Từ quý III/2026, Chính phủ triển khai thí điểm KPI trong công tác xây dựng pháp luật
Sáng 16/6, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu phát biểu tại Hội nghị triển khai thực hiện Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 có hiệu lực từ năm ngân sách 2026, khiến nhiều địa phương băn khoăn về việc áp dụng quy định đối với công tác chuyển nguồn và quyết toán ngân sách năm 2025.
Chị N hỏi là:
Kính gửi Bộ Tài chính, tôi có vướng mắc xin được giải đáp như sau: tại điều 77 Luật Ngân sách số 89/2025/QH15 quy định hiệu lực từ năm ngân sách 2026; điều 78 của Luật ngân sách 89 quy định điều khoản chuyển tiếp: đối với quyết toán ngân sách năm 2024 là áp dụng theo Luật NSNN số 83/2015/QH13.
Vậy đối với công tác chuyển nguồn từ năm 2025 sang 2026 và công tác xét duyệt quyết toán đơn vị và tổng hợp quyết toán ngân sách tại xã năm 2025 được áp dụng theo luật ngân sách nào?

Bộ Tài chính Trả lời:
Quốc hội đã
ban hành Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) số 89/2025/QH15 ngày 25/6/2025 và Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 73/2026/NĐ-CP ngày 10/3/2026 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NSNN. Khoản 2 Điều 50 Nghị định số
73/2026/NĐ-CP quy định: “Đối với quyết toán ngân sách năm 2025, bao gồm cả việc
xử lý thu, chi cuối năm, yêu cầu, lập, xét duyệt, tổng hợp, thời hạn và trình
tự quyết toán, xử lý kết dư, xử lý các khoản thu, chi không đúng quy định sau
khi quyết toán NSNN được phê chuẩn thực hiện theo quy định của Luật NSNN số
89/2025/QH15 và quy định của Nghị định này”. Tại Chương VI Luật NSNN số
89/2025/QH15 và Chương VI Nghị định số 73/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về công
tác kế toán, kiểm toán và quyết toán NSNN; trong đó, tại khoản 3 Điều 66[1] Luật
Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 và tại khoản 1 Điều 31[2] đã có quy định cụ
thể các khoản dự toán chi NSTW chưa thực hiện hoặc chưa chi hết, được chuyển
nguồn sang năm sau tiếp tục sử dụng.
Vì vậy, đề nghị độc giả căn cứ các quy định tại Luật NSNN số 89/2025/QH15, Nghị định số 73/2026/NĐ-CP nêu trên để thực hiện xử lý chi ngân sách cuối năm, trong đó có việc chuyển nguồn khoản kinh phí NSTW đã hỗ trợ đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[1]Tại khoản 3 Điều 66 Luật Ngân sách nhà
nước số 89/2025/QH15 quy định: “Các
khoản dự toán chi, bao gồm cả các khoản bổ sung trong năm, đến hết năm ngân
sách, kể cả thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách theo quy định tại khoản 2
Điều này chưa thực hiện được hoặc chưa chi hết phải hủy bỏ, trừ một số khoản
được chuyển nguồn sang năm sau để thực hiện và hạch toán quyết toán vào ngân
sách năm sau bao gồm:
a)
Các khoản dự toán được Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp bổ sung sau
ngày 30 tháng 9 năm thực hiện dự toán, trừ trường hợp đã hết nhiệm vụ chi;
b)
Chi đầu tư phát triển thực hiện chuyển nguồn sang năm sau đối với kế hoạch vốn
đầu tư công được kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân theo quy định của
Luật Đầu tư công;
c)
Các chương trình mục tiêu quốc gia đang trong thời gian thực hiện theo nghị
quyết của Quốc hội nhưng không quá ngày 31 tháng 12 năm sau;
d)
Chi mua sắm hàng hóa, dịch vụ, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng
mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng, đặt hàng, giao
nhiệm vụ đã đầy đủ hồ sơ, đã ký hợp đồng hoặc đã hoàn thành đấu thầu theo quy
định của pháp luật về đấu thầu trước ngày 31 tháng 12 năm thực hiện dự toán;
đ)
Nguồn thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp, trợ cấp và các khoản tính theo
tiền lương; nguồn thực hiện các chính sách an sinh xã hội;
e)
Kinh phí được giao tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan nhà
nước;
g)
Chi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
h)
Chi dự trữ quốc gia;
i)
Các khoản chi viện trợ cho các Chính phủ nước ngoài đã được cấp có thẩm quyền
giao dự toán;
k)
Các khoản chi từ nguồn viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam, các khoản tài trợ,
đóng góp tự nguyện đã được xác định nhiệm vụ chi cụ thể;
l)
Các khoản kinh phí phải hoàn trả ngân sách cấp trên theo kết luận, kiến nghị
của cơ quan thanh tra, kiểm toán”.
[2] Khoản 1 Điều 31 Nghị định số
73/2026/NĐ-CP quy định: “Điều 31.
Chuyển nguồn ngân sách từ năm trước sang năm sau: 1. Đến hết thời gian chỉnh lý
quyết toán, các khoản dự toán chi ngân sách nhà nước (bao gồm cả các khoản dự
toán chưa phân bổ chi tiết ở cấp ngân sách, các khoản tạm ứng trong dự toán, số
dư tài khoản tiền gửi các khoản ngân sách nhà nước cấp) chưa thực hiện được
hoặc chưa chi hết, được chuyển nguồn sang năm sau tiếp tục sử dụng, bao gồm:
a)
Các khoản dự toán được Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp bổ sung sau
ngày 30 tháng 9 năm thực hiện dự toán, trừ trường hợp đã hết nhiệm vụ chi;
b)
Chi đầu tư phát triển thực hiện chuyển nguồn sang năm sau đối với kế hoạch vốn
đầu tư công được kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân theo quy định của Luật Đầu tư công;
c)
Các chương trình mục tiêu quốc gia đang trong thời gian thực hiện theo nghị
quyết của Quốc hội nhưng không quá ngày 31 tháng 12 năm sau;
d)
Chi mua sắm hàng hóa, dịch vụ (bao gồm thuê hàng hóa, dịch vụ), sửa chữa, cải
tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu
tư xây dựng, đặt hàng, giao nhiệm vụ đã đầy đủ hồ sơ, đã ký hợp đồng hoặc đã
hoàn thành đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu trước ngày 31 tháng
12 năm thực hiện dự toán;
đ)
Nguồn thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp, trợ cấp và các khoản tính theo
tiền lương; nguồn thực hiện các chính sách an sinh xã hội;
e)
Kinh phí được giao tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan nhà
nước;
g)
Chi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
h)
Chi dự trữ quốc gia;
i)
Các khoản chi viện trợ cho Chính phủ nước ngoài đã được cấp có thẩm quyền giao
dự toán;
k)
Các khoản chi từ nguồn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ
chức, cá nhân nước ngoài cho Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa
phương, các khoản tài trợ, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước đã được xác định nhiệm vụ chi cụ thể;
l)
Các khoản kinh phí phải hoàn trả ngân sách cấp trên theo kết luận, kiến nghị
của cơ quan thanh tra, kiểm toán”.