Lạm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Phạm Ngọc Hòa Thứ tư, 14/01/2026 08:14 (GMT+7)

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến ở mọi quốc gia, bất kể đó là nền kinh tế phát triển hay đang phát triển. Ở Việt Nam lạm phát được kiểm soát khá tốt. Điều này là do Chính phủ có các biện pháp điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô, qua đó góp phần đảm bảo cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng bền vững. Bài viết phân tích thực trạng lạm phát và kiểm soát ở Việt Nam, giai đoạn 2016 – 2024. Qua đó, nghiên cứu đưa ra hàm ý chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

1. Đặt vấn đề

Lịch sử kinh tế hiện đại cho thấy, lạm phát là hiện tượng kinh tế phổ biến, xảy ra ở mọi quốc gia bất kể đó là nền kinh tế phát triển hay đang phát triển. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về lạm phát, song tất cả các nước đều thấy rằng có lạm phát thì phải có kiểm soát lạm phát. Song, kiểm soát lạm phát phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một chính sách kiểm soát lạm phát hợp lý không thể hướng tới mục tiêu giảm lạm phát bằng mọi giá. Điều quan trọng là, lạm phát cần được kiểm soát trong phạm vi có lợi cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Tạo dựng được niềm tin của người dân vào chính sách và giảm kỳ vọng về lạm phát tương lai là nhân tố then chốt quyết định thành công của các chương trình chống lạm phát. Dường như ở mỗi quốc gia đều tồn tại một phạm vi lạm phát ở ngưỡng “an toàn” có lợi cho tăng trưởng kinh tế.

Ở Việt Nam, thời gian qua lạm phát đã được kiểm soát, tuy nhiên vẫn còn diễn biến phức tạp do chịu tác động từ các yếu tố khách quan và chủ quan từ nền kinh tế thế giới và trong nước. Với những diễn biến phức tạp đó, Chính phủ đã đưa ra những chính sách nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như: chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá,… và bước đầu đạt được kết quả tích cực. Vấn đề đặt ra là, điều gì đã gây ra sự biến động mạnh của lạm phát thời gian qua; phải chăng lạm phát thực sự có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế; nếu có, lạm phát nên duy trì trong phạm vi nào để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững; một khi nền kinh tế phải đối mặt với áp lực lạm phát dâng cao, chính sách nào cần thực hiện để kiểm soát được lạm phát với chi phí thấp nhất. Hay kiểm soát lạm phát phải đặt trong mối quan hệ với các biến số kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế. Việt Nam phải có kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. Điều quan trọng là cần phải kiểm soát được lạm phát trong phạm vi được coi là có lợi cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

2. Nội dung

2.1. Khái niệm về lạm phát và chỉ số đo lường lạm phát

Lạm phát là một hiện tượng phổ biến được mọi người đặc biệt quan tâm. Lạm phát là hiện tượng trong đó mức giá chung của nền kinh tế liên tục tăng lên. Theo M. Friedman (1970) lạm phát là một điều kiện trong đó có sự dư cầu nói chung tức là lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều để theo đuổi một khối lượng hàng hóa có hạn. Hay lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là hiện tượng tiền tệ,… và nó chỉ xuất hiện khi lượng tiền tăng nhanh hơn sản lượng. Theo Thuật ngữ Kinh tế (2015), lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của toàn nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Từ các quan niệm trên có thể hiểu, lạm phát về cơ bản là một hiện tượng tiền tệ, trong đó mức giá chung của nền kinh tế liên tục tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định. Nguyên nhân gây ra lạm phát có thể xảy ra do tổng cầu tăng (lạm phát do cầu kéo) hoặc do tổng cầu giảm (lạm phát do chi phí đẩy).

Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ vượt quá nguồn cung cấp hiện tại. Trong điều kiện bình thường giá cả hàng hóa dao động quanh mức giá ổn định do cân bằng cung cầu. Tuy nhiên, khi cầu đột ngột thay đổi do một nguyên nhân nào đó trong khi nguồn cung chưa kịp thay đổi sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng vọt. Còn lạm phát do chi phí đẩy gây ra bởi sự gia tăng chi phí của hàng hóa, dịch vụ đầu vào quan trọng mà không có hàng hóa dịch vụ thay thế phù hợp có sẵn làm cho giá cả hàng hóa đầu ra tăng.

Trong trường hợp lạm phát do cầu kéo, cả lạm phát và tăng trưởng kinh tế có xu hướng tăng. Ngược lại, đối với lạm phát do chi phí đẩy, lạm phát cao đi cùng tình trạng đình trệ sản xuất: số lượng giảm và thất nghiệp gia tăng. Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cơ chế lan truyền lạm phát quốc tế cũng là một kênh quan trọng gây ra những biến động của mức giá chung trong nước.

Để đo lường mức độ lạm phát trong nền kinh tế, các nhà thống kê thường sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index) hoặc chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator) để phản ánh mức giá. Theo đó, CPI được sử dụng phổ biến nhất để đo lường lạm phát, CPI là thước đo chi phí sinh hoạt, tức là thước đo chi phí mà người tiêu dùng điển hình trả cho các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu cá nhân hàng ngày. Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng, người dân phải chi tiêu nhiều tiền hơn trước để duy trì mức sống cũ. Còn chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator) đo lường mức giá trung bình của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước. Nó được tính bằng tỷ số GDP danh nghĩa và GDP thực tế. GDP Deflator thường dùng trong phân tích vĩ mô tổng thể.

2.2. Thực trạng lạm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2016 - 2024

Lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2024 luôn nằm trong tầm kiểm soát, phù hợp mục tiêu đề ra. CPI duy trì dưới 4% liên tục trong 10 năm, dù trải qua nhiều biến động lớn (dịch Covid-19, biến động giá dầu, bất ổn kinh tế thế giới). Việc duy trì ổn định CPI đã góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư, ổn định đời sống người dân và tạo dư địa chính sách để hỗ trợ phục hồi kinh tế. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) phản ánh mức biến động giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, từ đó cho thấy sức ép lạm phát trong nền kinh tế. Theo mục tiêu điều hành của Quốc hội và Chính phủ, CPI hằng năm được kiểm soát ở mức dưới 4% nhằm duy trì ổn định vĩ mô, bảo đảm đời sống dân cư và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế. Dữ liệu giai đoạn 2016 - 2024 cho thấy, CPI của Việt Nam dao động trong khoảng 1,84% – 3,63%, thấp hơn ngưỡng mục tiêu (Biểu đồ 1). Điều này chứng tỏ chính sách kiểm soát lạm phát trong giai đoạn vừa qua đạt được hiệu quả tích cực.

Giai đoạn 2016 - 2019, lạm phát ổn định dưới 4%, chỉ số CPI dao động từ 2,66% (năm 2016) đến 3,54% (năm 2018). Đây là mức thấp, ổn định và phù hợp mục tiêu kiểm soát lạm phát. Đồng thời, GDP duy trì tốc độ tăng trưởng cao (từ 6,21% đến 7,08%). Việc CPI ổn định cho thấy tăng trưởng kinh tế không gây áp lực lạm phát, phản ánh sự phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ và tài khóa. Đây là giai đoạn mà tổng cung và tổng cầu cân đối tương đối hài hòa, tạo nền tảng ổn định vĩ mô. Trong giai đoạn 2020 - 2021, lạm phát thấp do tác động đại dịch COVID-19. Theo đó, CPI ở mức 3,23%, trong khi năm 2021 giảm còn 1,84% – mức thấp nhất trong vòng một thập kỷ. GDP cùng thời kỳ suy giảm mạnh (chỉ 2,91% và 2,58%). Nguyên nhân chính là tác động của đại dịch COVID-19 nên cầu tiêu dùng giảm sâu do phong tỏa, giãn cách xã hội và thu nhập của hộ gia đình suy giảm. Sự suy giảm này dẫn đến tình trạng gần như “thiểu phát”, phản ánh tổng cầu yếu, sức mua giảm sút. Như vậy, giai đoạn này minh chứng cho mối quan hệ trực tiếp giữa suy giảm tăng trưởng và mức lạm phát thấp. Đến giai đoạn 2022 – 2024, lạm phát tăng trở lại nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Khi nền kinh tế mở cửa trở lại, CPI có xu hướng tăng nhẹ từ 3,15% (năm 2022), 3,25% (năm 2023) và 3,63% (năm 2024). Tăng trưởng GDP phục hồi rõ rệt, đạt đỉnh 8,02% năm 2022, sau đó điều chỉnh còn 5,05% năm 2023 và 7,09% năm 2024. Sự gia tăng CPI giai đoạn này phản ánh áp lực chi phí đẩy từ giá năng lượng, nguyên liệu nhập khẩu, cùng với sự phục hồi của tổng cầu trong nước. Tuy nhiên, việc CPI vẫn duy trì dưới ngưỡng 4% cho thấy khả năng điều hành chính sách tiền tệ – tài khóa hiệu quả, cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát giá cả.

Riêng 6 tháng đầu năm 2025, CPI đạt 3,27%, trong khi GDP đạt 7,52%, (Biểu đồ 1). Đây là tín hiệu tích cực: nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng không gây ra lạm phát vượt kiểm soát. Điều này cho thấy, chính sách điều hành giá cả, kiểm soát cung – cầu thị trường và ổn định tỷ giá tiếp tục phát huy tác dụng.

Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP và chỉ số lạm phát giai đoạn 2016 - 2024

(Nguồn: Số liệu của Cục Thống kê qua các năm)

Để ổn định vĩ mô, thúc đẩy sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp góp phấn tăng trưởng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, ngày 05/8/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 226/NQ-CP về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực, địa phương và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Theo đó, Chính phủ phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,3 - 8,5%, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI (lạm phát) bình quân năm 2025 dưới 4,5%, tổng đầu tư toàn xã hội năm 2025 tăng 11 - 12%. Đồng thời, giao Ngân hàng Nhà nước nắm chắc tình hình và điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, đồng bộ chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác; ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, quyết liệt, chủ động điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng, kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, áp lực lạm phát hiện nay không phải lạm phát thông thường (bao gồm giá thực phẩm, năng lượng thường xuyên biến đổi), mà vấn đề đáng lo ngại là tiền đồng của Việt Nam có xu hướng mất giá, theo đó tỉ giá của VND mất giá khá nhiều so với USD và ngoại tệ của một số nước trong khu vực như Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore (Nguyễn Quốc Việt, 2025). Trong bối cảnh này, khi áp lực mất giá đồng nội tệ đến một mức nào đó sẽ đẩy vào giá cả hàng hóa tăng. Đây là chi phí đẩy khi nền sản xuất của Việt Nam nhập khẩu nguyên, nhiên liệu đầu vào lớn. Ngoài nhập khẩu phục vụ cho xuất khẩu, chúng ta còn nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng trong nước, làm tăng áp lực lạm phát. Mặt khác, Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư công với những công trình, dự án lớn hàng tỉ USD nhưng vẫn phải nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu rất lớn từ bên ngoài, nhu cầu USD rất lớn. Vì thế, nếu không huy động thêm dòng ngoại tệ từ bên ngoài thì áp lực tỉ giá cũng sẽ lớn hơn, đẩy chi phí lên cao, gây áp lực ngược lại với giá cả trong nước. Tuy nhiên, tỉ giá đang chịu áp lực khá lớn do tác động kép từ yếu tố kinh tế và tâm lý thị trường. Tính đến nay, tỉ giá VND/USD đã tăng 2,9% so với cuối năm 2024 (Nguyễn Thị Hồng, 2025).

Ngoài ra, áp lực lạm phát từ giá nhà ở, vật liệu xây dựng. Trong số 11 nhóm hàng hóa của rổ CPI hiện nay thì nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng chịu áp lực tăng lớn vì giá nhà đất tăng cao trong thời gian qua. Bên cạnh đó, nếu giá xăng dầu tăng trong những tháng cuối năm sẽ tác động lớn tới lạm phát cả năm vì đây là nhiên liệu đầu vào cho sản xuất, vận tải.

Qua phân tích diễn biến lạm phát giai đoạn 2016 - 2024 và 6 tháng đầu năm 2025 có thể thấy, Việt Nam đã kiểm soát lạm phát thành công trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, tạo môi trường ổn định cho tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực từ bên ngoài (giá năng lượng, xung đột địa chính trị, biến động tỷ giá) và bên trong (chi phí sản xuất, nhu cầu tiêu dùng gia tăng) vẫn hiện hữu. Chỉ số lạm phát (CPI) giai đoạn 2016 - 2024 và 6 tháng đầu năm 2025 luôn duy trì ở mức dưới 4%, phù hợp với mục tiêu điều hành của Quốc hội. Tuy nhiên, lạm phát có xu hướng gia tăng trong giai đoạn 2022 - 2024, chủ yếu do áp lực giá cả hàng hóa thế giới, chi phí sản xuất trong nước tăng và cầu tiêu dùng phục hồi mạnh. Điều này đặt ra yêu cầu cần có hàm ý chính sách phù hợp để vừa duy trì ổn định vĩ mô, vừa bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững.

Trong thời gian tới, Việt Nam vẫn cần ổn định lạm phát ở mức một con số. Trong điều kiện bình thường, Việt Nam có thể duy trì mức lạm phát trong phạm vi 5-7%, đây là khoảng lạm phát an toàn vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Trong bối cảnh kinh tế ở Việt Nam hiện nay không nên tìm cách kiểm soát lạm phát dưới 5%, bởi điều này đòi hỏi Chính phủ sẽ phải theo đuổi các chính sách tài khóa và tiền tệ quá thận trọng. Muốn duy trì lạm phát thấp, Chính phủ sẽ không thể để ngân sách thâm hụt, do đó nhiều dự án đầu tư lớn phục vụ an sinh xã hội sẽ không được thực hiện; khi đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ buộc phải thắt chặt tiền tệ và do đó tín dụng sẽ cực kỳ khan hiếm và khó tiếp cận, lãi suất sẽ rất cao mà hệ quả tất yếu là hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của các doanh nghiệp sẽ bị đình trệ và nền kinh tế sẽ không thể tăng trưởng nhanh trong bối cảnh đó. Do vậy, Chính phủ cần phải có quan điểm toàn diện và tầm nhìn dài hạn khi xem xét lạm phát, phải đặt lạm phát trong mối quan hệ với các biến số kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế. Một chương trình kiểm soát lạm phát hợp lý không thể hướng tới mục tiêu giảm lạm phát bằng mọi giá, đặc biệt không thể thắt chặt tài khóa và tiền tệ quá mức với tham vọng thủ tiêu lạm phát. Điều quan trọng là cần phải kiểm soát được lạm phát trong một phạm vi được coi là an toàn và có lợi cho tăng trưởng kinh tế dài hạn.

2.3 Hàm ý chính sách

Một là, về chính sách tài khóa

- Đối với chính sách thuế: Để kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý và tạo điều kiện cho sản xuất và xuất khẩu phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chính sách thuế cần được điều chỉnh theo hướng giảm dần thuế suất, mở rộng phạm vi, đối tượng thu thuế, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế giữa các cá nhân, các thành phần kinh tế, để vừa đảm bảo nhiệm vụ chi, mặt khác nuôi dưỡng nguồn thu, để lại một phần tích đáng cho doanh nghiệp đầu tư phát triển.

- Nâng cao hiệu quả trong việc quản lý chi tiêu công, cần thiết lập một cơ chế quản lý chi ngân sách Nhà nước trong khuôn khổ tài chính trung hạn và dài hạn, tránh tình trạng chi tiêu mang tính đối phó, tình thế, thiếu tính chủ động và bền vững. Tập trung nâng cao hiệu quả đầu tư và đổi mới căn bản quan điểm phân bổ nguồn lực của Nhà nước cho đầu tư theo hướng nguồn vốn ngân sách Nhà nước chỉ dành cho những công trình trọng điểm quốc gia, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải; qua đó phát huy vai trò chủ đạo và hiệu lực điều tiết của Nhà nước.

- Đảm bảo không để thâm hụt ngân sách, theo đó, ngân sách chỉ nên thâm hụt trong phạm vi cho phép khoảng 4-5% GDP. Tuy nhiên, chính sách tài khóa không nên thắt chặt quá mức, bởi điều này sẽ gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Điều quan trọng trong việc điều hành chính sách tài khóa là cần bảo đảm thâm hụt ngân sách trong phạm vi có thể quản lý được, tức là ở mức có thể bù đắp được mà không gây mất ổn định kinh tế vĩ mô.

Hai là, về chính sách tiền tệ

- Ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát. Ngân hàng Nhà nước cần điều tiết sao cho tổng cầu không tăng trưởng quá nhanh với hậu quả là lạm phát cao, cũng như không tăng trưởng quá thấp với hậu quả là thất nghiệp cao và tăng trưởng kinh tế chậm. Cho nên, Việt Nam cần ưu tiên cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Nếu chính sách tiền tệ ổn định thì có thể mang lại sự phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả và tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.

- Lựa chọn lãi suất làm mục tiêu trung gian cho chính sách tiền tệ. Thực tế cho thấy, thị trường tài chính ở Việt Nam đã, đang và sẽ còn biến động mạnh. Đây là một nguồn quan trọng gây bất ổn kinh tế vĩ mô ở Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chọn lãi suất là mục tiêu trung gian cho chính sách tiền tệ, thì cung tiền sẽ được tự động điều chỉnh phù hợp với biến động của cầu tiền để duy trì lãi suất ở mức mục tiêu và kết quả là tổng cầu, lạm phát và thu nhập sẽ không bị ảnh hưởng bởi các cú sốc trên thị trường tài chính.

- Chính sách tiền tệ phải được thực thi một cách nhất quán và có lộ trình rõ ràng tránh gây ra các cú sốc, đặc biệt là đối với hệ thống ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh cạnh tranh thương mại toàn cầu, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần truyền đi một thông điệp rõ ràng và nhất quán về cam kết đạt được và duy trì lạm phát ở mức mục tiêu, đồng thời các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cũng phải sẵn sàng chấp nhận hy sinh các mục tiêu khác để tập trung cho mục tiêu chống lạm phát. Chính sách tiền tệ phải hướng tới một môi trường tài chính lành mạnh và ổn định kinh tế vĩ mô.

Ba là, về chính sách tỷ giá hối đoái

- Điều chỉnh linh hoạt phù hợp với xu hướng thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tỷ giá hối đoái nói riêng phải điều chỉnh linh hoạt, thích ứng với môi trường quốc tế thường xuyên thay đổi. Tính linh hoạt đòi hỏi việc điều hành phải phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và phù hợp với trình độ, hành vi của các tác nhân kinh tế, góp phần thực hiện các mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ.

- Tăng cường sự phối hợp giữa chính sách tỷ giá hối đoái với các chính sách khác, trước hết là chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và chính sách thương mại. Chính vì vậy, việc hoàn thiện chính sách tỷ giá phải chú ý cân nhắc kết hợp hài hòa lợi ích của cả hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, lợi ích của các nhóm dân cư, góp phần thúc đẩy quá trình điều chỉnh cơ cấu theo hướng có lợi cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.

- Thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có sự điều tiết của Nhà nước. Điều đó có nghĩa là tỷ giá hối đoái về cơ bản phải do thị trường quyết định, nhưng Ngân hàng Nhà nước vẫn cần can thiệp khi cần thiết nhằm hạn chế những biến động quá nhanh hay quá mạnh của của tỷ giá hối đoái gây rủi ro cho các hoạt động kinh tế quốc tế. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước có thể chủ động sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái để góp phần thực hiện các mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ.

3. Kết luận

Kiểm soát lạm phát nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là một vấn đề đang đặt ra cấp thiết. Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn, hết sức phức tạp, đặc trong trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Cho nên, để kiểm soát lạm phát cần có sự phối hợp giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa, tiền tệ và tỷ giá hối đoái. Theo đó, chính sách tài khóa cần nới lỏng thông qua tăng chi tiêu và giảm thuế nhằm kích cầu khi nền kinh tế đối mặt với suy giảm tăng trưởng kinh tế và ngược lại chính sách tài khóa cần thắt chặt khi nền kinh tế phát triển quá nóng. Trong chính sách tiền tệ cần ưu tiên cho mục tiêu kiểm soát lạm phát và coi lãi suất là mục tiêu trung gian. Chính sách tiền tệ phải được thực thi một cách nhất quán và có lộ trình rõ ràng tránh gây ra các cú sốc, nhằm củng cố lòng tin của người dân vào đồng nội tệ và chính sách tiền tệ, góp phần giảm kỳ vọng về lạm phát. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách tỷ giá hối đoái cần được sử dụng như là một công cụ quan trọng để điều tiết các quan hệ kinh tế quốc tế. Do vậy, chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam cần điều chỉnh linh hoạt theo hướng thị trường, nhưng Nhà nước cần can thiệp vào thị trường ngoại hối khi cần thiết nhằm hạn chế những biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái.

Để hiện thực hóa các chính sách trên, Việt Nam vẫn cần kiểm soát lạm phát ở mức một con số. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát không nên quá thấp dưới 5% bởi điều này đòi hỏi Chính phủ sẽ phải theo đuổi các chính sách tài khóa và tiền tệ quá thận trọng, do vậy sẽ không có lợi cho tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, các chính sách cần phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, nhất quán với nhau để củng cố lòng tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp vào chính sách và đồng nội tệ, qua đó giảm được kỳ vọng về lạm phát. Đó chính là điều kiện then chốt để kiểm soát lạm phát thành công ở mức hợp lý và góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.