Nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát hoạt động doanh nghiệp tại tỉnh Nghệ An
ThS. Trần Tiến DũngChủ nhật, 18/01/2026 09:37 (GMT+7)
Bài viết phân tích thực trạng kiểm tra, giám sát doanh nghiệp (DN) ở Nghệ An: còn tồn tại sự chồng chéo, hạn chế năng lực cán bộ và thiếu đồng bộ trong phối hợp.
Tác giả đề xuất các giải pháp: hoàn thiện quy định pháp luật; ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát; nâng cao năng lực, đạo đức công vụ cho cán bộ; tăng cường phối hợp liên ngành; tổ chức kiểm tra đột xuất, minh bạch hoá thông tin; khuyến khích DN tự chịu trách nhiệm.
1. Mở đầu
Trong cơ cấu phát triển kinh tế địa phương, DN ngày càng
đóng vai trò trung tâm, góp phần tạo việc làm, thúc đẩy SXKD, tăng thu
ngân sách và nâng cao năng lực cạnh tranh vùng. Nghệ An là tỉnh có tiềm năng lớn
về tài nguyên, lao động và vị trí địa lý, đặc biệt đang nổi lên như điểm đến đầu
tư hấp dẫn trong những năm gần đây. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, Nghệ
An đã xác định DN là “động lực then chốt” để thực hiện mục tiêu trở thành tỉnh
khá và là cực tăng trưởng quốc gia.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển
nhanh về số lượng và quy mô DN, nhu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động DN ngày
càng trở nên cấp thiết. Công tác này không chỉ giúp đảm bảo tuân thủ pháp luật,
mà còn giữ gìn môi trường kinh doanh minh bạch, ngăn chặn các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, vi phạm môi trường, trốn thuế, sử dụng lao động trái
phép,... Thực tế tại Nghệ An cho thấy, còn tồn tại nhiều bất cập: chức năng kiểm tra còn chồng
chéo giữa các cơ quan; nguồn lực giám sát hạn chế; chế tài xử lý chưa nghiêm;
vai trò giám sát của cộng đồng, DN chưa được phát huy.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về thanh tra, kiểm tra và
giám sát doanh nghiệp, song những phân tích chuyên sâu cho bối cảnh Nghệ An còn
hạn chế. Các công trình nghiên cứu chưa đánh giá đầy đủ hiệu quả hệ thống kiểm
tra, mức độ chồng chéo giữa các cơ quan và tác động đối với doanh nghiệp. Vai
trò giám sát của cộng đồng và doanh nghiệp cũng ít được xem xét. Bên cạnh đó,
nghiên cứu về ứng dụng chuyển đổi số trong giám sát, cũng như mô hình kiểm tra
phù hợp với định hướng phát triển bền vững và yêu cầu tăng trưởng xanh của tỉnh,
vẫn còn thiếu. Do đó, bài
viết tập trung phân tích thực trạng kiểm tra, giám sát DN tại Nghệ An trong thời
gian qua, từ những kết quả đạt được đến các thách thức còn tồn tại. Đồng thời,
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, phù hợp với điều kiện địa
phương và định hướng phát triển kinh tế bền vững, minh bạch, công bằng trong
giai đoạn tới.
2. Cơ sở lý luận và pháp lý
Kiểm
tra, giám sát DN là tổng hợp các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước nhằm
theo dõi, đánh giá việc DN tuân thủ quy định pháp luật trong các lĩnh vực như
thuế, môi trường, lao động, đầu tư,… Trong đó, kiểm tra thường mang tính trực
tiếp (kiểm tra hồ sơ, thanh tra chuyên ngành), còn giám sát có thể thực hiện
gián tiếp qua hệ thống báo cáo, dữ liệu điện tử, đánh giá rủi ro, hoặc thông
qua phản ánh từ cộng đồng. Hoạt động này là công cụ đảm bảo thực thi pháp luật,
tăng hiệu lực quản lý, đồng thời góp phần duy trì môi trường kinh doanh minh bạch,
công bằng, làm tăng lòng tin của nhà đầu tư và DN. Tại cấp tỉnh, công tác kiểm
tra, giám sát giúp vừa tháo gỡ các vướng mắc chính sách, vừa kịp thời phát hiện
và xử lý các vi phạm trong hoạt động DN như lợi dụng ưu đãi đầu tư để trục lợi,
vi phạm môi trường, cạnh tranh không lành mạnh.
Về
cơ sở pháp lý, Việt Nam đã có hệ thống luật điều chỉnh tương đối đầy đủ. Luật
Thanh tra 2022 quy định nguyên tắc, trình tự thực hiện thanh tra, nhấn mạnh yêu cầu công khai, minh bạch, tránh gây cản trở hoạt
động DN. Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rõ nghĩa vụ công khai thông tin, giúp
cơ quan nhà nước thực hiện giám sát hiệu quả. Ngoài ra, Nghị quyết 68-NQ/TW
ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị
quyết 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc
biệt phát triển kinh tế tư nhân đều khẳng định chủ trương “không thanh tra, kiểm
tra DN quá 1 lần/năm”, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm. Các kế hoạch thanh
tra phải công khai, lấy ý kiến DN và ưu tiên phương pháp kiểm tra gián tiếp
thông qua dữ liệu điện tử. Đáng chú ý, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết
198/2025/QH15 về cơ chế phát triển kinh tế tư nhân, tiếp tục khẳng định: DN
không bị thanh tra, kiểm tra trùng lặp về cùng nội dung trong năm; trường hợp bất
thường phải có lý do rõ ràng. Đồng thời, khuyến khích cơ chế “đối tác tuân thủ”
- DN chấp hành tốt sẽ được giảm tần suất kiểm tra thực tế, áp dụng hình thức tự
giám sát hoặc kiểm tra trực tuyến. Song song đó, các bộ, ngành và địa phương được
khuyến khích áp dụng chuyển đổi số trong quản lý DN, ví dụ: tích hợp dữ liệu từ
cơ quan thuế, bảo hiểm, môi trường, đăng ký kinh doanh để xây dựng hệ thống
đánh giá rủi ro; từ đó lựa chọn DN kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tránh gây
áp lực không cần thiết. Những quy định và chính sách trên đang góp phần hoàn
thiện hành lang pháp lý, tạo nền tảng để các tỉnh áp dụng cơ chế kiểm tra, giám
sát DN hiệu quả, phù hợp thực tiễn - vừa đảm bảo quản lý nhà nước, vừa thúc đẩy
phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững.
3. Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát doanh nghiệp tại
Nghệ An
3.1. Tình hình phát triển doanh nghiệp tại Nghệ An
Giai đoạn 2020-2024, Nghệ An ghi nhận sự tăng trưởng ổn định
về số lượng DN, phản ánh nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát
triển kinh tế tư nhân của địa phương. Số
lượng DN thành lập mới trên
địa bàn tỉnh Nghệ An năm
2020 là 1.893
DN, năm 2021 là 2.323 DN, năm 2022 là 3.020 DN, năm 2023 là 2.019 DN, năm 2024
là 1.948 DN (Tuấn Quỳnh, 2024)
và đến tháng 6/2025 là 1.528 DN. Nhờ đó, giúp cho số lượng DN
đang hoạt động trên địa
bàn tỉnh trong 5 năm
qua cũng tăng lên: Năm2020 là 13.220, năm 2021 là 13.800 DN,
năm 2022 là
14.000 DN, năm 2023 là
14.000 DN, năm
2024 là 16.00 DN năm 2025 là 17.000 DN (Ngọc Tuấn, 2024; Thanh Duy, 2025),
Bảng 1: Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn
Nghệ An giai đoạn 2020-2025
(ĐVT:
Doanh nghiệp)
(Nguồn:
Tác giả tổng hợp)
Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển về số lượng,
nhiều DN cũng tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể do khó khăn trong sản xuất, vốn,
thị trường hoặc năng lực quản trị. Cụ
thể, năm 2020 là 1.376 DN, năm 2021 là 1.034 DN, năm 2022 là 1.948 DN, năm 2023
là 1.794 DN, năm 2024 là 1.785 DN (Nguyễn Anh Ngọc, 2024) và 6 tháng đầu ăm 2025 là khoảng 1.000 DN.
3.2. Công tác kiểm tra, giám sát doanh nghiệp tại Nghệ An
Công tác kiểm tra, giám sát DN tại Nghệ An được thực hiện
bởi nhiều các sở, ngành
chuyên ngành: Sở Tài chính, chi cục Thuế tỉnh, Thanh tra tỉnh, Nông nghiệp và Môi
trường, Công Thương, cùng các đoàn liên ngành do UBND tỉnh chủ trì. Hình thức
kiểm tra phổ biến gồm kiểm tra định kỳ theo kế hoạch hàng năm, kiểm tra đột xuất
khi có dấu hiệu vi phạm, và kiểm tra theo chuyên đề (ví dụ: an toàn lao động,
môi trường, khai thác khoáng sản, an toàn vệ sinh thực phẩm).
Về công tác kiểm tra, giám sát thị trường và xử lý vi phạm
hành chính
Trong những năm qua, lực lượng Quản lý thị trường Nghệ An
đã triển khai quyết liệt, góp phần quan trọng vào việc lập lại trật tự, kỷ
cương trong hoạt động kinh doanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo môi
trường cạnh tranh lành mạnh cho các DN. Trong năm 2021, đã phát hiện và xử lý
hơn 2.800 vụ gian lận thương mại, vi phạm về buôn bán hàng cấm, hàng giả, hàng
không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm trong lĩnh vực giá cả, ghi nhãn hàng hóa...
với tổng số tiền thu phạt hành chính gần 11 tỷ đồng. Nửa đầu năm 2023, công tác
kiểm tra tiếp tục được đẩy mạnh với 1.272 vụ được kiểm tra, trong đó phát hiện
và xử lý 1.202 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách nhà nước khoảng 4,02 tỷ đồng từ tiền
phạt vi phạm hành chính, tịch thu hàng hóa và các khoản thu khác. Đến quý III
năm 2024, lực lượng Quản lý thị trường tỉnh tiếp tục duy trì cường độ kiểm tra
với 848 vụ được thực hiện, trong đó 756 vụ có dấu hiệu vi phạm đã bị xử lý, cho
thấy tỷ lệ vi phạm còn khá cao trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh (Quốc
Huy, 2024). Những con số này phần nào phản ánh tính phức tạp và diễn biến khó
lường của thị trường, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát cần được tiếp tục
nâng cao về hiệu quả
và sự phối hợp liên ngành.
Về công tác đảm bảo an toàn lao động
Từ năm 2021 đến ngày 31/03/2024, các đoàn kiểm tra liên ngành tại Nghệ An đã tiến
hành thanh tra, giám sát tại hơn 1.000 cơ sở SXKD trên địa bàn toàn tỉnh. Hoạt động kiểm tra tập trung vào các lĩnh vực có
nguy cơ cao về mất an toàn như xây dựng, khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu
xây dựng, chế biến gỗ, công nghiệp nhẹ và các DN sử dụng nhiều lao động. Qua
quá trình thanh tra, lực lượng chức năng đã phát hiện 23 DN có vi phạm các quy
định về an toàn, vệ sinh lao động, trong đó chủ yếu là các lỗi liên quan đến việc
không tổ chức huấn luyện định kỳ cho người lao động, thiếu thiết bị bảo hộ lao
động, không thực hiện đánh giá nguy cơ rủi ro tại nơi làm việc, hoặc chậm báo
cáo về tai nạn lao động. Tổng số tiền xử phạt hành chính đối với các đơn vị vi
phạm là 648 triệu đồng (Thanh Nga (2024). Các đoàn kiểm tra
yêu cầu các DN nghiêm túc khắc phục tồn tại, bổ sung điều kiện an toàn lao động
theo quy định.
Về
tăng cường quản lý hoạt động khai thác khoáng sản
Năm
2020, Nghệ An tổ chức 86 đoàn thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản,
qua đó phát hiện 758 vụ vi phạm, gồm 748 vụ xử phạt hành chính và 9 vụ án hình
sự. Tổng số tiền truy thu thuế và xử phạt đạt hơn 25 tỷ đồng (Lan
Anh, 2022). Một số DN khai thác vượt công suất,
khai thác trái phép, trốn thuế, kê khai sản lượng thấp. Điển hình có trường hợp
được cấp phép khai thác 87.000 tấn quặng thiếc trong 30 năm, nhưng riêng năm
2020 đã khai thác tới 104.000 tấn (Việt Hương, 2021). Doanh thu toàn ngành đạt khoảng
869 tỷ đồng. Năm 2025, Đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành kiểm tra việc chấp
hành pháp luật của 53 DN khai thác cát, sỏi lòng sông trên địa bàn tỉnh, với thời
hạn thực hiện là 90 ngày. Trong quá trình triển khai, đoàn đã kiểm tra thực địa
tại 12 DN, phát hiện nhiều sai phạm như khai thác vượt công suất, sai thiết kế
mỏ, vi phạm quy định về an toàn lao động và môi trường. Từ đó, đoàn kiến nghị xử
phạt hành chính với tổng số tiền lên tới 2,416 tỷ đồng (Nhật Lân, 2025). Đối với 41 DN
còn lại, đoàn đã hoàn tất kiểm tra hiện trạng và đang tiếp tục rà soát hồ sơ
pháp lý, xác minh vi phạm. Do tính chất công việc phức tạp và cần mở rộng đối
tượng kiểm tra, UBND tỉnh đã gia hạn thêm 60 ngày để hoàn tất quá trình kiểm
tra toàn diện.
Ngoài ra, tại một số địa phương như huyện Nghi Lộc, có 18 DN được cấp phép
khai thác khoáng sản, phần lớn được đánh giá là thực hiện đúng tiến độ và quy định.
Trước đó, trong năm 2022, các cơ quan chức năng cũng từng xử lý nhiều vi phạm,
tiêu biểu là Công ty TNHH Hồng Trường bị xử phạt vì khai thác sai thiết kế mỏ,
vi phạm quy định về vật liệu nổ và an toàn lao động (Phan Huy, 2022).
Về công tác kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm
Giai đoạn 2021 - 2024, công tác kiểm tra, giám sát an
toàn thực phẩm trên địa bàn Nghệ An đã được triển khai tích cực. Tỉnh có hơn
48.000 cơ sở SXKD thực phẩm được phân cấp quản lý cho ba ngành: Y tế, Nông nghiệp
và Công Thương. Các sở, ngành và đoàn liên ngành đã tiến hành 3.287 lượt thanh
tra, kiểm tra đối với hơn 40.000 cơ sở, phát hiện và xử phạt 1.590 cơ sở vi phạm
với tổng số tiền hơn 3,6 tỷ đồng (UBND tỉnh Nghệ An, 2024). Các lỗi vi phạm phổ biến gồm: không đảm bảo điều kiện
vệ sinh, không lưu mẫu thực phẩm, bảo quản sai quy cách, nhân viên không có bảo
hộ đầy đủ... Dù tình hình an toàn thực phẩm cơ bản được kiểm soát, vẫn còn những
hạn chế: mô hình quản lý phân tán, thiếu nhân lực chuyên trách ở cấp huyện, xã;
hệ thống dữ liệu chưa được liên thông; phối hợp liên ngành chưa hiệu quả; khó
khăn trong kiểm soát cơ sở nhỏ lẻ, vùng sâu, vùng xa. Một số cơ sở vẫn chạy
theo lợi nhuận, sử dụng nguyên liệu kém chất lượng, gây nguy cơ mất an toàn thực
phẩm và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.
Công tác kiểm tra, giám sát thuế tại Nghệ An
Giai đoạn
đầu năm 2024 cho thấy nhiều chuyển biến nhưng vẫn còn tồn tại đáng kể về tình
trạng nợ đọng thuế. Theo số liệu từ cơ quan chức năng, tính đến ngày 30/6/2024,
tổng số nợ đọng thuế trên địa bàn tỉnh đã lên tới hơn 3.700 tỷ đồng, chiếm khoảng
26% tổng dự toán thu ngân sách năm 2024 - một tỷ lệ khá cao, cho thấy áp lực lớn
đối với công tác thu ngân sách địa phương cũng như yêu cầu tăng cường quản lý
thuế. Trong báo cáo kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2024, Nghệ An đã tiến hành
kiểm tra thuế tại 24/34 DN theo kế hoạch, đạt 71% kế hoạch năm. Qua kiểm tra,
cơ quan thuế phát hiện nhiều sai phạm và thực hiện truy thu và xử phạt tổng cộng
5.343 triệu đồng, trong đó số tiền truy thu thuế là 3.973 triệu đồng, còn lại
1.370 triệu đồng là tiền xử phạt vi phạm hành chính về thuế (Hồng Lan. 2024).
Những con số này phản ánh sự chủ động trong thanh tra thuế nhưng cũng cho thấy
vẫn còn tồn tại không nhỏ về chấp hành nghĩa vụ thuế của một bộ phận DN trên địa
bàn.
3.3. Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong công tác kiểm
tra, giám sát doanh nghiệp tại Nghệ An
Mặc dù tỉnh Nghệ An đã có nhiều nỗ lực cải thiện hoạt động
kiểm tra, giám sát DN, nhưng thực tế vẫn tồn tại một số hạn chế.
Thứ nhất, tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong thanh
tra, kiểm tra vẫn diễn ra phổ biến. Nhiều DN phản ánh phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra từ các
cơ quan khác nhau với nội dung tương tự, gây tốn thời gian, gia tăng chi phí
tuân thủ và ảnh hưởng đến hoạt động SXKD. Kết quả điều tra PCI 2023 cũng cho thấy
mức độ chồng chéo trong kiểm tra vẫn là vấn đề nổi cộm ở địa phương.
Thứ hai, năng lực và điều kiện kỹ thuật của các cơ quan
giám sát còn hạn chế. Việc kiểm tra các hoạt động trên môi trường số - như
thương mại điện tử, gian lận trực tuyến, trốn thuế qua nền tảng số - gặp nhiều
khó khăn do thiếu dữ liệu, hạn chế về nhân lực có kỹ năng số và thiếu công cụ
phân tích hiện đại. Các vụ việc liên quan đến hàng giả, tài khoản ảo, giao dịch
ẩn danh thường kéo dài do khó thu thập bằng chứng.
Thứ ba, hành vi đối phó, che giấu vi phạm của một bộ phận
DN làm giảm hiệu quả kiểm tra. Một số DN lập báo cáo thiếu trung thực, trì hoãn cung cấp
hồ sơ, hoặc sử dụng các giấy phép và bản tự công bố chưa đầy đủ, khiến cơ quan
chức năng khó phát hiện và xử lý vi phạm kịp thời.
Thứ tư, tâm lý e ngại, thiếu hợp tác của DN với cơ quan
kiểm tra vẫn tồn tại. Nỗi lo về thanh tra chồng chéo, chi phí không chính thức
hoặc tác động tiêu cực từ hoạt động kiểm tra khiến một số DN hạn chế tương tác,
chưa chủ động minh bạch. Điều này làm suy giảm hiệu quả giám sát và ảnh hưởng đến
niềm tin của DN đối với chính quyền.
Những hạn chế nêu trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân chủ
yếu. Thứ nhất, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan còn thiếu hiệu quả. Việc
phân công trách nhiệm, chia sẻ thông tin và xây dựng kế hoạch kiểm tra chưa đồng
bộ, dẫn đến trùng lặp đoàn kiểm tra và chồng chéo nội dung. Thứ hai, hệ thống
dữ liệu và ứng dụng công nghệ giám sát còn yếu. Dữ liệu về doanh nghiệp,
thuế, hồ sơ pháp lý và hoạt động trực tuyến chưa được tích hợp tập trung hoặc cập
nhật theo thời gian thực, khiến việc phát hiện vi phạm chậm và kém chính xác. Thứ
ba, khung pháp lý còn bất cập. Một số quy định về kiểm tra chuyên ngành, chế
tài xử phạt, nghĩa vụ báo cáo và quản lý hoạt động số chưa theo kịp thực tiễn,
đặc biệt đối với vi phạm tinh vi trên môi trường mạng. Thứ tư, quy trình kiểm
tra thiếu minh bạch. Các bước từ lập kế hoạch, lựa chọn đối tượng đến công
bố kết quả chưa được công khai đầy đủ, gây khó khăn cho DN trong tuân thủ. Thứ
năm, năng lực cán bộ không đồng đều. Nhiều đơn vị cơ sở còn thiếu chuyên
môn, thiếu thiết bị hỗ trợ và chưa được đào tạo sâu về kỹ thuật, nhất là các
lĩnh vực đòi hỏi kiến thức công nghệ, môi trường hoặc an toàn lao động.
4. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát doanh
nghiệp tại Nghệ An
4.1.
Hoàn thiện cơ chế phối hợp và phân công rõ ràng giữa các cơ quan
Một
trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong kiểm
tra DN tại Nghệ An là do thiếu sự phân công và phối hợp rõ ràng giữa các cơ
quan chức năng. DN hiện nay có thể bị kiểm tra cùng một nội dung bởi nhiều cơ
quan khác nhau như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế, Quản lý thị trường, Thanh
tra tỉnh... mà không có cơ chế chia sẻ thông tin. Việc hoàn thiện cơ chế phối hợp
và phân công rõ ràng giữa các cơ quan là bước cơ bản để giảm trùng lặp và lãng
phí nguồn lực. Theo tinh thần của Nghị quyết
68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư
nhân, Nhà nước hướng tới chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng
chéo, và quy định mỗi DN chỉ bị kiểm tra một lần/năm trừ khi có dấu hiệu vi phạm
nghiêm trọng. Để thực hiện điều này, cần xác định đầu mối điều phối kiểm tra DN
ở cấp tỉnh (ví dụ Ban Chỉ đạo liên ngành) để phân công nhiệm vụ cho các sở,
ngành; xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng, chia sẻ thông tin kiểm tra, tránh triển
khai các đoàn kiểm tra độc lập không đồng bộ.
4.2.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số
Việc
ứng dụng công nghệ là xu thế tất yếu giúp nâng cao hiệu quả kiểm tra và giảm phụ
thuộc vào phương pháp truyền thống. Nghệ An cần đầu tư xây dựng hệ thống giám
sát dữ liệu DN tập trung, kết nối giữa các sở, ngành, để nắm bắt tình trạng hoạt
động của DN theo thời gian thực. Việc ứng dụng Big Data và trí tuệ nhân tạo
(AI) trong phân tích rủi ro DN đã được khuyến nghị trong các chính sách quốc
gia. Các công nghệ này có thể phát hiện bất thường trong doanh thu, chi phí,
dòng tiền hay hành vi kê khai của DN - từ đó hỗ trợ xác định đối tượng cần kiểm
tra thay vì chọn ngẫu nhiên. Tiếp tục thực hiện Kế hoạch số 244/KH-UBND ngày
10/4/2023 để phát triển “doanh nghiệp công nghệ số” trên địa bàn tỉnh. Mục
tiêu:đến năm 2030, trên 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuyển đổi số, tỷ
lệ sử dụng hợp đồng điện tử cao, kinh doanh trên sàn thương mại điện tử. Phục vụ
mục tiêu đó, các cơ quan nhà nước cần thực hiện tốt “Quy chế quản lý, kết nối
và chia sẻ dữ liệu số của các cơ quan nhà nước tỉnh Nghệ An”.
4.3.
Nâng cao năng lực đội ngũ kiểm tra, giám sát
Đội
ngũ cán bộ kiểm tra, giám sát là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng công
tác kiểm tra. Cần tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ
thanh tra, kiểm toán, công nghệ thông tin và kỹ năng phân tích số liệu. Đồng thời,
phải tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, công khai kết quả xử lý vi phạm nếu
có hành vi nhũng nhiễu DN. Bên cạnh đó, nên minh bạch hóa toàn bộ quy trình
thanh, kiểm tra: từ việc xây dựng kế hoạch, tiêu chí lựa chọn DN, đến thông báo
kiểm tra và kết quả xử lý vi phạm. Việc này không chỉ tăng cường trách nhiệm của
cán bộ mà còn tạo niềm tin từ phía DN.
4.4.
Tạo môi trường minh bạch, khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ
Thay
vì chỉ tập trung vào xử phạt sau vi phạm, tỉnh nên đẩy mạnh các giải pháp phòng
ngừa, hướng tới môi trường tuân thủ chủ động. Cụ thể, cần: Một là, công bố công
khai quy trình kiểm tra, tiêu chí lựa chọn đối tượng kiểm tra để DN hiểu và chủ
động tuân thủ. Hai là, tổ chức các hội thảo, tọa đàm, chương trình hướng dẫn
pháp lý giúp DN cập nhật quy định mới về thuế, lao động, môi trường, an toàn thực
phẩm, v.v. Ba là, phối hợp với các hiệp hội ngành nghề, tổ chức tư vấn để hỗ trợ
DN tự kiểm tra và chuẩn hóa hồ sơ. Ngoài ra, áp dụng chính sách “hậu kiểm” đối
với DN tuân thủ tốt cũng là hướng đi phù hợp với Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển
kinh tế tư nhân, giảm áp lực kiểm tra hành chính, tăng niềm tin thị trường.
4.5.
Nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng đối với doanh nghiệp
Việc tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng là một
trong những biện pháp quan trọng để thúc đẩy DN hoạt động minh bạch, tuân thủ
pháp luật tại Nghệ An. Trước hết, cần đẩy mạnh hoạt động kiến nghị và phản ánh
thông qua các kênh chính thức như Cổng thông tin tiếp nhận phản ánh của tỉnh, Mặt
trận Tổ quốc, Hội DN, các tổ chức xã hội dân sự. Việc này không chỉ giúp phát
hiện vi phạm mà còn tăng tính trách nhiệm của DN khi biết rằng cộng đồng đang
quan sát. Thứ hai, cơ chế đối thoại thường xuyên giữa chính quyền, DN và người
dân nên được tổ chức định kỳ. Các hội nghị đối thoại như “Công an tỉnh đối thoại
với DN về bảo đảm an ninh trật tự” gần đây đã tạo diễn đàn để DN và người dân
phản ánh trực tiếp những khó khăn, vi phạm, đồng thời thúc đẩy chính quyền lắng
nghe, điều chỉnh quy định. Thứ ba, hỗ trợ và khuyến khích vai trò của Công đoàn
và tổ chức lao động trong giám sát nội bộ DN, đặc biệt về an toàn lao động, bảo
hiểm, quyền lợi người lao động. Luật Công đoàn 2024 quy định rõ quyền giám sát
của Công đoàn, bao gồm việc chủ trì hoặc tham gia giám sát với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Cuối cùng, công khai minh bạch thông tin là then chốt: công bố
danh sách DN được kiểm tra, nội dung, tiêu chí kiểm tra, kết quả xử lý vi phạm;
thông tin này nên được phổ biến rộng rãi qua báo chí địa phương, trang web tỉnh,
mạng xã hội để cộng đồng dễ tiếp cận và giám sát.
5.
Kết luận
Công
tác kiểm tra, giám sát DN đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm kỷ cương
pháp luật, thúc đẩy môi trường kinh doanh minh bạch và hướng đến phát triển
kinh tế bền vững tại Nghệ An. Trong bối cảnh tỉnh đang thu hút mạnh đầu tư, gia
tăng số lượng DN và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, yêu cầu nâng cao hiệu quả
công tác này càng trở nên cấp thiết.
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bài viết đề xuất một số giải
pháp trọng tâm như: hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng; đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giám sát DN; nâng cao
năng lực đội ngũ kiểm tra; tăng cường minh bạch và khuyến khích DN tự tuân thủ
pháp luật; đồng thời xây dựng chính sách phù hợp với đặc thù địa phương. Những
giải pháp này có tính khả thi cao nếu được triển khai đồng bộ, với sự vào cuộc
của chính quyền, sự phối hợp giữa các sở, ngành và sự ủng hộ từ cộng đồng DN.
Qua đó, Nghệ An có thể thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả, giảm thiểu tiêu cực,
hỗ trợ DN phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa
phương.
Bài viết đề cập đến vai trò quan trọng của IFRS trong việc cải thiện chất lượng báo cáo tài chính. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là định tính, với kỹ thuật chủ yếu là thu thập tài liệu. Nhóm tác giả đã tìm hiểu rằng việc áp dụng IFRS giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình lập báo cáo tài chính, từ đó giảm thiểu rủi ro gian lận và sai sót báo cáo tài chính.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, hệ thống pháp luật Việt Nam đang chứng kiến những cải cách toàn diện về chính sách thuế và bảo hiểm xã hội, đặc biệt từ tháng 6/2025 đến nay.
Trong cơ cấu quản trị khu vực công, kiểm toán nội bộ (KTNB) đóng vai trò quan trọng như một công cụ kiểm soát, giám sát và hỗ trợ tư vấn. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động tài chính - ngân sách.