Đánh giá thực trạng xử lí rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay
NCS. Nguyễn Phương HuyềnThứ hai, 19/01/2026 10:38 (GMT+7)
Xử lý rủi ro tín dụng đang là một trong những ưu tiên chiến lược của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh biến động kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả và tính bền vững, cần tiếp cận quản lý rủi ro tín dụng theo hướng hệ thống – công nghệ – dữ liệu – pháp lý đồng bộ, gắn với mục tiêu phát triển thị trường tài chính an toàn và lành mạnh.
1. Mở đầu
Xử lý rủi ro tín dụng (RRTD)
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt trong
bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều biến động và thách thức cả từ bên
trong lẫn bên ngoài, nợ xấu đang có xu hướng gia tăng. Trong những năm gần đây,
công tác này tại các ngân hàng thương mại (NHTM) đã có những bước chuyển mình
tích cực, thể hiện qua việc khung pháp lý liên tục được bổ sung, hoàn thiện
theo hướng ngày càng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế như Basel II, Basel III.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cùng các cơ quan quản lý đã ban hành nhiều quy định
mới nhằm tăng cường kiểm soát rủi ro, đảm bảo an toàn tín dụng và thúc đẩy sự
minh bạch trong hoạt động cấp tín dụng. Mặc dù vậy, bên cạnh những kết quả đạt
được, thực trạng xử lý RRTD tại các NHTM vẫn còn tồn tại hạn chế, bất cập cần
được tháo gỡ.
Mục đích của nghiên cứu
này là đánh giá thực trạng xử lý RRTD tại các NHTM trong thời gian qua, làm rõ
những hạn vấn đề đặt ra và đề xuất một số hàm ý chính sách có giá trị thực
tiễn.
2. Thực trạng xử lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương
mại ở Việt Nam
2.1. Thực
trạng rủi ro tín dụng thông qua một số chỉ tiêu tài chính
2.1.1. Nợ xấu tại các ngân
hàng thương mại
Rủi ro nợ xấu vẫn tiềm ẩn trong khi
bộ đệm dự phòng của hệ thống ngân hàng còn mỏng. Nợ xấu tiếp tục tăng
trong năm 2024 nhưng tốc độ tăng đã chậm lại so với năm 2023. Tỷ lệ nợ xấu báo
cáo theo Thông tư số 31/2024/TT-NHNNcủa các tổ chức tín dụng (TCTD) cuối tháng 12/2024
là 4,08% (cuối năm 2023: 4,59%). Thống
kê từ báo cáo tài chính quý I/2025 cho thấy, nợ xấu tại nhóm 27 ngân hàng niêm yết tiếp
tục xu hướng gia tăng, với tổng giá trị vượt 265 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5% so
với cùng kỳ và hơn 16% so với cuối năm 2024, tương đương mức tăng khoảng 37
nghìn tỷ đồng, nâng tỷ lệ nợ xấu lên
mức 2,16%, cao hơn mức 1,92% của quý IV/2024. Trong đó, có tới 22/27 ngân hàng ghi nhận quy
mô nợ xấu tăng so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) đang có xu hướng gia tăng nhanh,
chiếm tới 1,25% tổng dư nợ cho vay tại cuối quý I/2025, tương đương hơn 176
nghìn tỷ đồng. Đây là mức cao kỷ lục và tăng 10,7% so với đầu năm 2025 (VietnamReport,
2025). Sự chuyển dịch này có thể được thúc đẩy bởi việc Thông tư 02 hết hiệu
lực, khiến nhiều khoản nợ đã cơ cấu nhưng vẫn yếu kém bị phân loại lại vào nhóm
rủi ro cao nhất. Ngoài ra, tín dụng bất động sản (BĐS) vẫn có tốc độ tăng trưởng cao
trong thời gian dài, tập trung vào phân khúc kinh doanh nếu không được kiểm soát cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro
cho hệ thống ngân hàng.
Hình 1. Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu,
2017-2024
Nguồn: UBGSTCQG
Khả
năng bao phủ nợ xấu của hệ thống TCTD chậm cải thiện, áp lực trích lập dự phòng
tăng.Tính đến cuối tháng 12/2024, tỷ lệ dự phòng RRTD/nợ
xấu trong cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân bình quân toàn hệ thống TCTD là
84,0%, tăng nhẹ so với cuối năm 2023 (83,4%) nhưng vẫn thấp hơn so với cuối năm
2022 (114,2%). Tỷ lệ dự phòng cụ thể/nợ xấu trong cho vay tổ chức kinh tế và cá
nhân bình quân toàn hệ thống là 68,4%, giảm so với cuối năm 2023 (69,4%) và
cuối năm 2022 (77,2%). Điều này làm hạn chế khả năng xử lý nợ và gia tăng áp
lực trích lập dự phòng, đặc biệt ở những ngân hàng có tệp khách hàng rủi ro cao
và có tỷ lệ nợ tái cơ cấu/tổng dư nợ cao. Tỷ lệ bao phủ tiếp tục có xu hướng
giảm tại quý I/2025. Theo thống kê từ báo cáo tài chính quý I/2025
của 27 ngân hàng niêm yết,
tỷ lệ bao phủ toàn ngành
giảm mạnh từ 91,4% xuống 80% vào quý I/2025 – mức thấp nhất trong 5 năm, tỷ lệ bao phủ nợ xấu phần lớn ngân hàng (21/27 ngân hàng) đều
giảm so với thời điểm cuối năm ngoái do nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ trích lập dự phòng,
đặc biệt khi các khoản nợ xấu bị kìm nén trước đây bắt đầu bộc lộ.
Đáng chú ý, có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm ngân hàng về tỷ lệ bao phủ nợ xấu. Theo VietnamReport (2025), nhóm ngân hàng có tổng
tài sản trên 1 triệu tỉ đồng vẫn duy trì tỉ lệ LLR trên 125%, dù cũng chịu áp
lực giảm. Trong khi đó, các ngân hàng quy mô nhỏ (tổng tài sản dưới 300.000 tỉ
đồng) có tỉ lệ LLR rất thấp, từng rơi xuống đáy 29% vào quý 2/2024 và hiện mới
phục hồi lên khoảng 38%. Bốn NHTM Nhà nước nhìn chung vẫn duy trì tỷ lệ LLR cao, thường trên 100%, thể
hiện sức khỏe tài chính vững chắc và chính sách điều hành dự phòng chặt chẽ.
Một số
NHTM lớn có nền tảng vốn mạnh, danh mục đầu tư đa dạng và
thực hành quản lý rủi ro tốt cũng xây dựng được
bộ đệm dự phòng đáng kể, trong khi đó, các NHTM nhỏ hơn lại cho thấy tỷ lệ LLR
thấp hơn đáng kể, phổ biến dưới 50%, thậm chí có những ngân hàng dưới 40% do tiềm lực tài
chính mỏng, như OCB: 30%, Saigonbank: 31,6%, NCB: 11,2%. Điều này đặt các ngân
hàng nhỏ vào tình trạng dễ bị tổn thương khi RRTD gia tăng,
đặc biệt khi xét đến mức độ tiếp xúc của họ với các phân khúc rủi ro cao như BĐS,
gây ra rủi ro tiềm ẩn cho sự ổn định tài chính tổng thể nếu không được các cơ
quan quản lý chủ động giải quyết thông qua tăng cường giám sát và hỗ trợ các tổ
chức yếu hơn.
2.1.2. An toàn vốn, phân loại
nợ và trích lập dự phòng tại các ngân hàng thương mại
Mức an toàn vốn của
các ngân hàng còn hạn chế, ảnh hưởng đến sức chống chịu của hệ thống ngân
hàng trong bối cảnh nợ xấu gia tăng.Tỷ
lệ an toàn vốn (CAR) bình quân của 35 NHTM theo quy định tại Thông tư số 41/2016/TT-NHNN
tính đến thời điểm 31/12/2024 là 11,3%, thấp hơn bình quân 3 năm gần đây (Cuối
năm 2021: 11,5%, năm 2022: 11,7%, năm 2023: 11,8%) và vẫn thấp hơn nhiều so với
các nước trong khu vực, như: Malaysia:18,0%; Indonesia: 26,8%; Philippines:
16,6%; Thái Lan: 20,6%; Lào: 18,5%; Campuchia: 22,5%. Đến cuối tháng 12/2024, có 23/29 NHTM
trong nước có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN từ
10% trở lên; trong khi có 3 ngân hàng có tỷ lệ CAR tiệm cận mức tối thiểu 8%
theo quy định. Có 20/35 NHTM trong nước tăng vốn điều lệ với quy mô khoảng
104,8 nghìn tỷ đồng, trong khi một số ngân hàng không tăng vốn và có vốn điều
lệ dưới 5.000 tỷ đồng.
Hình 2.
So sánh mức đủ vốn của Việt Nam và một số nước
trong khu vực
Nguồn: Ceicdata; số liệu tại thời điểm tháng 12/2024
Phân
loại nợ và trích lập dự phòng còn phân hóa giữa các NHTM.Thông tư số 31/2024/TT-NHNN
dù quy định các tiêu chí định tính và định lượng để phân loại nợ (như khả năng
trả nợ, thời gian quá hạn, cam kết trả nợ, tính chất rủi ro của khoản vay),
nhưng việc áp dụng trên thực tế thường nghiêng về các tiêu chí định lượng (chủ
yếu dựa vào thời gian quá hạn) một cách khá máy móc do tính chất đơn giản, tự
động hóa, dễ đo lường và quản lý dẫn đến thiếu linh hoạt trong việc phản ánh
RRTD thực tế, một số khoản nợ bị xếp vào nhóm rủi ro cao một cách tự động, ngay
cả khi khách hàng chỉ gặp khó khăn tạm thời và vẫn có tiềm lực, trong khi có
những khoản nợ bị xếp vào nhóm nợ thấp dù bản chất rủi ro cao, như khách hàng
đang gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính, có nguy cơ phá sản.
Trên
thực tế, việc áp dụng phương pháp định tính được các NHTM lớn được thực hiện
tốt hơn. Các NHTM lớn đều đã đầu tư mạnh vào xây dựng hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ, bao gồm các mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng tín dụng dựa
trên dữ liệu định lượng và định tính. Các ngân hàng này có các phòng ban chuyên
trách về quản lý rủi ro với đội ngũ chuyên gia phân tích dữ liệu, rủi ro, và
đưa ra các đánh giá định tính cho từng khoản vay, từng khách hàng. Các NHTM nhỏ
thường thiếu dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu chi tiết về hành vi khách hàng, đồng
thời hạn chế về kinh nghiệm, công nghệ và nhân lực nên ưu tiên tập trung nhiều
hơn vào việc tuân thủ các tiêu chí định lượng tối thiểu theo quy định của NHNN,
thay vì các mô hình dự báo rủi ro dựa trên dữ liệu và đánh giá định tính.
Trong những năm qua, dưới
áp lực từ thị trường, các TCTD đã có nhiều nỗ lực để cải thiện công tác trích
lập dự phòng. Nhiều ngân hàng, đặc biệt là các NHTM lớn và niêm yết, đã chủ
động tăng cường trích lập dự phòng RRTD theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN và sau
đó là Nghị định số 86/2024/NĐ-CP, thậm chí trích lập vượt mức tối thiểu quy
định. Tuy nhiên, quy định về trích lập
dự phòng ở Việt Nam chủ yếu dựa trên mô hình tổn thất đã phát sinh, khiến nhiều
TCTD, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ chỉ trích lập đúng mức tối thiểu mà NHNN
yêu cầu để tránh bị phạt hoặc ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn. Mức trích lập đó
có thể chưa phản ánh đầy đủ các rủi ro tiềm ẩn từ những yếu tố khác như rủi ro
từ các yếu tố vĩ mô; rủi ro khác nhau giữa các ngành nghề hay giữa các phân
khúc khách nếu cùng nhóm nợ. Ngoài ra, trong
bối cảnh cạnh tranh gay gắt, nhiều TCTD có thể không muốn trích lập dự phòng
quá cao vì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận, dẫn đến việc chỉ trích lập theo quy định
tối thiểu. Việc trích lập mức dự phòng "đủ" theo quy định nhưng chưa
"đủ" theo rủi ro thực tế khiến ngân hàng có thể gặp khó khăn trong
việc hấp thụ tổn thất, đồng thời khả năng chống chịu của cả hệ thống có thể bị
ảnh hưởng nếu xảy ra cú sốc kinh tế lớn.
2.2. Thực trạng xử lý rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng thương mại
2.2.1. Thực trạng xử lý tài sản đảm bảo
Quá
trình xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) còn chậm và phức tạp, dù có Nghị định
21/2021/NĐ-CPquy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ, nhưng trên thực tế, quá trình thu giữ, thanh lý TSBĐ vẫn vướng thủ
tục tố tụng, phụ thuộc vào sự hợp tác của bên vay và thi hành án chậm. Theo WB
(2022), thời gian xử lý TSBĐ tại Việt Nam trung bình trên 400 ngày, cao hơn
nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á. Năm 2024, tỷ lệ thu hồi nợ chủ yếu liên
quan đến TSBĐ chiếm khoảng 46,6%. Tỷ lệ khách hàng chủ động trả nợ các ngân
hàng với khoản nợ xấu chiếm 36%; còn lại nợ bán cho VAMC, nợ thi hành án thông
qua bán TSBĐ chiếm tỷ lệ rất thấp, đạt khoảng 7.000 tỷ đồng.Báo cáo
tổng kết Nghị quyết số 42/2017/QH14 của NHNN cho biết quá trình xử lý nợ xấu
còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu liên quan đến khâu xử lý TSBĐ. Trong tổng số
443.800 tỉ đồng nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 từ ngày 15/08/2017 đến
31/12/2023, tỷ lệ xử lý nợ thông qua bán, phát mại TSBĐ chiếm 20,85% với 92.500
tỷ đồng, thấp hơn tỷ lệ khách hàng tự trả nợ là 36,35%.
Nguyên
nhân của vướng mắc này đến từ nhiều yếu tố như: (i) Nhiều khách hàng chây ỳ trả nợ, không hợp tác trong việc xử lý
TSBĐ, ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hồ sơ thủ tục pháp lý khi xử lý TSBĐ; (ii) Quy trình, thủ tục tố tụng và thi
hành án kéo dài gây tốn kém về mặt chi phí, giá trị TSBĐ bị giảm sút, đặc biệt
là các TSBĐ là dây chuyền máy móc thiết bị, dẫn đến việc xử lý TSBĐ không đủ
thanh toán cho các nghĩa vụ nợ phát sinh của khách hàng; (iii) Nhiều tài sản thế chấp vướng mắc về điều kiện giao dịch, bị
kẹt trong vòng xoáy thủ tục, tranh chấp pháp lý, việc xác định giá trị tài sản
chưa phù hợp với thực tế và thị trường nên việc xử lý bán tài sản khó khăn,
TSBĐ của bên thứ 3 khó xử lý; (iv)
Thiếu cơ chế ưu đãi, thu hút nhà đầu tư có năng lực mua lại các công trình dự
án BĐS lớn đang triển khai dở dang, như việc tạo cơ chế thông thoáng, đơn giản
hóa thủ tục hành chính liên quan đến bán, chuyển nhượng các TSBĐ là các BĐS, dự
án đang đầu tư dở dang.
Ngoài
ra, trong giai đoạn 2022-2024, hoạt động thanh lý TSBĐ của các ngân hàng đối
mặt với nhiều khó khăn do thanh khoản thị trường BĐS giảm, nhiều tài sản bán
nhiều lần dù giảm giá không có người mua. Đặc biệt, tình trạng khách hàng vay
vốn đã thế chấp TSBĐ, song sau đó tranh chấp với chủ sở hữu cũ tăng mạnh, không
loại trừ khách hàng cố tình ngụy tạo để ngân hàng không thể thu giữ TSBĐ, trốn
tránh trả nợ ngân hàng. Luật Các TCTD chưa kế thừa đầy đủ các quy định của Nghị
quyết số 42/2017/QH14 về thu giữ TSBĐ, khiến quá trình này trở nên khó khăn và
kéo dài hơn, các ngân hàng buộc phải thông qua thủ tục kiện tụng tại tòa án,
làm chậm tiến độ và tăng chi phí. Ngân hàng MB báo cáo đã nộp 960 đơn kiện trong năm
2024, gấp 2,8 lần so với năm 2022. TPBank cho biết, việc thu giữ tài sản trước
đây chỉ mất "vài tháng" theo Nghị quyết số 42/2017/QH14, nay kéo dài "nhiều tháng, thậm chí hơn một
năm". Trên thực tế, nhiều khách
hàng biết TCTD không có quyền thu giữ TSBĐ của TCTD đã hết hiệu lực, cố tình chây
ỳ và bất hợp tác với ngân hàng trong việc xử lý TSBĐ, vì vậy, việc xử lý TSBĐ
của các TCTD càng khó khăn hơn.
2.2.2. Xử lý rủi ro tín
dụng thông qua bán nợ cho VAMC
Số liệu thống kê cho
thấy, thực trạng xử lý RRTD thông qua bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) chưa thực sự hiệu
quả.VAMC được thành lập
vào năm 2013 nhằm giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng, lành mạnh hóa tài
chính, giảm thiểu rủi ro cho các TCTD, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín
dụng hợp lý cho nền kinh tế. Trong hơn 10 năm đi vào hoạt động, VAMC đã mua nợ
và phối hợp với các TCTD triển khai các giải pháp xử lý nợ như: làm việc và đôn
đốc khách hàng trả nợ, thu giữ, bán đấu giá; bán thỏa thuận tài sản; hỗ trợ bên
mua tài sản hoàn thiện các thủ tục pháp lý…Tuy nhiên, vai trò của VAMC trên
thực tế còn khá hạn chế, mang tính kỹ thuật và chưa thực sự phát huy đầy đủ
chức năng xử lý nợ xấu.
Lũy
kế từ khi thành lập đến hết 30/04/2024, VAMC đã xử lý đạt 352.703 tỷ đồng dư nợ
gốc, trong đó xử lý từ khoản nợ mua bằng TPĐB đạt 342.019 tỷ đồng dư nợ gốc
(chiếm 82,57%), xử lý từ khoản nợ mua theo giá trị thị trường đạt 10.684 tỷ
đồng dư nợ gốc (chiếm 78,52%). VAMC tập trung vào việc tiếp nhận, quản lý nợ và
TSBĐ thay vì thực hiện xử lý triệt để thông qua các hoạt động xử lý nợ phức tạp
như bán tài sản, cơ cấu lại doanh nghiệp hoặc khởi kiện, chủ yếu vẫn ủy quyền
lại cho chính TCTD bán nợ để tiếp tục xử lý khoản nợ đó. Nợ xấu vẫn có thể quay
trở lại ngân hàng nếu không được xử lý sau 5 năm (theo thời hạn trái phiếu đặc
biệt). Ngân hàng vẫn phải tiếp tục trích lập dự phòng 20% mỗi năm cho mệnh giá
trái phiếu trong 5 năm.
Việc
xử lý nợ xấu thông qua VAMC vẫn còn nhiều hạn chế do cơ chế pháp lý chưa trao
đủ quyền chủ động cho VAMC trong việc thu giữ và xử lý TSBĐ, trong khi nguồn
lực tài chính hạn chế khiến việc mua bán nợ theo giá thị trường gặp khó khăn.
Bên cạnh đó, thị trường mua bán nợ kém phát triển và thủ tục pháp lý phức tạp
cũng làm chậm tiến độ xử lý, khiến hiệu quả chưa thực sự như kỳ vọng. Nghị
quyết số 42/2017/QH14 đã tạo ra một bước đột phá pháp lý quan trọng, trực tiếp
nâng cao năng lực xử lý nợ xấu của VAMC khi trao cho VAMC quyền chủ động hơn từ
thu giữ tài sản mà không cần kiện ra tòa, đến xử lý nợ theo giá thị trường,
phân chia nghĩa vụ thu hồi với các TCTD. Nhờ đó, chỉ sau hơn 3 tháng đầu sau
khi nghị quyết có hiệu lực, giá trị nợ xấu được VAMC và các TCTD xử lý đạt
khoảng 37.000 tỷ đồng, tương đương gần bằng tổng số nợ xấu xử lý trong cả 3 năm
trước đó (2014–2016 cộng lại). Tuy nhiên, khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 hết
hiệu lực cuối năm 2023, VAMC lại phải đối mặt với những rào cản cũ quay trở
lại: mất quyền chủ động thu giữ tài sản, tiến độ xử lý nợ bị chậm lại, gây ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động.
2.2.3. Thực trạng triển
khai IFRS 9 và quản trị RRTD theo Basel II
Dù đã có lộ trình rõ
ràng, nhưng IFRS 9 chưa được triển khai rộng rãi tại Việt Nam do các ngân hàng
đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm thiếu nguồn nhân lực có kinh
nghiệm về IFRS 9, hạn chế về cơ sở dữ liệu lịch sử để xây dựng mô hình ECL và
cần đầu tư lớn vào hệ thống công nghệ thông tin. Tiến độ áp dụng IFRS 9 trên
toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay cho thấy sự phân hóa rõ rệt. Trong
khi một số NHTM lớn, có tiềm lực tài chính mạnh đã đạt được những bước tiến
đáng kể, phần lớn các TCTD khác vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị ban đầu hoặc
gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai. Tốc độ áp dụng tự nguyện tương
đối chậm cho thấy một phần đáng kể của ngành ngân hàng có thể sẽ không hoàn
toàn sẵn sàng vào cuối năm 2025, tạo ra một thách thức lớn cho giai đoạn áp
dụng bắt buộc. Nhiều ngân hàng sẽ đột ngột phải đáp ứng các tiêu chuẩn phức tạp
mà có thể chưa được chuẩn bị đầy đủ, dẫn đến sự gia tăng đột biến nhu cầu về
dịch vụ tư vấn và giải pháp công nghệ, làm gia tăng chi phí của ngân hàng.
Trong hơn 5 năm qua, hệ
thống ngân hàng cũng có nhiều nỗ lực để áp dụng quản trị rủi ro theo Basel II
và tiến tới Basel III. Đến nay, có khoảng hơn 20 NHTM hiện đã áp dụng Basel II
và một số NHTM cũng đã tiên phong trong việc triển khai Basel III. Trong khi đó, việc áp dụng mô
hình xếp hạng nội bộ IRB trong quản trị rủi ro hạn chế hơnvới chỉ một
số ít các ngân hàng đã và đang triển khai trong giai đoạn đầu. Dự kiến sẽ còn
mất một thời gian dài nữa thì mô hình này mới có thể phổ biến hơn cho các NHTM
tại Việt Nam.
2.2.4. Ứng dụng công nghệ trong cảnh báo rủi ro
Trong
những năm qua, ngành ngân hàng đã đẩy
mạnh áp dụng công nghệtrong việc cảnh báo RRTD. Theo Vietstock
(2025), tổng chi phí đầu tư công nghệ toàn ngành ngân hàng tăng từ gần 20.000
tỷ đồng năm 2021 lên hơn 32.000 tỷ đồng năm 2024 (chiếm 14,85% tổng chi phí
hoạt động toàn ngành), tương đương mức tăng trưởng hơn 60% trong vòng ba năm,
đánh dấu sự chuyển mình rõ rệt trong tư duy chiến lược của các tổ chức tài
chính coi chuyển đổi số là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất, tối ưu hóa
chi phí và bảo vệ thị phần. Tuy nhiên, hiện mới chỉ có 15% NHTM
ứng dụng AI đạt mức độ trung bình trở lên và chưa có ngân hàng nào triển khai
AI Agent ở quy mô lớn (NHNN, 2025).
Một
số NHTM như Techcombank, MBB hay TPBank
đã đầu tư vào hệ thống core banking, nền tảng dữ liệu lớn, AI và điện toán đám
mây. Một số NHTM lớn cũng đã đầu tư đáng kể vào việc xây dựng và triển khai các
mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng tín dụng kết hợp giữa dữ liệu từ Trung
tâm Thông tin tín dụng Quốc gia (CIC) của NHNN với dữ liệu lớn (về lịch sử giao
dịch, dữ liệu nội bộ, thông tin tài chính, hành vi tiêu dùng...) bằng việc sử
dụng các kỹ thuật thống kê và học máy nhằm đánh giá khả năng vỡ nợ của khách
hàng một cách tự động và khách quan hơn cũng như đưa ra chiến lược thu hồi nợ
hiệu quả hơn cho từng nhóm khách hàng. Nhờ đó, thời gian phê duyệt tín dụng
được rút ngắn chỉ còn vài phút, đồng thời tăng khả năng phát hiện sớm các khoản
vay tiềm ẩn rủi ro. Ngân hàngTechcombank
sử dụng AI trong phân tích tín dụng để
đánh giá hồ sơ vay vốn, rút ngắn thời gian xử lý từ 3 ngày xuống còn 6 giờ và
tăng 15% hiệu suất phê duyệt tín dụng. Đặc biệt, các khách hàng chưa từng vay
vốn (thiếu dữ liệu tín dụng truyền thống) vẫn có thể được chấm điểm và cấp tín
dụng nhờ đánh giá hành vi qua dữ liệu lớn.
Hiện
nay, nhiều NHTM lớn tại Việt Nam đã và đang đầu tư mạnh vào các hệ thống EWS
tiên tiến. Các ngân hàng như Vietcombank, VietinBank đã đi tiên phong trong
việc xây dựng và vận hành hệ thống cảnh báo sớm RRTD. Các ngân hàng khác như
Nam A Bank và ABBank cũng đã công khai kế hoạch hoặc đang trong quá trình triển
khai, thể hiện sự nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của EWS trong bối cảnh
thị trường ngày càng cạnh tranh và rủi ro gia tăng. Các ngân hàng có định hướng
công nghệ cao như TPBank hay những ngân hàng chú trọng quản trị rủi ro như
VPBank và MB cũng được kỳ vọng đã tích hợp sâu rộng các module cảnh báo sớm vào
hệ thống của mình. Tuy vậy, nhiều NHTM, đặc biệt là các NHTM quy mô vừa và nhỏ,
vẫn chủ yếu dựa vào các phương pháp thủ công, truyền thống trong việc đánh giá
và quản lý RRTD như dựa trên kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, phân tích báo cáo
tài chính đơn thuần, và chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn để phân loại nợ. Các
ngân hàng này thường thiếu hệ thống cảnh báo sớm toàn diện và các mô hình định lượng
rủi ro tiên tiến như PD, LGD, EAD.
Nhìn
chung, hạ tầng công nghệ thông tin tại nhiều ngân hàng vẫn còn hạn chế và chưa
đáp ứng được yêu cầu xử lý lượng dữ liệu khổng lồ và phức tạp của Big Data.
Việc tích hợp các hệ thống Core Banking cũ với các công nghệ mới như AI/Machine
Learning cho Scoring và EWS thường gặp nhiều khó khăn, tốn kém chi phí và thời
gian. Điều này dẫn đến sự rời rạc trong luồng thông tin, làm giảm khả năng tự
động hóa và ra quyết định tức thời, từ đó hạn chế hiệu quả của cảnh báo sớm.
Thêm vào đó, ngành ngân hàng đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn nhân
lực chất lượng cao có chuyên môn sâu về khoa học dữ liệu, AI/Machine Learning
và am hiểu nghiệp vụ, khiến việc phát triển, vận hành và tối ưu hóa các hệ
thống phức tạp trở nên khó khăn. Chi phí đầu tư khổng lồ vào công nghệ và vấn
đề bảo mật thông tin khách hàng cũng là những thách thức không nhỏ đối với việc
phát triển công nghệ ngân hàng.
2.2.5. Thực trạng cơ chế chia sẻ thông tin tín dụng
Trung
tâm CIC đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, tổng hợp và phân tích
thông tin tín dụng của khách hàng vay. Tuy nhiên, dữ liệu mà CIC thu thập và xử
lý chủ yếu đến từ các TCTD mà không có dữ liệu từ doanh nghiệp ngoài ngân hàng.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tín dụng, tài chính không phải ngân hàng
không có nghĩa vụ hoặc cơ chế để chia sẻ dữ liệu về hoạt động tín dụng của họ
với CIC. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế liên thông dữ liệu giữa ngân hàng, cơ quan
thuế, hải quan, thi hành án để phục vụ phân tích rủi ro toàn diện. Việc chia sẻ
thông tin của cơ quan thuế và hải quan với ngân hàng cho mục đích đánh giá RRTD
còn rất hạn chế, chưa có cơ chế rõ ràng và thường xuyên.
Ngân
hàng chỉ có thể tiếp cận thông tin từ cơ quan thi hành án khi khách hàng tự
cung cấp hoặc khi vụ việc đã diễn ra công khai, hoặc khi có yêu cầu cụ thể từ
tòa án/cơ quan thi hành án chứ chưa có một cơ chế liên thông tự động để ngân
hàng chủ động kiểm tra. Việc thiếu cơ chế chia sẻ thông tin tín dụng hiệu qủa
khiến ngân hàng chỉ có thể nhìn thấy một phần bức tranh về khách hàng, dẫn đến
việc đánh giá rủi ro có thể không chính xác, tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu, đồng thời
tốn nhiều thời gian và nguồn lực hơn để thu thập, xác minh thông tin từ nhiều
nguồn không chính thức hoặc qua các quy trình thủ công phức tạp.
Do
thiếu dữ liệu đầy đủ, ngân hàng cũng khó phát triển các mô hình chấm điểm tín
dụng tiên tiến, dựa trên học máy và dữ liệu lớn, vốn cần một lượng lớn và đa
dạng thông tin để hoạt động hiệu quả, vì vậy hạn chế khả năng cho vay dựa trên
dữ liệu.
3. Kết luận và hàm ý chính sách
Xử lý RRTD tại các NHTM
Việt Nam thời gian qua đã ghi nhận những bước tiến rõ rệt, đặc biệt ở mặt khung
pháp lý và kỹ thuật quản trị. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các ngân hàng vẫn
đang đối mặt với nhiều thách thức như năng lực triển khai không đồng đều, ứng
dụng công nghệ còn hạn chế và thiếu cơ chế phối hợp liên ngành trong xử lý TSBĐ
hay thi hành án.
Để nâng cao hiệu quả xử
lý RRTD trong giai đoạn tới, tác giả cho rằng cần đồng bộ thực hiện ba định
hướng chính sách như sau:
Một là, cần tăng cường tự động
hóa và ứng dụng công nghệ cảnh báo rủi ro thông qua việc đầu tư mạnh mẽ vào hạ
tầng dữ liệu, phát triển các mô hình Scoring và EWS tinh vi dựa trên AI/Machine
Learning, và tự động hóa toàn bộ quy trình từ phê duyệt đến giám sát tín dụng;
Hai là, hoàn thiện pháp lý về TSBĐ
và phát triển thị trường mua bán nợ xấu là hết sức cấp thiết nhằm tháo gỡ vướng
mắc trong thu hồi nợ, với việc rà soát các quy định về thu giữ tài sản và tạo
hành lang pháp lý thông thoáng cho các giao dịch nợ xấu. Rà soát, sửa đổi Luật
xử lý nợ xấu, Luật thi hành án dân sự để rút ngắn thời gian thu hồi tài sản; Hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa; Xây dựng hệ thống xếp
hạng tín dụng quốc gia có tính chia sẻ dữ liệu cao giữa các TCTD;
Ba là, đẩy nhanh triển khai
thực chất Basel II và IFRS 9 trong toàn hệ thống, là nền tảng cốt lõi để nâng
cao năng lực quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế, đòi hỏi các ngân hàng phải
có khả năng dự báo tổn thất tín dụng chính xác hơn và trích lập dự phòng phù
hợp với rủi ro dự kiến.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, sự phổ biến của Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới phương pháp giảng dạy Nguyên lý Kế toán. Bài viết này sẽ bàn về sự cần thiết của việc chuyển đổi từ cách tiếp cận truyền thống dựa trên quy tắc (Rules-based) sang mô hình dựa trên nguyên tắc (Principles-based).
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến ở mọi quốc gia, bất kể đó là nền kinh tế phát triển hay đang phát triển. Ở Việt Nam lạm phát được kiểm soát khá tốt. Điều này là do Chính phủ có các biện pháp điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô, qua đó góp phần đảm bảo cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng bền vững. Bài viết phân tích thực trạng lạm phát và kiểm soát ở Việt Nam, giai đoạn 2016 – 2024. Qua đó, nghiên cứu đưa ra hàm ý chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Trong bối cảnh giáo dục đại học toàn cầu và tại Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình tự chủ tài chính, các trường đại học công lập đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả hoạt động, chất lượng đào tạo và trách nhiệm giải trình. Các phương pháp đánh giá thành quả truyền thống, vốn chỉ tập trung vào các chỉ số tài chính hoặc đầu vào, đã bộc lộ nhiều hạn chế, không phản ánh đầy đủ giá trị đa chiều mà một trường đại học tạo ra.
Nghiên cứu này thực hiện nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết liên quan đến chủ đề tác động của kế toán số đến hiệu quả hoạt động. Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là dựa trên tổng quan hệ thống (systematic review). Kết quả nhóm nghiên cứu đã đề xuất mô hình nghiên cứu với 10 giả thuyết và 4 nhóm biến nghiên cứu. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian tới.