Phát triển kinh tế tư nhân: Góc nhìn từ ngành kiểm toán

PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa Thứ hai, 26/01/2026 14:18 (GMT+7)

Bài viết phân tích các thành tựu của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam từ khi bắt đầu năm 1991 cho đến nay, cũng như phân tích các hạn chế hiện tại và các thách thức trong tương lai của các doanh nghiệp kiểm toán.

Từ đó, tác giả đề xuất các khuyến nghị để phát triển các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam cả về lượng và chất nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hội nhập ở Việt Nam.

1. Mở đầu

Kinh tế tư nhân đã được thừa nhận từ Đại hội lần thứ VI (tháng 12-1986) của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Với nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tư nhân ở nước ta được tạo điều kiện để từng bước phát triển và ngày càng lớn mạnh (Phạm Tất Thắng, 2016). Từ một thành phần kinh tế cần phải cải tạo, kinh tế tư nhân không ngừng phát triển và nay được coi là một trong những trụ cột của nền kinh tế, có đóng góp lớn vào GDP (khoảng 42-45% GDP của Việt Nam), tạo công ăn việc làm và phát triển xã hội ở Việt Nam (khoảng 85% tổng số lao động trong nền kinh tế, tạo ra 8,6 triệu việc làm trực tiếp trong năm 2023, góp phần quan trọng vào việc giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao mức sống của người dân) (Khánh Vũ, 2021; Nguyễn Sĩ Dũng, 2025). Ngày 04/5/2025 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân với mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn 2045 cùng với hệ thống giải pháp toàn diện.

Ở ngành kiểm toán, kinh tế tư nhân thể hiện rõ sự phát triển mạnh mẽ và đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế hội nhập của Việt Nam. Cụ thể, thị trường chứng khoán, thị trường vốn, hệ thống ngân hàng thương mại đặt ra yêu cầu báo cáo tài chính của đơn vị niêm yết, đơn vị phát hành và đơn vị đi vay cần bảo đảm độ tin cậy nên cần được kiểm toán độc lập xác nhận. Nhu cầu kiểm toán của doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng nên tạo điều kiện để số lượng các doanh nghiệp kiểm toán tăng. Áp lực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu về chất lượng nâng cao của các doanh nghiệp kiểm toán.

2. Các thành tựu của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam

Các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam đã có sự phát triển rất ấn tượng về số lượng cũng như qui mô. Khởi đầu với 2 công ty kiểm toán thuộc Bộ Tài chính năm 1991 là AASC và VACO đến nay đã có hơn 200 doanh nghiệp kiểm toán (Hình 1). Các công ty kiểm toán hiện bao gồm 4 công ty hợp danh, 220 công ty TNHH. Nhà nước không còn tham gia ở lĩnh vực kiểm toán độc lập.

Hình 1: Số lượng các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam (1991-2024)

(Nguồn: Cục Quản lý, Giám sát Kế toán và Kiểm toán, Bộ Tài chính)

Bên cạnh số lượng các công ty kiểm toán gia tăng mạnh mẽ (Hình 1), số lượng kiểm toán viên có chứng chỉ và đăng ký hành nghề (KTVHN) cũng gia tăng (Hình 2) phản ánh năng lực hoạt động của các công ty kiểm toán mạnh hơn qua thời gian. Số lượng kiểm toán viên hành nghề người Việt Nam tăng mạnh, số lượng kiểm toán viên hành nghề người nước ngoài giảm, thể hiện tính tự chủ và năng lực cạnh tranh của kiểm toán viên Việt Nam tăng. Số lượng kiểm toán viên hành nghề tăng do sự nỗ lực tham gia thi tuyển chứng chỉ của các kiểm toán viên cũng như sự hỗ trợ của Bộ Tài chính trong việc duy trì hàng năm các kỳ thi cấp chứng chỉ quốc gia, và kỳ thi chuyển đổi chứng chỉ nước ngoài. Hầu hết các doanh nghiệp kiểm toán đều xác định đào tạo và phát triển nhân viên là mục tiêu chiến lược, là cần thiết và quan trọng, đồng thời rất coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn cho nhân viên. Các doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài và một số doanh nghiệp kiểm toán trong nước là thành viên của hãng kiểm toán nước ngoài đã và đang triển khai chiến lược "Quốc tế hóa đội ngũ nhân viên", và thực hiện chính sách đào tạo chung của công ty mẹ, nên được tiếp nhận công nghệ kiểm toán quốc tế và được đào tạo một cách có hệ thống (Đỗ Diễm Hương, 2023). Nhiều công ty kiểm toán Việt Nam đã đăng ký là công ty mạng lưới để nhận hỗ trợ về kỹ thuật và quy trình kiểm toán quốc tế; đào tạo nghiệp vụ, trao đổi với các chuyên gia trên mạng lưới toàn cầu; được sử dụng thương hiệu quốc tế và logo của hãng, được giới thiệu khách hàng, tiếp cận các khách hàng có yếu tố nước ngoài, các công ty, tập đoàn lớn và có độ phức tạp cao. Công ty mạng lưới là một tổ chức lớn hướng tới việc chia sẻ lợi nhuận hoặc chi phí, hoặc cùng được sở hữu, kiểm soát hoặc quản lý chung, có chung các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng, chiến lược kinh doanh, sử dụng chung thương hiệu, hoặc cùng chung một phần đáng kể nguồn lực chuyên môn (Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế số 220).

Hình 2: Số lượng các kiểm toán viên hành nghề ở Việt Nam qua các năm

(Nguồn: Cục Quản lý, Giám sát Kế toán và Kiểm toán, Bộ Tài chính)

Doanh thu dịch vụ kiểm toán tăng và dịch vụ tư vấn tăng đáng kể (Hình 3) qua thời gian, phản ánh số lượng các hợp đồng kiểm toán và tư vấn gia tăng, hiệu quả sử dụng nhân lực của doanh nghiệp kiểm toán tốt.

Các doanh nghiệp kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã có đóng góp quan trọng vào tăng tính minh bạch ở báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán, phục vụ phân bổ có hiệu quả các nguồn lực xã hội, phát triển thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường vốn nói chung. Thông qua chức năng tư vấn của kiểm toán, đơn vị được kiểm toán cũng có điều kiện nhận biết và cải thiện những yếu kém của mình. Các doanh nghiệp kiểm toán không chỉ cung cấp dịch vụ bảo đảm mà còn cung cấp dịch vụ phi bảo đảm (tư vấn, đào tạo, …).

Sự phát triển mạnh của các công ty kiểm toán ở Việt Nam (Hình 1) là do qui định thực hiện kiểm toán bắt buộc đối với một diện rộng các đơn vị và điều kiện thành lập doanh nghiệp kiểm toán là không khó. Theo Luật Kiểm toán độc lập (Luật số 67/2011/QH12) kiểm toán bắt buộc được qui định đối với Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty đại chúng, các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính. Các rào cản về vốn và nhân lực khi thành lập doanh nghiệp kiểm toán là thấp: cụ thể vốn pháp định để thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên là 3 tỉ đồng, 5 tỉ đồng từ ngày 1/1/2015; số lượng kiểm toán viên có chứng chỉ để thành lập công ty hợp danh tối thiểu là 5 kiểm toán viên hành nghề trong đó tối thiểu 2 thành viên hợp danh, số lượng các kiểm toán viên hành nghề để thành lập doanh nghiệp tư nhân tối thiểu là 5 kiểm toán viên hành nghề trong đó có chủ doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH phải có ít nhất 2 kiểm toán viên hành nghề.   

3. Những tồn tại của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam

Dù ngành kiểm toán độc lập thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân thời gian qua (1991-2022), nhưng bản thân ngành vẫn còn những tồn tại và gặp phải nhiều thách thức. Những vụ việc xảy ra tại Louis Holding, FLC, Ngân hàng SCB hiện nay cho thấy chất lượng kiểm toán Báo cáo tài chính hàng năm của các doanh nghiệp niêm yết là có vấn đề, gây nên thiệt hại lớn cho số đông nhà đầu tư, mất niềm tin vào thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, nhiều trái phiếu doanh nghiệp phát hành đến hạn thanh toán nhưng có nguy cơ mất khả năng thanh toán cũng đã đặt ra câu hỏi về vai trò của kiểm toán đối với Báo cáo tài chính của doanh nghiệp trước khi doanh nghiệp thực hiện hoạt động phát hành. Theo kết quả kiểm tra năm 2022 của Bộ Tài chính đối với gần 100 hồ sơ công ty kiểm toán về việc chấp hành luật thì có tới 40% hồ sơ không đạt và yếu kém (Ánh Tuyết, 2022). Kết quả này là rất đáng quan ngại, xuất phát từ nhiều nguyên nhân như chế tài xử phạt chưa thích đáng, áp lực về thời gian kiểm toán và lợi nhuận mong muốn. Ngoài vấn đề về năng lực phát hiện của kiểm toán viên có thể còn hạn chế, vấn đề tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp (thận trọng, độc lập khách quan) và qui định pháp lý cũng bị lơi lỏng.

Doanh thu của các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào các dịch vụ bảo đảm, các dịch vụ phi bảo đảm còn hạn chế về loại hình, qui mô và doanh thu. Theo số liệu năm 2022 của Cục Quản lý Giám sát Kế toán và Kiểm toán (Bộ Tài chính), doanh thu dịch vụ bảo đảm của các doanh nghiệp kiểm toán chiếm 70% tổng doanh thu, các dịch vụ phi bảo đảm chỉ chiếm 30% tổng doanh thu. Sự hạn chế của các dịch vụ phi bảo đảm phản ánh sự hạn chế của năng lực tư vấn - vốn được xem là thế mạnh của các doanh nghiệp kiểm toán. Năm 2015, tỉ trọng doanh thu từ dịch vụ bảo đảm là 62%, tỉ trọng doanh thu từ dịch vụ phi bảo đảm là 38% cho thấy xu hướng là các doanh nghiệp kiểm toán vẫn chú trọng tăng doanh thu dịch vụ bảo đảm, ít tăng được doanh thu từ dịch vụ phi bảo đảm (Hình 3).

Hình 3: Doanh thu của các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam

(Nguồn: Cục Quản lý Giám sát Kế toán và Kiểm toán)

4. Bối cảnh kinh tế Việt Nam tương lai và những vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam

Tính chất phức tạp ngày càng tăng của đối tượng kiểm toán là thách thức lớn với các doanh nghiệp kiểm toán trong việc nâng cao năng lực và chất lượng kiểm toán, đáp ứng kỳ vọng của công chúng về thông tin được kiểm toán. Do hoạt động của các đơn vị được kiểm toán ngày càng phức tạp hơn, qui mô ngày càng lớn, rủi ro sai số trong Báo cáo tài chính được kiểm toán sẽ ngày càng tăng, đòi hỏi kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán phải phát triển năng lực tương ứng nhằm phát hiện các sai số tiềm tàng trong Báo cáo tài chính được kiểm toán. Theo lộ trình của Bộ Tài chính về áp dụng Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) ở Việt Nam, giai đoạn 2022-2025 là các doanh nghiệp áp dụng IFRS tự nguyện, giai đoạn 2025 trở đi là áp dụng IFRS bắt buộc (Bộ Tài chính, 2020), nên báo cáo tài chính được kiểm toán cũng sẽ có nhiều nội dung phức tạp hơn.

Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường vốn nói chung ở Việt Nam đặt ra yêu cầu gia tăng về qui mô và nội dung công việc mới cho kiểm toán độc lập vì lẽ độ tin cậy của tổ chức phát hành và tổ chức niêm yết cần phải được xác nhận bởi kiểm toán độc lập. Mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển Thị trường Chứng khoán đến năm 2030 là phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) ổn định, an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bền vững, hội nhập … Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 100% GDP vào năm 2025 và đạt 120% GDP vào năm 2030. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 47% GDP (trong đó dư nợ trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 20% GDP) vào năm 2025 và đạt tối thiểu 58% GDP (trong đó dư nợ trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 25% GDP) vào năm 2030; TTCK phái sinh tăng trưởng trung bình khoảng 20% - 30% mỗi năm trong giai đoạn 2021 – 2030 (Chính Phủ, 2023). Qui mô gia tăng của khách thể kiểm toán sẽ là thách thức với doanh nghiệp kiểm toán trong bảo đảm thời gian kiểm toán thích đáng và chất lượng kiểm toán trên thực tế. Kiểm toán BCTC không chỉ bó hẹp ở các doanh nghiệp niêm yết về xác minh độ tin cậy của thông tin theo các nguyên tắc tài chính kế toán mà còn là các doanh nghiệp phát hành chứng khoán với các yêu cầu cụ thể về an toàn tài chính, viễn cảnh tương lai.

Cách mạng công nghiệp 4.0, internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo (AI) được ứng dụng ngày càng nhiều trong các đơn vị nói chung và khách thể kiểm toán nói riêng đặt ra yêu cầu kiểm toán viên phải hiểu biết thích đáng về internet và AI để đánh giá rủi ro khi kiểm toán và vận dụng các công nghệ này trong kiểm toán nhằm rút ngắn thời gian kiểm toán, trong khi vẫn bảo đảm chất lượng.

Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp đòi hỏi sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả. Do đó các doanh nghiệp kiểm toán cũng cần phát triển loại hình kiểm toán hoạt động và các dịch vụ tư vấn để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

5. Khuyến nghị và đề xuất về phát triển các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam

Phát triển doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam cần được thực hiện cả về lượng và chất.

Thứ nhất, Tăng cường vai trò giám sát của Cục Quản lý Giám sát Kế toán và Kiểm toán (Bộ Tài chính), Hội Kiểm toán viên hành nghề (VACPA), Ủy ban chứng khoán Nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kiểm toán. Sự giám sát của các cơ quan này tạo sức ép để các doanh nghiệp kiểm toán thận trọng và tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và các qui định có liên quan, nâng cao chất lượng kiểm toán trên thực tế. Hàng năm sự kiểm tra của Ủy ban Chứng khoán đối với các công ty được chấp thuận kiểm toán đơn vị niêm yết, Cục Quản lý Giám sát Kế toán và Kiểm toán và Hội Kiểm toán viên hành nghề đối với các doanh nghiệp kiểm toán còn lại đều được thực hiện nhưng theo cách chọn mẫu và qui mô mẫu khá nhỏ. Tăng qui mô mẫu có thể là biện pháp tốt.

Thứ hai, Hoàn thiện qui định về nghĩa vụ pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán. Hiện tại qui định về nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán qui định ở Điều 29 Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 còn chung chung và mờ nhạt, khó tạo cơ sở xử lý những vi phạm và thiệt hại do kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán gây ra. Điều 29 Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 qui định doanh nghiệp kiểm toán có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán trên cơ sở hợp đồng kiểm toán và theo quy định của pháp luật; Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp theo quy định của Bộ Tài chính. Hoàn thiện qui định pháp lý, qui định rõ các loại nghĩa vụ pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán và các chế tài xử phạt tương ứng sẽ tạo áp lực khiến cho các doanh nghiệp kiểm toán cẩn trọng hơn, nâng cao chất lượng kiểm toán. Cùng với hoàn thiện qui định pháp lý là tăng cường truyền thông, đào tạo cho kiểm toán viên có nhận thức đúng về nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm pháp lý.

Thứ ba, chú trọng đào tạo kiểm toán viên về kế toán theo Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Với lộ trình của Bộ Tài chính đặt ra cho các doanh nghiệp áp dụng IFRS ở Việt Nam, kiểm toán viên cần có sự hiểu biết tốt về IFRS để có thể kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp áp dụng IFRS. Các công ty kiểm toán có thể lên kế hoạch về đào tạo cho kiểm toán viên về IFRS, hoặc dành kinh phí khích lệ kiểm toán viên đi học.

Thứ tư, cách mạng công nghiệp 4.0, internet vạn vật và AI mang lại nhiều cơ hội cho công ty kiểm toán. Các doanh nghiệp kiểm toán cần đầu tư nghiên cứu để áp dụng trong quy trình kiểm toán, thủ tục kiểm toán và hồ sơ kiểm toán. Các cơ quan chức năng cũng có thể khai thác các tiến bộ công nghệ này để thực hiện giám sát được hữu hiệu hơn. Cụ thể, áp dụng giám sát theo thời gian thực (real-time) đối với hồ sơ kiểm toán để giảm thiểu khả năng kiểm toán viên làm đẹp/hoàn thiện hồ sơ kiểm toán sau khi cuộc kiểm toán đã kết thúc.

Thứ năm, doanh nghiệp kiểm toán cần đa dạng hóa các dịch vụ cung ứng, tăng cường các dịch vụ tư vấn (như quản trị tài chính, quản trị rủi ro, quản trị chiến lược, quản trị chất lượng, quản trị nhân sự, kiểm soát nội bộ, …) để đáp ứng nhu cầu của các khách hàng về nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập ngày càng gia tăng ở Việt Nam. Với mức độ mở của nền kinh tế lên đến 70% và sẽ tiếp tục tăng, sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đến từ các doanh nghiệp trong nước mà rất nhiều là từ các doanh nghiệp nước ngoài, và hàng nhập khẩu.