Bài viết đề cập đến vai trò quan trọng của IFRS trong việc cải thiện chất lượng báo cáo tài chính. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là định tính, với kỹ thuật chủ yếu là thu thập tài liệu. Nhóm tác giả đã tìm hiểu rằng việc áp dụng IFRS giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình lập báo cáo tài chính, từ đó giảm thiểu rủi ro gian lận và sai sót báo cáo tài chính.
1. Giới
thiệu
Trong
bối cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển, thông tin tài chính đóng vai
trò quan trọng trong việc hỗ trợ các bên liên quan, đặc biệt là các nhà đầu tư,
cơ quan quản lý, và cổ đông trong quá trình ra quyết định. Tuy nhiện thực tế
cho thấy các vụ gian lận tài chính toàn cầu vẫn xảy ra, trong đó phải kể đến vụ
bê bối tài chính nghiêm trọng của Enron (Mỹ) vào năm 2001, Worldcom năm 2002,
Satyam (Ấn Độ) năm 2009 hay Evergrande
(Trung Quốc) năm 2021 (Shahana và cộng sự, 2023). Bên cạnh đó các vụ bê bối
gian lận trong nước cũng được phát hiện, như vụ gian lận của công ty gỗ Trường
Thành (mã TTF) là công ty tham gia trên thị trường chứng khoán HOSE khiến
Trường Thành đã mua chuộc các kiểm toán viên đã kiểm toán cho đơn vị mình trong
nhiều năm nhằm che dấu những sai phạm. Theo báo cáo soát xét giữa niên độ (quý
2/2016) của Erns & Young phát hiện thiếu hụt kho hàng tới gần 980 tỷ đồng
và đưa ra cảnh báo nghiêm trọng về khả năng tiếp tục hoạt động của TTF.
Những
vụ bê bối được phát hiện đã làm dấy lên những lo ngại sâu sắc về mức độ tin cậy
và tính minh bạch báo cáo tài chính được công bố. Một trong những nguyên nhân
cốt lõi của các vụ việc này là hành vi gian lận báo cáo tài chính, khi các
doanh nghiệp cố tình bóp méo thông tin kế toán nhằm đạt được các lợi ích nhất
định. Báo cáo của AEFE (Association
of Cetified Fraud Examiners) năm 2020 đã phát hiện ra 2.504
trường hợp gian lận nghề nghiệp trên 125 quốc gia, và gian lận báo cáo tài
chính là một trong ba hình thức gian lận phổ biến nhất bên cạnh gian lận về tài
sản và tham nhũng (Cheliatsidou và cộng sự, 2023).
Một
sự gia tăng lớn về số lượng gian lận tài chính và các vụ phá sản trong kinh
doanh kéo theo sự lo ngại về tính hợp pháp của báo cáo tài chính của các công
ty. Theo một cuộc khảo
sát được thực hiện bởi tổ chức ACFE thì suy thoái kinh tế gián tiếp làm gia
tăng sai phạm, lừa đảo và gian lận trong nội bộ doanh nghiệp. Nếu nhìn vào chỉ
số đánh giá tham nhũng của Việt Nam trong những năm gần đây chúng ta thấy vấn đề
đáng báo động. Cụ thể, năm 2016 Việt Nam đạt 33/100 điểm, xếp hạng thứ 133/176
trên bảng xếp hạng toàn cầu, trong nhóm các nước mà tham nhũng được cho là
nghiêm trọng.
Từ những yếu tố như vậy, các bên
liên quan đặc biệt là nhà đầu tư, chủ nợ, cơ quan quản lý cần minh bạch thông
tin tài chính của đơn vị. Minh bạch thông tin là một trong những nguyên tắc
hàng đầu của hệ thống báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính minh bạch không chỉ
phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh
nghiệp mà còn góp phần nâng cao độ tin cậy cho thị trường, giảm rủi ro cho các
nhà đầu tư và thúc đầy sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực
tế mức độ minh bạch còn phụ thuộc và nhiều yếu tố, bao gồm các chuẩn mực kế
toán, năng lực kiểm toán viên, cấu trúc vốn doanh nghiệp, và đặc biệt là động
cơ của nhà quản lý.
Tại Việt Nam, hệ thống pháp lý và
chuẩn mực kế toán đang không ngừng thay đổi để ngày càng hoàn thiện và kiểm
soát tình trạng gian lận trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề gian lận báo cáo
tài chính vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, như ghi nhận doanh thu
sai kỳ, kê khống chi phí, hoặc che giấu nghĩa vụ nợ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp
thiết phải chuyển đổi hệ thống kế toán theo hướng phù hợp với các quốc gia trên
thế giới, bao gồm việc áp dụng IFRS nhằm giảm thiểu tình trạng gian lận và nâng
cao tính minh bạch của thông tin.
2. Cơ
sở lý luận
AICPA (2020) định nghĩa gian lận
theo quan điểm của kế toán là một hành vi cố ý của một hoặc nhiều cá nhân trong
ban quản lý, những người được giao trách nhiệm quản trị, nhân viên hoặc bên thứ
ba, có sử dụng hành vi lừa dối, dẫn đến sai sót trên báo cáo tài chính đang được
kiểm toán (Cheliatsidou và cộng sự, 2023). Gian lận báo cáo tài chính gây ra rất
nhiều thiệt hại cho các bên liên quan, bao gồm các nhà đầu tư, khách hàng, nhà
cung cấp, cơ quan quản lý và kể cả nhân viên của đơn vị. Gian lận báo cáo tài chính
làm mất niềm tin của các bên liên quan đối với thông tin tài chính của đơn vị. Eliott
và Willingham (1980) định nghĩa gian lận báo cáo tài chính là một hành vi gian
lận cố ý do ban quản lý thực hiện, gây tổn hại cho các nhà đầu tư, chủ nợ thông
qua báo cáo tài chính sai lệch đáng kể. Theo AICPA (1987) “Gian lận BCTC là bất
kỳ hành vi hoặc thiếu sót cố ý nào dẫn đến sai lệch trọng yếu của BCTC”. Ngoài
ra, gian lận báo cáo tài chính còn được mô tả là một kế hoạch được thiết kế để
che dấu, thực hiện bằng các tài liệu giả mạo (Wallace, 1995) và là hành vi cố ý
của các công ty nhằm lừa dối hoặc gây hiểu nhầm cho người sử dụng báo cáo tài
chính đã được công bố, đặc biệt gây ảnh hưởng cho các nhà đầu tư, nhà cung cấp
bằng cách lập và công bố báo cáo tài chính sai lệch đáng kể (Rezaee, 2002). Theo
nghiên cứu của COSO phương pháp gian lận thông thường theo ba hướng là thao
túng lợi nhuận, quản trị lợi nhuận và chỉnh sửa bảng cân đối kế toán
(Lundelius, 2011).
Gian lận báo cáo tài chính liên
quan đến ý định cố ý làm sai lệch thông tin báo cáo tài chính của một nhóm có lợi
ích bằng việc lên kế hoạch kỹ lưỡng và gian lận đáng kể, các kế hoạch đó có thể
là: làm giả, thay đổi các hồ sơ tài chính quan trọn, các tài liệu hỗ trợ hoặc
các giao dịch trong kinh doanh; cố ý làm sai sót, thiếu sót hoặc trình bày sai
lệch đáng kể các sự kiện, giao dịch, hoặc thông tin quan trọng khác từ đó lập
báo cáo tài chính; cố ý áp dụng sai, cố ý giải thích sai và thực hiện sai các
nguyên tắc, chính sách, phương pháp kế toán được sử dụng để đo lường, ghi nhận
và báo cáo; cố ý bỏ sót, cung cấp thông tin hoặc trình bày các thông tin không
đầy đủ liên quan đến các tiêu chuẩn, nguyên tắc và thông tin tài chính của đơn
vị. Ngoài ra, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng
phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, thông tin tài chính trở thành công cụ
quan trọng giúp các bên liên quan đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn. Đặc biệt,
đối với nhà đầu tư, cổ đông, cơ quan quản lý hay các tổ chức tín dụng, việc
tiếp cận thông tin tài chính một cách đầy đủ, trung thực và kịp thời là yếu tố
then chốt để đánh giá tình hình hoạt động và năng lực tài chính của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải tất cả các báo cáo tài chính đều
phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch, dẫn đến rủi ro về gian lận,
sai lệch hoặc thiếu tin cậy trong thông tin công bố. Một yếu tố then chốt để hạn chế gian lận báo cáo tài chính được
trình bày theo hệ thống dựa trên nguyên tắc là việc công bố thông tin (Lundelius, 2011).
Chính vì vậy, tính minh bạch trong báo cáo tài chính ngày càng được quan tâm
như một tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ tin cậy và trách nhiệm giải trình
của doanh nghiệp.
Việc cung cấp thông tin tài chính
sai lệch ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin, từ đó các bên
liên quan đặc biệt là các nhà đầu tư, cổ đông luôn mong muốn đơn vị cung cấp một
báo cáo tài chính đáng tin cậy, chính vì điều đó các doanh nghiệp cần minh bạch
báo cáo tài chính. Theo OECD (2004), minh bạch báo cáo tài chính liên quan đến
việc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác và dễ hiểu cho các bên liên
quan, giúp họ đưa ra quyết định kinh tế một cách hiệu quả. Điều này bao gồm cả
việc công bố thông tin tài chính và phi tài chính, cũng như các thông tin về quản
trị doanh nghiệp.
Cũng theo thông tư 200/2014/TT-BTC
thì minh bạch báo cáo tài chính là việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp
thời và dễ hiểu về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền
của doanh nghiệp, giúp các bên liên quan như nhà đầu tư, chủ nợ, cơ quan quản
lý đánh giá khách quan và đưa ra các quyết định phù hợp.
Từ những yêu cầu và tầm quan trọng
minh bạch báo cáo tài chính, các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam
đang hướng tới việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo IFRS, các chuẩn mực
IFRS liên quan đến minh bạch báo cáo tài chính hiện nay được áp dụng:
IFRS 1: Áp dụng lần đầu IFRS. Quy định
các nguyên tắc và yêu cầu khi doanh nghiệp chuyển đổi từ các chuẩn mực kế toán
khác sang IFRS.
IFRS 5: Tài sản dài hạn giữ để bán
và các hoạt động ngừng kinh doanh. Quy định về việc phân loại, trình bày và ghi
nhận tài sản giữ để bán và các hoạt động ngừng kinh doanh.
IFRS 7: Công cụ tài chính: thuyết minh.
Yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp thông tin thuyết minh đầy đủ, rõ ràng về các
công cụ tài chính, giúp người sử dụng hiểu rõ bản chất, mức độ rủi ro và cách
doanh nghiệp quản lý các công cụ tài chính này.
IFRS 12: Thuyết minh về lợi ích
trong các đơn vị khác. Yêu cầu các doanh nghiệp thuyết minh về lợi ích của mình
trong các đơn vị khác, bao gồm các công ty con, công ty liên kết và các thỏa
thuận liên doanh.
IAS 1: Trình bày báo cáo tài chính.
Quy định chung về hình thức và nội dung của báo cáo tài chính, bao gồm các yêu
cầu về tính minh bạch, rõ ràng và dễ hiểu.
IAS 7: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Quy định về việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ, giúp người sử dụng
hiểu được dòng tiền vào và ra của doanh nghiệp.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt
được mục tiêu của bài viết, nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu định
tính thông qua kỹ thuật thu thập tài liệu, nhằm phân tích và đánh giá ảnh hưởng
của việc áp dụng IFRS trong việc giảm thiểu rủi ro gian lận báo cáo tài chính
cũng như nâng cao tính minh bạch của thông tin báo cáo tài chính. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên
cứu này chủ yếu bao gồm các nguồn thông tin thứ cấp, đặc biệt chú trọng đến các
nguồn thông tin chính. Các nguồn như Web of Science, Scopus, Google Scholar và
các nguồn khoa học khác đã được tìm kiếm bằng cách sử dụng các từ khóa “rủi ro về gian lận báo cáo tài chính”,
"minh bạch báo cáo
tài chính" và “gian lận báo cáo tài chính
giai đoạn chuyển đổi số” bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt cho các công trình đã
xuất bản từ năm 1997 đến nay. Tổng cộng gần 19 bài báo, 1 cuốn sách và 5 trang
web từ các nguồn khoa học khác nhau đã được thu thập. Điều đáng chú ý là một số
bài báo có từ “gian lận
báo cáo tài chính” trong các từ khóa của bài viết đã
bị loại trừ do không liên quan đến hướng
nghiên cứu.
4. Các nghiên cứu thực tiễn về gian
lận báo cáo tài chính trước và sau giai đoạn áp dụng IFRS
Gian lận BCTC không phải lúc nào
cũng bị phát hiện, tuy nhiên kiểu gian lận này lại mang lại hậu quả nghiêm trọng
cho tổ chức. Thông qua kết quả tìm hiểu của ACFE (2004) đã phát hiện gian lận
BCTC ít được báo cáo nhất nhưng mức thiệt hại trung bình cao nhất là 1 triệu
USD. Kết quả khảo sát của ACFE (1997)
cho thấy 83% tổn thất do gian lận có liên quan đến chủ sở hữu hoặc giám đốc điều
hành; COSO (1999) điều tra BCTC gian lận của 200 công ty tìm thấy 72% gian lận
xảy ra liên quan đến CEOs và 42% liên quan đến CFOs; và kết quả này cũng đồng
nhất với nghiên cứu của Ernst & Young (2003) kiểm tra gian lận từ nội bộ
công ty thì hơn ½ gian lận là từ ban quản lý (Brennan & McGrath, 2007)
Thông qua nghiên cứu của Beasley và cộng
sự (2010) về 347 trường hợp bị cáo buộc gian lận BCTC của các công ty đại chúng
tại Mỹ trong giai đoạn 1998-2007 cho thấy kết quả là kỹ thuật gian lận phổ biến
nhất liên quan đến việc ghi nhận doanh thu không chính xác chiếm hơn 60%, tiếp
theo là thổi phồng tài sản và vốn hóa chi phí.
Bảng 1. Các kỹ thuật gian lận báo cáo tài chính.
Nguồn: Beasley và cộng sự (2010)
Ngoài ra thông qua điều tra của SEC
(ủy ban chứng khoán Mỹ) đã chỉ ra CEO hoặc CFO các cấp liên quan đến 89% vụ
gian lận, và 20% CEO/CFO đã bị truy tố, hơn 10% bị kết án sau cuộc điều tra
hoàn tất của SEC trong giai đoạn này. Trong giai đoạn từ 1998-2007 thì giai đoạn
từ 1998-2001 là những năm có số lượng BCTC báo cáo sai lệch nhiều nhất với hơn
100 công ty báo cáo sai lệch tình hình tài chính. Điển hình trong giai đoạn này
Enron, một công ty năng lượng tuyên bố phá sản năm 2001 do gian lận kế toán và
Worldcom (công ty viễn thông) năm 2002 đã thực hiện các hành vi gian lận kế
toán lớn bằng cách vốn hóa hàng tỷ USD chi phí thông thường (như chi phí thuê
đường truyền) thành tài sản.
Vào năm 2001 IFRS Foundation được
thành lập và đã làm thay đổi bức tranh thông tin tài chính toàn cầu bằng cách
giới thiệu chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) do IASB phát triển, với
mong muốn đây là chuẩn mực chung toàn cầu được các quốc gia và nhà đầu tư áp dụng.
Mục đích của chuẩn mực IFRS sẽ làm tăng tính minh bạch, khả năng so sánh và sự
tin cậy trong báo cáo tài chính và tính đến thời điểm hiện tại đã có đến
148/169 quốc gia áp dụng IFRS cho các công ty niêm yết và tổ chức tài chính
trong nước. Năm 2008 SEC (Mỹ) cho phép các doanh nghiệp ngoài nước Mỹ được lựa
chọn áp dụng IFRS và không cần phải đối chiếu lại với US.GAAP. Việc áp dụng
IFRS đã cải thiện chất lượng thông tin kế toán, cải thiện chất lượng báo cáo
tài chính cũng như là một phương pháp ngăn ngừa các sai sót (Homola &
Paseková, 2020); đồng thời tạo ra tiềm năng cải tiến quy trình quản trị doanh
nghiệp bằng cách làm tăng tính minh bạch, khả năng so sánh, giảm thông tin bất
cân xứng, thống nhất lợi ích của ban quản lý và cổ đông, từ đó cải thiện chất
lượng báo cáo tài chính (Gardi và cộng sự, 2023).
Mặc dù, Chuẩn mực Báo cáo Tài chính
Quốc tế (IFRS) được ban hành để nâng cao tính minh bạch và chất lượng thông tin
tài chính, giúp giảm thiểu gian lận, nhưng thực tế gian lận vẫn xảy ra. Chất lượng kế toán phụ
thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm hệ thống chính trị và luật pháp, chuẩn mực kế
toán, các động cơ phát sinh từ phát triển thị trường vốn, cấu trúc vốn, chủ sở
hữu và hệ thống thuế. Các yếu tố này khác nhau giữa các quốc gia nên chất lượng
kế toán sẽ khác nhau giữa các quốc gia, chính vì vậy có thể các nhà quản lý có
thể sử dụng khác giả định khác nhau để thao túng báo cáo tài chính (Soderstome
& Sun, 2008). Quản trị doanh nghiệp không đầy đủ có thể thúc đẩy hành vi
tài chính cơ hội, làm tăng nguy cơ trình bày sai lệch (Metalia và cộng sự,
2023). Mặt khác IFRS theo nguyên tắc principle-based cho phép người lập BCTC
theo hướng IFRS linh hoạt hơn nên BCTC cũng có khả năng dễ bị gian lận do chủ
quan của người lập (Lundelius, 2011).
Một ví dụ điển hình là tập đoàn
Steinhoff ở Hà Lan có trụ sở chính ở Nam Phi (quốc gia áp dụng hoàn toàn IFRS),
các nhà quản lý cấp cao đã kê khai khống doanh thu và tài sản thông qua các
giao dịch giả mạo trị giá €6.5 tỷ (tương đương $7.4 tỷ) diễn ra từ năm
2009-2017 (PwC, 2019). Một trường hợp khác là Wirecard AG, công ty dịch vụ
thanh toán toàn cầu, thuộc 1 trong 30 công ty lớn nhất trên thị trường chứng
khoán Frankfurt (DAX 30) sử dụng IFRS và gian lận liên quan đến gian lận kế
toán bao gồm số dư ngân hàng gian lận trị giá 1,9 tỷ euro. Một báo cáo kiểm
toán đặc biệt của KPMG nêu rõ bằng chứng do công ty cung cấp không đầy đủ để biện
minh cho các giao dịch. Winecard AG tuyên bố phá sản vào năm 2020 làm dấy lên
câu hỏi về “hoài nghi nghề nghiệp” kém (Ghosh, 2021). Hay như Luckin Coffee,
chuỗi cà phê của Trung Quốc niêm yết trên thị trường chứng khoán Nasdaq, Mỹ vào
ngày 17/5/2019, và đến tháng 4/2020 công ty đối mặt với cáo buộc gian lận tài
chính. Luckin đã thổi phồng doanh thu một cách giả tạo bằng cách tăng giá niêm
yết cho mỗi đơn vị sản phẩm và bịa ra số giao dịch.
Tác động của IFRS cho thấy rằng việc áp dụng IFRS không chỉ cải
thiện tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính, mà còn góp phần giảm
thiểu các hành vi gian lận. Đồng thời, các nghiên cứu chỉ ra kết quả việc gian
lận BCTC đến từ nhiều yếu tố như động cơ từ ban quản trị, hệ thống luật pháp,
kiểm soát nội bộ cũng như vấn đề từ kiểm toán viên. Do vậy để tối đa hóa lợi
ích từ IFRS, cần có sự cam kết của cả nhà quản lý và kiểm toán viên trong tuân
thủ các quy định, hệ thống kiểm soát nội bộ tốt sẽ giúp hạn chế sai lệch và
gian lận báo cáo tài chính (Jasim & Ibrahim, 2023).
5. Khuyến nghị
Mối quan hệ giữa IFRS (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) và gian lận tài
chính ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển
của thị trường tài chính. Việc áp dụng IFRS không chỉ giúp cải thiện tính minh
bạch trong báo cáo tài chính mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro gian lận. Các chuẩn mực này cung cấp khung pháp lý rõ ràng, yêu
cầu các doanh nghiệp phải công khai thông tin một cách đầy đủ và chính xác, từ
đó tạo ra môi trường kiểm soát tốt hơn đối với các hành vi gian lận. Nghiên cứu
này sẽ phân tích cách thức IFRS góp phần vào việc giảm thiểu gian lận tài chính
và tăng cường độ tin cậy của thông tin báo cáo, cụ thể:
Thứ nhất, áp dụng IFRS có thể giúp giảm
rủi ro gian lận BCTC:
Việc ghi nhận doanh thu sai kỳ có
thể xảy ra khi đơn vị ghi nhận doanh thu sớm hoặc trễ. Cụ thể, doanh thu của kỳ
sau có thể bị ghi nhận vào kỳ trước để làm đẹp báo cáo tài chính, hoặc doanh
thu của kỳ trước có thể bị hoãn lại vào kỳ sau để tạo quỹ dự trữ. Để thực hiện
các hình thức gian lận này, người lập và trình bày báo cáo tài chính có thể áp
dụng một số thủ tục cụ thể: Các hợp đồng phụ (hoặc phụ lục hợp đồng) thường có
thể phức tạp và thay đổi, dẫn đến việc các điều khoản ban đầu có thể bị thay thế
hoặc không khớp với dòng tiền thực tế. Giá trị mà đơn vị mong đợi nhận được (để
phục vụ cho hoạt động hoặc tích trữ) sẽ được ghi nhận là doanh thu, trong khi số
tiền mà đơn vị không được hưởng (ví dụ như chiết khấu thanh toán, chương trình
khách hàng thân thiết, ...) sẽ được ghi nhận là nợ phải trả (Lê Vũ Ngọc Thanh
và Hoàng Trọng Hiệp, 2020).
Trong báo cáo gởi đến Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán TPHCM theo yêu cầu của Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước (CKNN), Ban Kiểm soát Công ty Cổ phần Bánh kẹo Biên Hòa (Bibica) thông báo
con số lỗ năm 2002 của công ty lên đến 12,3 tỉ đồng, tăng gần 7 tỉ đồng so với
báo cáo tài chính trước đó (5,4 tỉ đồng). Sự vụ năm 2002 của Công ty Cổ phần
Bánh kẹo Biên Hòa (Bibica) là một trong những gian lận Báo cáo tài chính phổ biến
– về việc che dấu công nợ và chi phí. Và việc phải lập một Báo cáo tài chính, vừa
đảm bảo độ trung thực của doanh nghiệp mình, vừa cho những nhà đầu tư thấy được
tiềm năng của doanh nghiệp mình qua những con số đang là vấn đề được các doanh
nghiệp hết sức quan tâm.
Giải pháp cho vấn đề này là các
doanh nghiệp có thể áp dụng IFRS nhằm bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy của
các báo cáo tài chính. Một trong những lợi ích chính của IFRS là khả năng giảm
thiểu rủi ro gian lận báo cáo tài chính. Bằng cách yêu cầu các doanh nghiệp
cung cấp thông tin chi tiết và chính xác hơn về tình hình tài chính, IFRS không
chỉ giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng đắn hơn mà còn tạo ra một môi trường kiểm
soát tốt hơn đối với các hành vi gian lận.
Thứ hai,
áp dụng IFRS có thể giúp tăng khả năng so sánh giữa các BCTC của các doanh nghiệp
Việc áp dụng IFRS giúp thúc đẩy
khả năng so sánh giữa các BCTC của các doanh nghiệp, điều này có thể hữu ích
cho các nhà đầu tư và các bên liên quan khác đang cố gắng so sánh hiệu quả tài
chính của các doanh nghiệp khác nhau (Nguyễn Thị Dung, 2023). Mỗi quốc gia có
chuẩn mực kế toán riêng và sẽ mất khá nhiều thời gian và chi phí để chuyển đổi
về một chuẩn mực chung được công nhận.
Chính vì vậy việc các nước áp dụng IFRS sẽ giúp các doanh nghiệp có cơ hội nâng
cao chất lượng BCTC, tăng khả năng so sánh BCTC cũng như cơ hội tiếp cận nhanh
chóng với các nhà đầu tư.
Thứ
ba, tăng cường tính minh bạch của BCTC:
Việc áp dụng
IFRS sẽ nâng cao tính minh bạch và trung thực của BCTC, giúp bảo vệ quyền lợi của
nhà đầu tư, do IFRS yêu cầu các khoản mục của BCTC phải được ghi nhận và trình
bày theo bản chất hơn là hình thức hay tên gọi của giao dịch, qua đó giúp giảm
thiểu tác động của hình thức giao dịch đến phương pháp kế toán (Vũ Thị Diệp, 2023).
IFRS ban hành nhiều chuẩn mực và hướng dẫn nhiều nội
dung mà VAS hiện nay chưa có như như IAS 41, IAS 36 (suy giảm giá trị của tài
sản). Một số chuẩn mực như IFRS 15, IFRS 16 tương ứng với VAS 14, VAS 06 -tuy
nhiên nội dung các chuẩn mực này vẫn còn nhiều điểm khác biệt. Đối với các
chuẩn mực như IAS 16, IAS 40- IFRS cho phép doanh nghiệp tự lựa chọn giá gốc
hoặc giá trị hợp lý khi đánh giá lại tài sản tại thời điểm lập BCTC nhưng đối
với VAS cơ bản vẫn đánh giá dựa vào nguyên tắc giá gốc, mặc dù giá trị hợp lý
đã được đề cập đến trong Luật kế toán 2015.
Chính vì vậy mà áp dụng IFRS sẽ đầy đủ hơn theo thông lệ quốc tế và tăng
cường tính minh bạch cho BCTC.
Thứ tư, áp dụng IFSR giúp cải thiện
quy trình và chất lượng đào tạo nhân lực ngành kế toán, kiểm toán:
Áp dụng IFRS là một trong những giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực kế toán - kiểm toán đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế. Áp dụng IFRS giúp các cơ sở đào tạo đổi mới nội dung và
phương pháp giảng dạy. Cần thay đổi quan điểm đào tạo theo hướng xuất phát từ
những gì mình có, mà phải xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn (đó là cung cấp
nguồn nhân lực có chất lượng cao cho xã hội). Mạnh dạn phối hợp và tăng cường hợp
tác với ACCA, CPA, CIMA, ... để đổi mới giáo trình đào tạo. Đổi mới nội dung
chương trình đào tạo để người học thông qua chương trình này sẽ có được những
kiến thức vừa có tính hiện đại, tính thực tiễn, vừa có tính hàn lâm, tính ứng dụng,
vừa có năng lực nghiên cứu, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu phù hợp với các kỹ
năng được xác định trong chuẩn đầu ra (Nguyễn Thị Hoàn (2021).
Hơn nữa, việc áp dụng IFRS góp phần
nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên. Đội ngũ này không chỉ cần có phẩm chất
đạo đức tốt mà còn phải sở hữu kiến thức chuyên môn sâu rộng, luôn cập nhật để
đảm bảo kiến thức luôn mới mẻ và hiện đại. Đồng thời, họ cần hiểu rõ tình hình
thực tiễn của hoạt động chuyên môn, để nội dung giảng dạy không chỉ mang tính
hàn lâm mà còn sâu sắc về thực tiễn.
Việc phát triển nội dung đào tạo sẽ
giúp sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể thích ứng nhanh chóng với thời đại
công nghệ số. Ngoài việc tiếp thu kiến thức chuyên môn, sinh viên cũng cần rèn
luyện các kỹ năng thiết yếu như: kỹ năng giao tiếp hiệu quả, làm việc nhóm, tư
duy phản biện và giải quyết vấn đề, luôn tôn trọng đạo đức nghề nghiệp. Hơn nữa,
việc học tập IFRS còn giúp sinh viên nâng cao trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là
ngoại ngữ chuyên ngành, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế.
Như vậy, áp dụng IFRS không chỉ
giúp giảm thiểu rủi ro gian lận mà còn tạo ra một môi trường báo cáo tài chính
minh bạch hơn, từ đó xây dựng lòng tin với nhà quản lý, các nhà đầu tư và các
bên liên quan.
6. Kết luận
Mặc dù việc áp dụng IFRS gặp phải một
số thách thức, nhưng những lợi ích mà nó mang lại là rất lớn. Cụ thể, IFRS giúp
cải thiện chất lượng, tăng tính minh bạch và khả năng so sánh của báo cáo tài
chính. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam dự kiến sẽ áp dụng IFRS trong
tương lai nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính và tăng cường khả năng tiếp
cận thị trường vốn toàn cầu.
Thứ nhất đầu tư vào đào tạo và nguồn lực cho nhân viên
của họ để đảm bảo họ hiểu rõ về IFRS. Doanh nghiệp có thể thuê các chuyên gia về
IFRS để đào tạo nhân viên hoặc cử nhân viên tham gia các buổi đào tạo hoặc hội
thảo về IFRS. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể xem xét áp dụng phần mềm
và công nghệ có thể hỗ trợ họ áp dụng IFRS một cách chính xác và nhất quán, giảm
rủi ro sai sót và không nhất quán trong BCTC (Nguyễn Thị Dung, 2023). Thứ hai, áp
dụng IFRS từng bước, bắt đầu với những chuẩn mực phù hợp nhất với hoạt động của
doanh nghiệp và dần dần mở rộng sang các chuẩn mực khác theo thời gian. Điều
này có thể giúp giảm thiểu tác động của quá trình chuyển đổi và cho phép các
doanh nghiệp điều chỉnh dần theo các yêu cầu báo cáo mới. Thứ ba, doanh
nghiệp cần hợp tác với các hiệp hội ngành hoặc cơ quan quản lý để chia sẻ các
thông lệ và nguồn lực tốt nhất nhằm hỗ trợ việc áp dụng IFRS trong toàn ngành.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp cần thực
hiện một số bước quan trọng trong quá trình áp dụng IFRS. Đầu tiên, việc xây dựng
chiến lược và ngân sách là yếu tố then chốt, đặc biệt khi chủ sở hữu doanh nghiệp
quyết định việc này. Nhận thức của họ về tính minh bạch và chiến lược phát triển
sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình triển khai IFRS. Thứ hai, hệ thống công nghệ
thông tin cần được tự động hóa để đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu của IFRS. Hệ
thống này cũng phải đảm bảo cung cấp báo cáo tài chính kịp thời cho các nhà đầu
tư. Tiếp theo, việc xây dựng cơ sở hạ tầng dữ liệu đồng bộ là rất quan trọng, bởi
IFRS yêu cầu báo cáo nhiều thông tin phù hợp với sự thay đổi của thị trường.
Doanh nghiệp cần tập trung vào việc xây dựng cả cơ sở dữ liệu tài chính và dữ
liệu phi tài chính để đáp ứng các yêu cầu của IFRS. Cuối cùng, trong giai đoạn
đầu áp dụng IFRS, doanh nghiệp có thể chưa lập được báo cáo tài chính theo IFRS
từ các giao dịch cụ thể. Để khắc phục điều này, doanh nghiệp nên lập báo cáo
tài chính theo VAS và chuyển đổi sang IFRS (Trần Thị Thanh Thảo, 2024).
Nghiên cứu đánh giá tác động của minh bạch báo cáo tài chính và kiểm toán độc lập tới thu hút FDI vào hệ sinh thái khởi nghiệp Thanh Hóa bằng tổng quan có hệ thống và phân tích dữ liệu thứ cấp.
Sự phát triển của kế toán tài chính không thể tách rời khỏi sự thay đổi của các nguyên lý kế toán. Các nguyên lý này, vốn là nền tảng lý luận, đã định hình cách thức các doanh nghiệp ghi nhận, đo lường và trình bày thông tin tài chính trên báo cáo của mình.
Nghị định 228/2025/NĐ-CP ban hành ngày 18/8/2025 đã thiết lập khung xử phạt vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, với mức phạt tiền tối đa tăng lên đến 2 tỷ đồng đối với doanh nghiệp kiểm toán (DNKT).
Bài viết này đi sâu vào vai trò ngày càng quan trọng của trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc cách mạng hóa công tác kiểm soát nội bộ (KSNB) và phòng chống gian lận kế toán.