vận tải
hàng hóa trên nền tảng số, hoạt động thương mại điện tử thì phải thể hiện tên
hàng hóa vận chuyển, thông tin tên, địa chỉ, mã số thuế hoặc số định danh người
gửi hàng.
Trường hợp cần ghi thêm chữ nước ngoài thì chữ nước ngoài
được đặt bên phải trong ngoặc đơn ( ) hoặc đặt ngay dưới dòng tiếng Việt và có
cỡ chữ nhỏ hơn chữ tiếng Việt. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ được giao dịch có
quy định về mã hàng hóa, dịch vụ thì trên hóa đơn phải ghi cả tên và mã hàng
hóa, dịch vụ.
...”
Căn cứ Điều 9 Luật thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15
ngày 26/11/2024 quy định về thuế suất thuế giá trị gia tăng:
“9. Thuế suất
1. Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ sau
đây:
...
2. Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ sau
đây:
...
3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ
không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà
cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ
chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.
4. Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ có mức
thuế suất thuế giá trị gia tăng khác nhau (bao gồm cả đối tượng không chịu thuế
giá trị gia tăng) phải khai thuế giá trị gia tăng theo từng mức thuế suất quy
định đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ; nếu cơ sở kinh doanh không xác định
theo từng mức thuế suất thì phải tính và nộp thuế theo mức thuế suất cao nhất
của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở sản xuất, kinh doanh.
...”
Căn cứ khoản 1 Điều 1 Nghị định 174/2025/NĐ-CP ngày
30/06/2025 quy định chính sách giảm thuế giá trị gia tăng theo Nghị quyết số
204/2025/QH15 ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội:
“Điều 1. Giảm thuế giá trị gia tăng1. Giảm thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm
hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10%, trừ nhóm hàng hóa, dịch vụ
sau:
a) Viễn thông, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán,
bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, sản phẩm kim loại, sản phẩm khai khoáng (trừ
than). Chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
b) Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
(trừ xăng). Chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.
c) Việc giảm thuế giá trị gia tăng cho từng loại hàng hóa,
dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng thống nhất tại các khâu nhập
khẩu, sản xuất, gia công, kinh doanh thương mại.
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ nêu tại các Phụ lục I và II
ban hành kèm theo Nghị định này thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia
tăng hoặc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng 5% theo quy định của Luật Thuế
giá trị gia tăng thì thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và
không được giảm thuế giá trị gia tăng”.
Căn cứ các quy định nêu trên, Thuế cơ sở 14 Thành phố Hồ
Chí Minh hướng dẫn về nguyên tắc như sau: Trường hợp công ty của ông/bà có bán
hàng hóa, cung cấp dịch vụ có khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa,
dịch vụ thì giá tính thuế thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định
181/2025/NĐ-CP; nội dung hóa đơn thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 7
Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 123/2020/NĐ-CP;
thuế suất thuế giá trị gia tăng, căn cứ hàng hóa dịch vụ thực tế của công ty và
đối chiếu quy định tại Điều 9 Luật thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 và
khoản 1 Điều 1 Nghị định 174/2025/NĐ-CP để thực hiện.
Nhiều hộ kinh doanh băn khoăn liệu sau khi được cấp giấy phép và mã số thuế tự động qua hệ thống liên thông có còn phải trực tiếp đến cơ quan thuế để đăng ký thuế hay không? Trước vấn đề này, cơ quan thuế đã có hướng dẫn cụ thể về các thủ tục cần thực hiện khi hộ kinh doanh mới bắt đầu hoạt động.
Sự chuyển đổi từ mô hình chính quyền đa tầng sang chính quyền hai cấp tại Việt Nam hiện nay, đặt ra yêu cầu cấp bách về tái cấu trúc luồng thông tin tài chính nhằm đảm bảo tính minh bạch. Nghiên cứu này tập trung đánh giá sự tương thích của quy trình kế toán hiện hành và đề xuất mô hình thích ứng cho việc lập báo cáo tài chính nhà nước (BCTCNN).
Trong bối cảnh chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính đang diễn ra mạnh mẽ, việc triển khai Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP được kỳ vọng sẽ mở ra hướng tiếp cận mới cho thị trường dịch vụ kế toán tại Việt Nam. Bài viết phân tích những yêu cầu về thống nhất quan điểm quản lý, đổi mới cơ chế hậu kiểm và nâng cao chất lượng nghề nghiệp nhằm tạo môi trường kinh doanh minh bạch, hiện đại và phù hợp xu thế phát triển.
Nghiên cứu này, xem xét tác động của kế toán xanh đến hiệu quả năng lượng và hiệu quả môi trường trong các doanh nghiệp (DN) dược phẩm và hóa chất tại Việt Nam. Dữ liệu khảo sát được thực hiện với 326 người trả lời là cán bộ quản lý và kế toán tại các doanh nghiệp dược phẩm, hóa chất niêm yết hoặc quy mô lớn trong nước được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả cho thấy, kế toán xanh có ảnh hưởng tích cực đến cả hiệu quả năng lượng và hiệu quả môi trường, trong đó hiệu quả năng lượng giữ v