Tác động của kế toán số đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp – Một mô hình nghiên cứu lý thuyết

NCS. Bùi Mạnh Cường* - PGS.TS. Nguyễn Thành Cường - PGS.TS. Phan Thanh Hải Thứ hai, 12/01/2026 09:07 (GMT+7)

Nghiên cứu này thực hiện nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết liên quan đến chủ đề tác động của kế toán số đến hiệu quả hoạt động. Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là dựa trên tổng quan hệ thống (systematic review). Kết quả nhóm nghiên cứu đã đề xuất mô hình nghiên cứu với 10 giả thuyết và 4 nhóm biến nghiên cứu. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian tới.

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với lĩnh vực kế toán trong việc chuyển đổi mô hình hoạt động truyền thống sang môi trường số hóa. Kế toán số, với đặc trưng là việc ứng dụng các công nghệ mới như như AI, blockchain, cloud computing và hệ thống ERP, đã trở thành một xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả xử lý thông tin, tăng cường tính minh bạch và hỗ trợ ra quyết định trong tổ chức (Al-Hattami và Kabra, 2024; Gyamera và cộng sự, 2023). Tuy nhiên, những ảnh hưởng cụ thể của kế toán số đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vẫn là chủ đề còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu, đặc biệt là các mô hình lý thuyết giải thích cơ chế tác động và các yếu tố trung gian, điều tiết có liên quan.

Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết nhằm khám phá và giải thích tác động của kế toán số đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (DN). Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết cụ thể, phản ánh mối quan hệ giữa kế toán số và hiệu quả hoạt động, đồng thời xem xét vai trò trung gian của chất lượng báo cáo tài chính và tính hữu ích của thông tin kế toán. Đặc biệt, nghiên cứu cũng đưa vào yếu tố phong cách lãnh đạo chuyển đổi như một biến điều tiết, với kỳ vọng rằng phong cách lãnh đạo này có thể làm gia tăng mức độ tác động tích cực của kế toán số đến chất lượng thông tin kế toán (CLTTKT).

Việc phát triển mô hình và các giả thuyết nghiên cứu được tiến hành thông qua phương pháp tổng quan hệ thống các tài liệu học thuật đã công bố từ trước đến nay liên quan đến kế toán số, hiệu quả hoạt động, CLTTKT và phong cách lãnh đạo chuyển đổi. Cách tiếp cận này cho phép đảm bảo tính toàn diện, logic và có hệ thống trong việc lựa chọn các yếu tố nghiên cứu, đồng thời góp phần vào việc hoàn thiện nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Một số khái niệm nghiên cứu

- Kế toán số là việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số để thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền tải thông tin tài chính trên nền tảng điện tử, thay các phương pháp thủ công truyền thống. Kế toán số không chỉ hỗ trợ việc ra quyết định mà còn nâng cao độ chính xác, tuân thủ các quy định kế toán và pháp lý, tính minh bạch và bảo mật dữ liệu. Đây là một phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi số, giúp DN thích ứng với môi trường kinh doanh hiện đại và nâng cao hiệu quả hoạt động.

- Hiệu quả hoạt động của DN là một khái niệm phức tạp, đa chiều, phản ánh hiệu suất tổ chức và kết quả hoạt động của DN trong quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế và phi kinh tế. Khái niệm này không chỉ đơn thuần là một chỉ số tài chính mà bao gồm nhiều tầng nghĩa khác nhau, liên quan đến hiệu quả tổ chức, kết quả công việc, và sự phát triển bền vững của DN. Hiệu quả hoạt động của DN được chia thành hai loại chính: hiệu quả tài chính và hiệu quả phi tài chính, phản ánh tính đa chiều của khái niệm này (Kaplan và Norton, 1992; Ondoro, 2015).

Báo cáo tài chính (BCTC) được định nghĩa là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính cung cấp dữ liệu về tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh và luồng tiền của DN, theo Chế độ Kế toán Việt Nam (Thông tư 200/2014/TT-BTC) và luật kế toán số 88/2015/QH13.

- Thông tin kế toán được định nghĩa là dữ liệu tài chính đã qua xử lý để trở thành thông tin có ý nghĩa, mang lại giá trị gia tăng cho tổ chức và hỗ trợ ra quyết định (Al-Hattami và cộng sự, 2021). Để đạt được tính hữu ích, thông tin kế toán cần đáp ứng các đặc điểm như tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và súc tích (Hall, 2007), đồng thời phải phù hợp với nhu cầu người dùng.

- Chuyển đổi số là quá trình ứng dụng công nghệ kỹ thuật số để tái định hình quy trình kinh doanh, văn hóa và mô hình hoạt động, giúp DN thích ứng với thị trường thay đổi và duy trì khả năng cạnh tranh (Peter và cộng sự (2020).

- Phong cách lãnh đạo chuyển đổi là phương thức lãnh đạo mà nhà quản lý truyền cảm hứng, thúc đẩy tư duy đổi mới và tạo động lực cho nhân viên chấp nhận, ứng dụng các công nghệ mới (AI, Blockchain, cloud computing, và ERP) vào quy trình kế toán nhằm nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả hoạt động tổ chức. Phong cách này thể hiện qua việc lãnh đạo đề ra tầm nhìn chiến lược rõ ràng, khuyến khích học hỏi liên tục, tạo môi trường làm việc tích cực, sẵn sàng thay đổi quy trình truyền thống, đồng thời phát huy năng lực đổi mới và sáng tạo của đội ngũ kế toán trong việc khai thác các công cụ kỹ thuật số để cải tiến độ chính xác, kịp thời và giá trị ra quyết định của thông tin kế toán.

Phát triển giả thuyết

Trên cơ sở các lý thuyết nền như lý thuyết dựa trên nguồn lực, lý thuyết đại diện, lý thuyết xử lý thông tin, nhóm tác giả phát triển các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu lý thuyết như sau:

- Tác động của kế toán số đến hiệu quả hoạt động

Kế toán số tự động hóa quy trình, giảm chi phí và tối ưu hóa nguồn lực, cho phép DN tập trung vào chiến lược cốt lõi (Al-Hattami và cộng sự, 2021), bên cạnh đó kế toán số có thể cải thiện chất lượng kế toán và tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tính bảo mật của hệ thống (Gyamera và cộng sự, 2023). Các yếu tố như sổ kế toán chính xác (Ebaid, 2022) và lập ngân sách tạo nên một hệ thống vận hành ổn định, đáp ứng yêu cầu quản trị trong DN (Hamood Mohammed Al-Hattami và Kabra, 2022). Do vậy, kế toán số không chỉ là công cụ hỗ trợ cho quản trị DN mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy gia tăng hiệu quả hoạt động của DN, điều này thể hiện qua các nghiên cứu thực nghiệm của (Al-Hattami và cộng sự, 2024; Al-Okaily, 2021; Al-Okaily và cộng sự, 2023, 2024; Al-Taani và cộng sự, 2024; Alshehadeh và cộng sự, 2024; Phornlaphatrachakorn và Kalasindhu, 2021). Từ đó tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu sau:

Giả thuyết H1: Kế toán số có tác động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động DN.

- Tác động của kế toán số đến chất lượng BCTC

Kế toán số khẳng định vai trò vượt trội trong việc nâng cao chất lượng BCTC nhờ khả năng tích hợp công nghệ tiên tiến và các yếu tố hiệu quả vượt bậc. CLTTKT số mang lại dữ liệu minh bạch, kịp thời, đáp ứng hoàn hảo nhu cầu người dùng, từ đó củng cố giá trị của báo cáo (Al-Hattami, 2021). Hơn nữa, hệ thống sổ kế toán chặt chẽ, bảo mật tối ưu (Al-Fatlawi và cộng sự, 2021) và việc áp dụng IFRS (Ebaid, 2022) tạo nên nền tảng vững chắc, nâng cao tính minh bạch và khả năng so sánh. Do đó, kế toán số không chỉ cải thiện mà còn định hình chất lượng BCTC, đặt tiền đề cho các lợi ích tiếp theo về thông tin và hiệu quả hoạt động, từ đó tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu như sau:

Giả thuyết H2: Kế toán số có tác động thuận chiều đến chất lượng BCTC

- Tác động của kế toán số đến tính hữu ích thông tin kế toán

Bên cạnh vai trò nâng cao chất lượng BCTC, kế toán số chứng tỏ sức mạnh trong việc tối ưu hóa tính hữu ích của thông tin, trở thành công cụ không thể thiếu cho ra quyết định và lập kế hoạch. Chất lượng thông tin từ kế toán số, được xử lý nhanh chóng, chính xác để đáp ứng nhu cầu người dùng, xóa bỏ sự không chắc chắn và mang lại giá trị thực tiễn vượt trội (Al-Hattami và cộng sự, 2021; Floropoulos và cộng sự, 2010). Chất lượng hệ thống với giao diện thân thiện, phản hồi nhanh kết hợp cùng chất lượng dịch vụ tốt, từ khả năng phản hồi đến độ tin cậy (Al-Hattami, 2021), đảm bảo thông tin luôn sẵn sàng và hiệu quả. Hệ thống lập ngân sách cung cấp dữ liệu chiến lược (Fatima và cộng sự, 2021), trong khi tính bảo mật được đảm bảo (Al-Hattami và Kabra, 2024) từ đó làm tính hữu ích của thông tin kế toán. Vì vậy, kế toán số không chỉ hỗ trợ mà còn gia tăng hiệu quả hoạt động thông qua thông tin chất lượng cao, từ đó giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H3: Kế toán số có tác động thuận chiều đến tính hữu ích thông tin kế toán

- Tác động của chất lượng BCTC đến hiệu quả hoạt động

Shuraki và cộng sự, (2021) nhấn mạnh rằng chất lượng báo cáo tài chính thể hiện ở tính đầy đủ, trung lập, không có lỗi và khả năng cung cấp thông tin dự đoán hoặc xác nhận hữu ích về vị thế kinh tế và hiệu quả của DN. Điều này cho thấy chất lượng báo cáo tài chính là yếu tố cốt lõi để đảm bảo thông tin có giá trị thực tiễn. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng BCTC chất lượng cao cải thiện tính minh bạch, giảm bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và các bên liên quan (Rahman và Masum, 2021), đồng thời cung cấp thông tin trung thực, hợp lý về hiệu quả hoạt động và tình hình tài chính (Arthur và cộng sự, 2019). Đây là nền tảng để thông tin trở nên hữu ích cho người sử dụng.

BCTC không chỉ phản ánh tình hình tài chính và khả năng sinh lời tại một thời điểm mà còn hỗ trợ dự đoán sự phát triển tương lai của DN. Báo cáo tài chính chất lượng, đặc biệt khi được hỗ trợ bởi kế toán số, cung cấp dữ liệu quan trọng để nhà quản lý đánh giá hiệu quả hoạt động, nhận diện rủi ro tài chính và lập kế hoạch chiến lược Rahman và Masum, (2021) cho rằng Báo cáo tài chính chất lượng giúp giảm quản trị lợi nhuận, tăng tính minh bạch và nâng cao khả năng ra quyết định tối ưu, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động. Hơn nữa, việc giám sát hiệu quả và quản lý rủi ro dựa trên BCTC góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của DN. Dựa trên dữ liệu phân tích ở trên, tác giả đề xuất giả thuyết như sau:

Giả thuyết H4: Chất lượng BCTC có tác động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động

- Tác động của chất lượng BCTC đến tính hữu ích của thông tin kế toán

BCTC là sản phẩm đầu ra của quy trình kế toán, nhưng trong mô hình ra quyết định, nó đóng vai trò đầu vào quan trọng (IASB, 2018). Phornlaphatrachakorn và Kalasindhu, (2021) lập luận rằng BCTC chất lượng cao ảnh hưởng tích cực đến quyết định đầu tư, tín dụng và phân bổ nguồn lực của các bên liên quan, nhờ cung cấp thông tin đáng tin cậy và phù hợp. Abraham và cộng sự, (2008) bổ sung rằng tính khách quan của BCTC là yếu tố then chốt đảm bảo tính hữu ích, trong khi sự thiếu độ tin cậy (do lỗi hoặc gian lận) làm giảm giá trị thông tin. Do đó, chất lượng BCTC có mối quan hệ trực tiếp với mức độ hữu ích của thông tin mà nó cung cấp. Từ đó tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu sau:

Giả thuyết H5: Chất lượng BCTC có tác động thuận chiều đến tính hữu ích của thông tin kế toán

- Tác dộng của tính hữu ích thông tin kế toán đến hiệu quả hoạt động

Hall, (2007); Laudon và Laudon, (2014) nhấn mạnh thông tin là nguồn lực kinh doanh quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức, trong khi (Schipper và Vincent, 2003) khẳng định thông tin kế toán hữu ích giúp người sử dụng đưa ra quyết định hiệu quả. Để đạt được tính hữu ích, thông tin kế toán cần đáp ứng các đặc điểm như tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và súc tích (Hall, 2007), đồng thời phải phù hợp với nhu cầu người dùng . Các nghiên cứu thực tiễn củng cố quan chỉ ra rằng thông tin kế toán chất lượng cao là yếu tố quan trọng cho thành công tổ chức, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, nơi thông tin chi phối sự phát triển bền vững. Nếu thông tin không đảm bảo chất lượng, nó có thể đe dọa sự tồn tại của tổ chức (Ismail, 2009).

Vai trò của thông tin kế toán hữu ích trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động được thể hiện rõ qua khả năng hỗ trợ ra quyết định và quản lý. (Al-Hattami, 2021; Hall, 2007) lập luận rằng thông tin kế toán chất lượng giúp giảm sự không chắc chắn, cải thiện lập kế hoạch và kiểm soát, từ đó tối ưu hóa hoạt động hàng ngày của tổ chức. Nghiên cứu của Al-Hattami và Kabra, (2024) phát hiện mối quan hệ tích cực giữa chất lượng thông tin kế toán và chất lượng kiểm soát, trong khi Alsmady, (2022) khẳng định thông tin chất lượng cao nâng cao hiệu quả và giá trị công ty. Srivastava và Lognathan, (2016) nhấn mạnh rằng chỉ khi thông tin đáp ứng tiêu chí chất lượng, tổ chức mới có thể triển khai và kiểm soát hiệu quả. Thông tin kế toán hữu ích, với các đặc tính phù hợp, kịp thời, chính xác và dễ hiểu không chỉ là công cụ hỗ trợ ra quyết định mà còn là động lực trực tiếp cải thiện hiệu quả hoạt động. Khi thông tin đáp ứng nhu cầu người dùng, nó giúp tổ chức phân bổ nguồn lực tối ưu, giảm rủi ro và nâng cao năng suất. Ngược lại, thông tin kém chất lượng có thể gây ra hậu quả tiêu cực, làm suy giảm hiệu quả. Do đó, có cơ sở vững chắc để đề xuất rằng thông tin kế toán hữu ích tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của DN. Tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu như sau:

Giả thuyết H6: Tính hữu ích của thông tin kế toán có tác động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động

- Vai trò trung gian của BCTC, tính hữu ích thông tin kế toán giữa kế toán số và hiệu quả hoạt động

Dựa trên nền tảng chất lượng BCTC và tính hữu ích thông tin, kế toán số khẳng định sức mạnh vượt trội trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, định hình cách DN vận hành và phát triển. (Floropoulos và cộng sự, 2010) tiết lộ rằng chất lượng kế toán số tác động tích cực đến tính hữu ích được nhận thức trong các cơ quan thuế công. (Al-Hattami và cộng sự, 2021) nhận thấy CLTTKT số tác động tích cực đến hiệu quả của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất. Ngoài ra, Al-Hattami và Kabra, (2024) nhận thấy rằng chất lượng hệ thống kế toán số tăng cường tích cực kiểm soát quản lý trong các DN vừa và nhỏ. Hơn nữa, trong bối cảnh kế toán số, thông tin kế toán được xử lý nhanh chóng và chính xác, tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định chiến lược (Al-Hattami và cộng sự, 2021). Floropoulos và cộng sự (2010) cũng ghi nhận thông tin kế toán hữu ích thúc đẩy sự hài lòng của người dùng và đóng vai trò quan trọng trong quản trị DN, một yếu tố liên quan chặt chẽ đến hiệu quả hoạt động. Bygren (2016) khẳng định kế toán số nâng cao chất lượng BCTC, từ đó cải thiện việc trình bày thông tin đa dạng và phù hợp với nhu cầu của các bên liên quan. Điều này củng cố mối liên hệ giữa chất lượng BCTC, thông tin hữu ích và hiệu quả hoạt động, đặc biệt trong bối cảnh ứng dụng CNTT ngày càng sâu rộng. Từ những nhận định trên, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu sau:

Giả thuyết H7a: BCTC đóng vai trò trung gian tích cực cho mối quan hệ giữa kế toán số và hiệu quả hoạt động.

- Vai trò điều tiết của phong cách lãnh đạo chuyển đổi

Trong bối cảnh các tổ chức tích cực áp dụng công nghệ mới và công tác số hóa kế toán ngày càng thực hiện rộng rãi, mạnh mẽ từ yêu cầu thực tiễn cũng như định hương phát triển nền kinh tế số của Chính phủ. Các nhà lãnh đạo theo phong cách chuyển đổi thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động của đơn vị, trong đó kế toán là một trong những lĩnh vực ưu tiên, điều này không chỉ nâng cao khả năng xử lý dữ liệu mà còn góp phần cải thiện độ chính xác, tính kịp thời và tính toàn vẹn của thông tin tài chính (Afifa và cộng sự, 2024). Nhờ khả năng truyền cảm hứng, khuyến khích phát triển năng lực cá nhân, các nhà lãnh đạo chuyển đổi tạo ra môi trường thuận lợi cho đổi mới và sáng tạo, từ đó hỗ trợ mạnh mẽ quá trình chuẩn hóa và minh bạch hóa thông tin kế toán trong hệ thống báo cáo tài chính (Afifa và cộng sự, 2024; Khaw và cộng sự, 2022). Trong khi việc thiếu cam kết lãnh đạo có thể khiến hệ thống kế toán số vận hành không hiệu quả và dẫn đến rủi ro về độ tin cậy thông tin tài chính (Dubey và cộng sự, 2024), thì sự hiện diện của phong cách lãnh đạo chuyển đổi sẽ định hướng chiến lược số hóa phù hợp và kịp thời, qua đó nâng cao chất lượng BCTC.

Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo chuyển đổi không chỉ khuyến khích nhân viên học hỏi và thử nghiệm công nghệ mới, mà còn thiết lập các tiêu chuẩn đạo đức và hành vi phù hợp với điều kiện của công ty nhằm đảm bảo thông tin kế toán được xử lý và truyền đạt một cách hiệu quả và có giá trị đối với các bên liên quan (Abu Afifa và cộng sự, 2023). Việc tăng cường ứng dụng kế toán số dưới sự dẫn dắt của lãnh đạo chuyển đổi cho phép cải thiện khả năng ra quyết định chiến lược thông qua các báo cáo kế toán có tính dự đoán cao, phản ánh đúng thực trạng tài chính, đáp ứng kịp thời nhu cầu của nhà quản lý và nhà đầu tư (Hidayat-ur-Rehman và Alsolamy, 2023). Trái lại, phong cách lãnh đạo không phù hợp sẽ cản trở quá trình tích hợp công nghệ vào hệ thống kế toán, làm giảm khả năng cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định (Ranasinghe và cộng sự, 2022). Do đó, phong cách lãnh đạo chuyển đổi là yếu tố cốt lõi giúp nâng cao giá trị sử dụng của thông tin kế toán trong kỷ nguyên kế toán số. Từ nhận định trên, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu sau:

Giả thuyết H8a: Phong cách lãnh đạo chuyển đổi đóng vai trò điều tiết tích cực cho mối quan hệ giữa kế toán số và chất lượng BCTC.

Giả thuyết H8b: Phong cách lãnh dạo chuyển đổi đóng vai trò điều tiết tích cực cho mối quan hệ giữa kế toán số và tính hữu ích của thông tin kế toán.

- Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trên cơ sở trình bày các khái niệm có liên quan, các lý thuyết nền và tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện và mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả xin đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

Nguồn: Phát triển của các tác giả

Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, kế toán số không chỉ là xu hướng mà còn là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính và giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của DN. Nghiên cứu này đã hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi như kế toán số, hiệu quả hoạt động, BCTC, tính hữu ích của thông tin kế toán và phong cách lãnh đạo chuyển đổi. Thông qua việc vận dụng các lý thuyết nền tảng như thuyết dựa trên nguồn lực, lý thuyết đại diện, lý thuyết xử lý thông cùng các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả đã thực hiện, tác giả đã đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu để thực hiện các thiết kế và nghiên cứu thực nghiệm cụ thể hơn trong thời gian đến.

Ghi chú :

Công trình được thực hiện trong khuôn khổ đề tài Luận án tiến sĩ theo Quyết định số 3981/QĐ-ĐHDT ngày 21/08/2024 của Trường Đại học Duy Tân