Nhân tố ảnh hưởng kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp miền núi phía Bắc
Vũ Thị Mai Duyên
Thứ năm, 21/05/2026 10:25 (GMT+7)
Nghiên cứu khảo sát doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán trách nhiệm (KTTN). Mô hình gồm năm nhân tố: phân cấp quản lý, nhận thức của nhà quản lý, trình độ nhân viên kế toán, cơ cấu tổ chức và hệ thống khen thưởng.
1.
Giới thiệu
Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh
ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) khu vực miền núi phía
Bắc Việt Nam không chỉ đối mặt với hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực mà còn
chịu ràng buộc bởi vị trí địa lý phân tán, hạ tầng logistics và mức độ số hóa
chưa đồng đều. Đối với khối doanh nghiệp thương mại - nơi dòng hàng, dòng tiền
và dòng thông tin phải phối hợp qua nhiều điểm bán và kho trung chuyển - nhu cầu
về cơ chế kiểm soát và đánh giá hiệu quả theo đơn vị/bộ phận càng trở nên cấp
thiết. Kế toán trách nhiệm (KTTN) với logic phân tách tổ chức thành các trung
tâm trách nhiệm và cung cấp báo cáo phản hồi cho nhà quản trị được xem là công
cụ quan trọng giúp gắn mục tiêu bộ phận với mục tiêu toàn doanh nghiệp, tối ưu
chi phí - doanh thu - lợi nhuận và củng cố kỷ luật thực thi (Thủy và cộng sự,
2022).
Về bản chất, KTTN là hệ thống thu thập,
xử lý và truyền đạt thông tin tài chính và phi tài chính theo phạm vi kiểm soát
của từng cấp quản trị; vận hành thông qua các trung tâm chi phí, doanh thu, lợi
nhuận và đầu tư; đồng thời thiết lập chuẩn mực đo lường, cơ chế báo cáo và phản
hồi để đánh giá hiệu quả quản trị. Nhờ đó, KTTN vừa hỗ trợ lập kế hoạch - kiểm
soát, vừa tạo động lực hành vi phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp (Lin
& Yu, 2002; Biswas, 2017).
Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy
mức độ vận dụng KTTN chịu chi phối bởi nhiều yếu tố nội sinh (thiết kế phân quyền,
cơ cấu tổ chức, chất lượng nhân lực kế toán, cơ chế đánh giá - khen thưởng) và
các yếu tố bối cảnh. Nghiên cứu trong ngành thép chỉ ra vai trò của phân công
trách nhiệm, khen thưởng và đo lường hiệu quả đối với tổ chức KTTN (Thủy và cộng
sự, 2022). Một số nghiên cứu theo từng ngành cũng nhấn mạnh vai trò then chốt của
nhận thức và cam kết của nhà quản trị đối với việc triển khai KTTN (Hương &
Phương, 2024). Ở góc độ thiết kế hệ thống, các nghiên cứu đề xuất mô hình nhân
tố còn gợi ý bổ sung các biến về cơ cấu tổ chức, trình độ nhân viên kế toán,
văn hóa doanh nghiệp, hệ thống khen thưởng và công nghệ (Trúc & Thị, 2023).
Tuy nhiên, phần lớn bằng chứng thực
nghiệm nêu trên hoặc tập trung vào doanh nghiệp sản xuất, hoặc khảo sát tại các
địa bàn đô thị - công nghiệp, trong khi DNNVV thương mại ở miền núi phía Bắc có
đặc trưng khác biệt: mạng lưới bán lẻ/đại lý đa tầng, chi phí vận chuyển - lưu
kho biến động theo mùa, lao động kiêm nhiệm, dữ liệu phân tán và mức độ số hóa
chưa đồng đều. Những đặc thù này có thể làm thay đổi mức độ và thứ tự ảnh hưởng
của các nhân tố đối với việc vận dụng KTTN, do đó cần có nghiên cứu chuyên sâu
cho khối doanh nghiệp thương mại tại khu vực miền núi phía Bắc.
Xuất
phát từ khoảng trống đó, bài báo tập trung nhận diện và đo lường các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ vận dụng kế toán trách nhiệm (KTTN) trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV) thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Về mặt học thuật,
nghiên cứu kế thừa các kết quả trước đây và hiệu chỉnh khung nhân tố trong bối
cảnh đặc thù của hoạt động thương mại vùng cao, qua đó kiểm định mô hình nghiên
cứu đề xuất. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ để doanh nghiệp
thiết kế hệ thống KTTN phù hợp và phát huy tác dụng; đồng thời gợi ý một số hàm
ý về đào tạo, số hóa và chuẩn hóa báo cáo trách nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả quản
trị, năng lực thích ứng và phát triển bền vững của doanh nghiệp địa phương.
2.
Cơ sở lý
thuyết và mô hình nghiên cứu
KTTN
(RAC)
KTTN là cơ chế kiểm soát quản lý dựa trên phân quyền và
phân giao trách nhiệm (Biswas, 2017). Theo đó, thẩm quyền và nghĩa vụ được trao
cho nhà quản lý các trung tâm trách nhiệm như trung tâm chi phí, doanh thu, lợi
nhuận và đầu tư; đồng thời thiết lập hệ thống dự toán, báo cáo và đánh giá theo
trách nhiệm (Owino và cộng sự, 2016). Thông qua KTTN, nhà quản trị theo dõi kết
quả hoạt động của từng trung tâm, phát hiện sai lệch và đưa ra biện pháp điều
chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và kiểm soát chi phí.
Xét như một hệ thống, KTTN thu thập, xử lý và truyền đạt
các thông tin có thể kiểm soát trong ranh giới trách nhiệm của mỗi cấp quản trị
nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức. Hệ thống thông tin KTTN phân loại dữ liệu
theo các bộ phận chịu trách nhiệm và báo cáo hoạt động của họ theo doanh thu,
chi phí, cùng các nguồn lực tài chính và phi tài chính mà nhà quản trị có thể
kiểm soát (Phú, 2014).
Là một bộ phận của kế toán quản trị, KTTN phân biệt giữa
chi phí có thể và không thể kiểm soát, đồng thời gắn trách nhiệm kiểm soát chi
phí cho người quản lý. Đây cũng là phương thức phân tách cơ cấu tổ chức thành
các trung tâm trách nhiệm để đo lường hiệu quả hoạt động. Nói cách khác, KTTN
là công cụ đo lường thành tích bộ phận dựa trên nguyên tắc thiết lập phân cấp
(trao quyền ra quyết định và chia tổ chức thành các đơn vị) nhằm đánh giá hiệu
suất và tạo động lực. Bevan và Messner (2008) nhấn mạnh rằng cần xác lập trách
nhiệm rõ ràng để làm rõ mối liên hệ giữa trách nhiệm và khả năng kiểm soát; khi
nhà quản trị chịu trách nhiệm với phần việc có thể kiểm soát, họ sẽ có động lực
hành động và cải thiện kết quả.
KTTN đóng vai trò tích cực trong
việc nâng cao quản trị hoạt động và cải thiện lợi nhuận doanh nghiệp (Lin &
Yu, 2002). Nhiều tổng quan cũng ghi nhận KTTN ngày càng được quan tâm như một
công cụ kế toán quản trị nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình và kiểm soát
(Biswas, 2017). Quan điểm “trách nhiệm gắn với quyền hạn” cho rằng điểm xuất
phát của hệ thống KTTN là sự ủy quyền trách nhiệm cho các nhà quản trị bộ phận;
cơ chế này đánh giá thành tích dựa trên những gì họ chịu trách nhiệm và có thể
kiểm soát (Owino và cộng sự, 2016; Tunes và cộng sự, 2006).
Phân cấp quản lý
(MH)
Phân cấp quản lý phản ánh mức độ doanh nghiệp trao quyền
ra quyết định và phân bổ trách nhiệm cho các cấp quản trị. Khi mức độ phân quyền
rõ ràng, doanh nghiệp có điều kiện hình thành các trung tâm trách nhiệm, thiết
lập chỉ tiêu và báo cáo theo trách nhiệm, từ đó thúc đẩy vận dụng KTTN
(Nawaiseh và cộng sự, 2014; Owino và cộng sự, 2016). Ở góc độ khái niệm, Trần
Trung Tuấn (2015) cho rằng phân quyền quản lý là việc ủy nhiệm thẩm quyền ra
quyết định trong tổ chức, cho phép các nhà quản lý ở các cấp độ hoạt động khác
nhau tự quyết trong phạm vi trách nhiệm của mình. Bằng chứng thực nghiệm tại Việt
Nam của Trần Văn Tùng và Lý Phát Cường (2018) cũng ghi nhận phân quyền quản lý
có ảnh hưởng thuận chiều đến mức độ vận dụng KTTN.
Do đó, tại các doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại các
tỉnh miền núi phía Bắc, mức độ phân quyền của nhà quản lý sẽ quyết định cấu
trúc tổ chức, đồng thời tác động đến hệ thống thông tin và đặt ra yêu cầu kiểm
tra phù hợp. Khi phân quyền được triển khai, quyền lực được phân chia từ cấp
trên xuống cấp dưới; vì vậy, một nhà quản lý hiệu quả không chỉ ủy quyền mà còn
phải thiết lập cơ chế giám sát để bảo đảm quyền hạn được sử dụng đúng đắn, hướng
tới các mục tiêu chung của doanh nghiệp.
H1: Phân cấp quản lý có
tác dụng thuận chiều với KTTN.
Nhận thức của
nhà quản lý (MA)
Nawaiseh và cộng sự (2014) cho rằng để thiết lập và hoàn
thiện một hệ thống KTTN bảo đảm chất lượng và hiệu quả, trước hết nhà quản lý
phải nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và vai trò của KTTN. Hệ thống này mang
lại lợi ích ở chỗ nâng cao tính chịu trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm giải
trình của nhà quản lý, đồng thời góp phần cải thiện năng suất lao động. Khi nhà
quản lý đánh giá đúng lợi ích và tính hữu ích của các công cụ, kỹ thuật trong
KTTN, nhu cầu vận dụng KTTN sẽ gia tăng; từ đó, họ chủ động gắn kết và chịu
trách nhiệm với hệ thống kế toán quản trị trong điều hành doanh nghiệp. Nói
cách khác, chính mức độ hiểu biết về các công cụ – kỹ thuật của KTTN làm nảy
sinh nhu cầu ứng dụng trong doanh nghiệp và nâng cao sự trân trọng đối với hệ
thống này. Do đó, nhận thức của nhà quản lý là yếu tố then chốt cho việc triển
khai KTTN tại các doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại các tỉnh miền núi phía
Bắctại Việt Nam.
H2: Nhận thức của nhà quản
lý có tác dụng thuận chiều với KTTN.
Trình độ nhân
viên kế toán (ASQ)
Nawaiseh và cộng
sự (2014) nhấn mạnh rằng thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào chất lượng
nguồn nhân lực. Vì vậy, năng lực chuyên môn của đội ngũ kế toán có ảnh hưởng
đáng kể đến mức độ vận dụng KTTN. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong thiết
kế và triển khai KTTN, nếu trình độ kế toán nói chung và hiểu biết về KTTN nói
riêng không đáp ứng yêu cầu, việc áp dụng sẽ khó thực hiện hoặc thiếu hiệu quả.
Ngược lại, trình độ chuyên môn càng cao thì xác suất thành công khi vận dụng
KTTN càng lớn. Trình độ của nhân viên kế toán được phản ánh qua hệ thống văn bằng,
đào tạo và chứng chỉ nghề nghiệp. Bằng chứng thực nghiệm của Trần Văn Tùng và
Lý Phát Cường (2018) cũng cho thấy trình độ người làm kế toán tác động cùng chiều
đến mức độ vận dụng KTTN. Đối với DNNVV thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc,
việc chuẩn hóa quy trình, nâng cao kỹ năng phân tích - lập báo cáo trách nhiệm
và khả năng ứng dụng CNTT của nhân viên kế toán là điều kiện quan trọng để triển
khai KTTN hiệu quả.
H3: Trình độ nhân viên kế
toán có tác dụng thuận chiều với KTTN.
Cơ cấu tổ chức
(OS)
Cơ cấu tổ chức là nền tảng cho việc triển khai KTTN vì
quyết định cách thức phân chia trách nhiệm, luồng thông tin và cơ chế đánh giá
theo trung tâm. Al Hanini (2013) cho thấy cơ cấu tổ chức tác động đáng kể đến mức
độ triển khai các đặc trưng của KTTN. Bằng chứng tại Việt Nam cũng ghi nhận cơ
cấu tổ chức ảnh hưởng thuận chiều tới việc tổ chức/vận dụng KTTN (Trần Văn Tùng
& Lý Phát Cường, 2018; Trần Trung Tuấn, 2015; Hồ Mỹ Hạnh, 2015).
Vì vậy, để quản
trị và điều hành hoạt động trong DNNVV thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc,
doanh nghiệp cần thiết kế bộ máy quản lý và cơ cấu tổ chức phù hợp, xác định rõ
nhiệm vụ - quyền hạn của từng bộ phận, đảm bảo mối liên kết dọc và ngang giữa
các chức năng (mua hàng, bán hàng, kho vận, kế toán, cửa hàng/đại lý...). Đồng
thời, cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa nhân viên, giữa cấp trên và cấp
dưới là tiền đề quan trọng để vận dụng hiệu quả KTTN và lập báo cáo trách nhiệm
kịp thời theo từng trung tâm.
H4: Cơ cấu tổ chức có tác
dụng thuận chiều với KTTN.
Hệ thống khen thưởng (RS)
Theo Fowzia (2011) và Trần Trung Tuấn
(2015), điều kiện tiên quyết để triển khai thành công hệ thống KTTN là thiết kế
cơ chế khuyến khích - khen thưởng phù hợp với kết quả của từng trung tâm trách
nhiệm, qua đó nâng cao mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các trung tâm tương ứng.
Đối với DNNVV thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc, hệ thống khen thưởng cần
kết hợp hài hòa giữa khuyến khích vật chất và tinh thần, gắn chặt khen thưởng với
chỉ tiêu/KPI của từng trung tâm (cửa hàng, kho, bộ phận bán hàng...), đồng thời
phản ánh điều kiện thị trường và đặc thù chi phí logistics của khu vực.
H5: Hệ thống khen thưởng
có tác dụng thuận chiều với KTTN.
Mô
hình nghiên cứu đề xuất
Hình
1: Mô hình nghiên cứu
(Nguồn: tác giả
đề xuất)
3.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả thu thập dữ liệu thông qua khảo sát bằng bảng
hỏi chi tiết, được triển khai theo hình thức gửi gián tiếp qua nền tảng trực
tuyến Google Form. Việc áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện giúp tiết kiệm
đáng kể thời gian và chi phí khảo sát. Theo Hair và cộng sự (1998), cỡ mẫu tối
thiểu có thể xác định theo nguyên tắc n ≥ 5×x (x: số biến quan sát). Trong
nghiên cứu này có tất cả 25 biến quan sát, do đó cỡ mẫu tối thiểu là 25×5 = 125
quan sát. Tác giả phát ra 420 phiếu và thu về 380 phiếu hợp lệ. Sau quá trình
làm sạch dữ liệu, các dữ liệu hợp lệ được xử lý bằng phần mềm SPSS. Các phân
tích được tiến hành bao gồm: đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s
Alpha, kiểm định giá trị thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá (EFA) và
phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu.
Dựa trên các thang đo đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu trong và
ngoài nước về KTTN, tác giả điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với bối cảnh
DNNVV thương mại miền núi phía Bắc. Các thang đo sau khi hiệu chỉnh được chuyển
hóa thành bảng câu hỏi khảo sát với thang đo Likert 5 mức, dao động từ 1 -
“Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 - “Hoàn toàn đồng ý”. Trong mô hình nghiên cứu,
biến phụ thuộc là mức độ vận dụng KTTN (ký hiệu RAC) được đo lường thông qua 05
biến quan sát (RAC1-RAC5). Năm biến độc lập gồm: (1) Phân cấp quản lý (MH); (2)
Nhận thức của nhà quản lý (MA); (3) Trình độ nhân viên kế toán (ASQ); (4) Cơ cấu
tổ chức (OS); và (5) Hệ thống khen thưởng (RS).
4.
Kết quả và thảo luận
4.1. Mô tả thông tin mẫu nghiên
cứu
Tác giả phát ra 420 phiếu khảo sát
cho các DNNVV thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và thu về 380
phiếu hợp lệ. Đối tượng khảo sát là nhà quản trị các cấp và nhân sự phụ trách
tài chính - kế toán tại doanh nghiệp (doanh nghiệp có thời gian hoạt động trên
5 năm). Thống kê mô tả cho thấy: (i) Giới tính: nữ 36,6%, nam 63,4%; (ii) Độ tuổi:
dưới 30 (6,3%), 31-45 (28,5%), 46-55 (42,8%), trên 55 (22,4%); (iii) Trình độ
chuyên môn: đại học 75,4%, trên đại học 24,6%; (iv) Vị trí công tác: giám đốc/phó
giám đốc 22,9%, trưởng/phó bộ phận 56,3%, kế toán trưởng/tổ trưởng phụ trách kế
toán 20,8%.
4.2. Phân tích độ tin cậy
Cronbach’s Alpha
Kết quả
kiểm định độ tin cậy, cho thấy toàn bộ các thang đo đều đạt ngưỡng chấp nhận theo tiêu chuẩn
nghiên cứu (Bảng 1). Do vậy, các thang đo này được giữ lại và sử dụng cho các
phân tích tiếp theo, bao gồm phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi
quy.
Bảng 1: Kiểm định các thang đo bằng
Cronbach’s Alpha
(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)
4.3. Phân tích nhân tố khám phá
EFA
4.3.1. Phân tích EFA với thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến KTTN
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) đối
với 25 biến quan sát của 5 nhân tố độc lập cho thấy hệ số KMO = 0,902 (>
0,5) và kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000 (< 0,05), chứng tỏ dữ liệu phù hợp
để phân tích nhân tố. Tổng phương sai trích đạt 77,79% (>= 50%); số nhân tố
rút trích là 5, phù hợp với giả thuyết về cấu trúc thang đo; eigenvalue nhỏ nhất
là 2,875 và các trọng số nhân tố đều > 0,5. Như vậy, thang đo các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ vận dụng KTTN đạt giá trị hội tụ và phân biệt, đủ điều kiện
cho các bước phân tích tiếp theo (Bảng 2).
Bảng 2: Kết quả phân tích EFA thang
đo các nhân tố ảnh hưởng đến KTTN
(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)
4.3.2.
Phân tích EFA với thang đo KTTN
Phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc KTTN, có 05 biến quan sát được sử dụng
cho phân tích, hệ số KMO = 0,890 đạt yêu cầu ≥ 0,5; mức ý nghĩa của kiểm định
Bartlett = 0,000 đạt yêu cầu ≤ 0,05; Tổng phương sai trích được là 70.41% ≥
50%; số lượng nhân tố rút trích được là 1, điều này có nghĩa là 5 yếu tố đo lường
KTTN có độ kết dính cao và độ hội tụ của nhân tố, sử dụng cho phân tích tiếp
theo. Như vậy,
phân tích nhân tố EFA đáp ứng yêu cầu về dữ liệu và các biến quan sát có tương
quan với nhau trong tổng thể.
4.4.
Kiểm định mô hình và các giả thuyết
nghiên cứu
Mô hình hồi quy có dạng sau:
KTTN (RAC) = β0 + β1 × Phân cấp quản
lý (MH) + β2 × Nhận thức của nhà quản lý (MA) + β3 × Trình độ nhân viên kế toán
(ASQ) + β4 × Cơ cấu tổ chức (OS) + β5 × Hệ thống khen thưởng (RS) + ε.
Trong đó: β0 là hằng số hồi quy; βi là hệ số hồi quy; ε là
sai số.
4.4.1. Phân tích tương quan
Kết quả phân tích tương quan Pearson
cho thấy các yếu tố Phân cấp quản lý (r = 0,623), Nhận thức của nhà quản lý (r
= 0,585), Trình độ nhân viên kế toán (r = 0,541), Cơ cấu tổ chức (r = 0,573) và
Hệ thống khen thưởng (r = 0,588) đều có tương quan tuyến tính đáng kể với mức độ
vận dụng KTTN (RAC) (Sig. < 0,05).
Do đó, các biến độc lập trong mô hình
có thể được đưa vào hồi quy để giải thích sự biến đổi của biến phụ thuộc KTTN
(RAC).
4.4.2.Phân tích hồi
quy
Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến: Kết quả cho thấy hệ
số chấp nhận (Tolerance) đều < 1 và hệ số phóng đại phương sai VIF rất nhỏ
(< 5), các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu không có quan hệ chặt chẽ với
nhau nên không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra. Điều này cho thấy, mối quan
hệ giữa các biến độc lập không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả giải thích của mô
hình hồi quy.
Bảng 3: Hệ số R hiệu chỉnh
(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)
Bảng 4: Bảng kết quả
phân tích kiểm định F
(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)
Bảng 5: Kết quả phân
tích hồi quy Coefficients
(Nguồn: Kết quả phân
tích từ SPSS)
Bảng 6: Kết quả kiểm định giả thuyết của mô hình
(Nguồn: Kết quả phân
tích từ SPSS)
Kiểm
định độ phù hợp của mô hình: Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình được thể
hiện qua Bảng 3. Hệ số R2 hiệu chỉnh bằng 0,993, tức là các biến độc lập giải
thích được 99,3% biến thiên của mức độ vận dụng KTTN (RAC). Kết quả phân tích
ANOVA ở Bảng 4 cho thấy Sig. của kiểm định F = 0,000 < 0,05, do đó mô hình hồi
quy là phù hợp và có ý nghĩa thống kê. Kết quả hồi quy ở Bảng 5 cho thấy các hệ
số đều có Sig. < 0,05, vì vậy các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận. Lưu
ý: R2 rất cao cần được diễn giải thận trọng vì dữ liệu được thu thập cùng nguồn
và cùng thời điểm; nghiên cứu ghi nhận khả năng tồn tại sai lệch phương pháp
chung và đề xuất các nghiên cứu tiếp theo kiểm định lại bằng dữ liệu đa nguồn/thiết
kế dọc.
- Kiểm tra hiện tượng đa cộng
tuyến: Hệ số phóng đại
phương sai VIF của các biến là nhỏ (lớn nhất là VIF = 1,108 < 2,5). Do đó,
hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình này là nhỏ, không
đáng kể; do đó không có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hồi quy.
- Kiểm định
các giả thuyết nghiên cứu: Từ mô hình phân tích hồi quy ta có thể đi đến bác bỏ hoặc chấp nhận
các giả thuyết thống kê, với mức ý nghĩa là 5%. Bảng 6 tổng hợp việc kiểm định các giả thuyết thống
kê.
Như vậy, trên cơ sở các kiểm định ta có thể thấy rằng, mô hình hồi quy được lựa chọn là phù
hợp.
Kết quả mô hình hồi quy được xác định, như sau:
KTTN (RAC) = 0.403 × Phân cấp quản lý
(MH) + 0.353 × Nhận thức của nhà quản lý (MA) + 0.314 × Trình độ nhân viên kế
toán (ASQ) + 0.313 × Cơ cấu tổ chức (OS) + 0.323 × Hệ thống khen thưởng (RS).
Phương trình hồi quy cho thấy, tất cả 05 nhân tố đều ảnh hưởng tới KTTN trong doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa ở
các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Trong đó, nhân tố Phân cấp quản lý ảnh hưởng
nhiều nhất và nhân tố Cơ cấu tổ chức ảnh hưởng ít nhất.
4.
Kết luận
Nghiên cứu này nhận diện và định lượng các nhân tố ảnh
hưởng đến KTTN trong các doanh
nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Kết quả kiểm định
thang đo (Cronbach’s Alpha đều vượt ngưỡng chấp nhận), EFA (KMO cao, phương sai
trích lớn) và mô hình hồi quy cho thấy cả năm nhân tố đều tác động thuận chiều
và có ý nghĩa thống kê tới KTTN. Xét theo hệ số tác động chuẩn hóa, “Phân cấp
quản lý” là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0,403), tiếp đến là “Nhận thức của
nhà quản lý” (β = 0,353), “Hệ thống khen thưởng” (β = 0,323), “Trình độ nhân
viên kế toán” (β = 0,314) và “Cơ cấu tổ chức” (β = 0,313). Mức độ giải thích của
mô hình rất cao, cho thấy bộ nhân tố được đề xuất phù hợp với đặc thù điều hành
của DNNVV thương mại trong bối cảnh vùng núi.
Về hàm ý học thuật, kết quả củng cố
vai trò trung tâm của thiết kế tổ chức và hành vi quản trị trong vận hành KTTN:
phân cấp hiệu quả tạo điều kiện gắn quyền – trách nhiệm với đầu ra của từng
trung tâm; nhận thức và cam kết của nhà quản lý là “điểm kích hoạt” chuyển KTTN
từ “công cụ” thành “thực hành”; khen thưởng định hướng hiệu suất giúp khép kín
vòng lặp kế hoạch – thực thi – đánh giá; trong khi năng lực kế toán và cơ cấu tổ chức là hạ
tầng vận hành bảo đảm tính tin cậy và kịp thời của thông tin trách nhiệm. Việc
xác lập trật tự tác động giữa các nhân tố trong bối cảnh thương mại miền núi, góp phần mở rộng bằng chứng thực nghiệm
của KTTN vượt ra ngoài không gian nghiên cứu đô thị – công nghiệp.
Về hàm ý quản trị, các doanh nghiệp
nên: (i) Hoàn thiện cơ chế phân cấp và phân quyền tới các bộ phận/đơn vị trực
thuộc (chi nhánh, cửa hàng, kho, bộ phận bán hàng…), quy định rõ quyền hạn –
trách nhiệm – chỉ tiêu của từng trung tâm; (ii) Đầu tư bồi dưỡng cho đội ngũ quản
lý về tư duy và kỹ thuật KTTN, bảo đảm thông tin trách nhiệm được sử dụng trong
ra quyết định; (iii) Thiết kế hệ thống khen thưởng kết hợp vật chất và tinh thần,
gắn chặt KPI của trung tâm với kết quả KTTN; (iv) Nâng chuẩn năng lực đội ngũ kế
toán (đào tạo, chuẩn chứng chỉ, chuẩn quy trình), chuẩn hóa báo cáo trách nhiệm
và lịch báo cáo; (v) Tinh gọn cơ cấu, chuẩn hóa luồng thông tin dọc – ngang để
giảm độ trễ và tăng khả năng truy xuất chi phí/doanh thu theo trung tâm. Các
hàm ý này đặc biệt quan trọng trong điều kiện địa hình phân tán, mạng lưới phân
phối đa tầng và chi phí logistics theo mùa ở miền núi.
Nghiên cứu vẫn có những giới hạn: thiết
kế cắt ngang và dữ liệu tự báo cáo có thể dẫn tới sai lệch phương pháp chung; lấy
mẫu thuận tiện trong một vùng địa lý hạn chế khả năng khái quát; mức độ phù hợp
mô hình rất cao cần được kiểm chứng thêm bằng thiết kế đa nguồn trả lời hoặc
dài hạn. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang so sánh liên tỉnh/liên
ngành; kiểm định vai trò điều tiết của doanh thu và mức độ số hóa; sử dụng
PLS-SEM hoặc mô hình đa nhóm; bổ sung biến bối cảnh (áp lực cạnh tranh, hạ tầng
CNTT, môi trường thể chế địa phương). Dù còn giới hạn, kết quả hiện tại cung cấp
căn cứ tin cậy để các DNNVV thương mại miền núi thiết kế và vận hành hệ thống
KTTN “vừa túi” nguồn lực, qua đó nâng cao hiệu quả kiểm soát, cải thiện hiệu suất
bộ phận và hỗ trợ phát triển bền vững.
Nghiên cứu sử dụng mô hình hệ thống thông tin thành công (ISSM) và mô hình xác nhận kỳ vọng (ECM) để điều tra ảnh hưởng của các nhân tố quan trọng đến ý định duy trì sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) và thành quả công việc của kế toán viên và người sử dụng hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) ở các cơ sở giáo dục công lập tại Việt Nam.
Dưới áp lực ngày càng lớn về phát triển bền vững, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến công bố thông tin (CBTT) kế toán môi trường (KTMT) trong ngành xây dựng Việt Nam là rất cần thiết.
Bài viết đề xuất một khung lý thuyết tích hợp, mô tả sự tương tác hai chiều giữa KTTN và KSNB, góp phần mở rộng nền tảng lý luận về KSQT tích hợp trong doanh nghiệp sản xuất hiện đại.
Trong những năm gần đây, phát triển bền vững (PTBV) là mục tiêu đựợc nhiều quốc gia trên thế giới hướng tới. Tại Việt Nam, Chính phủ đã xác định PTBV là trọng tâm trong chiến lược kinh tế quốc gia đến năm 2050.