• Thứ Năm, ngày 21 tháng 05 năm 2026, 10:44:32
  • Thông tin tòa soạn
  • Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Nhận, phản biện bài trực tuyến
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
    • Tin thời sự
    • Tin hiệp hội
  • Nghiên cứu trao đổi
    • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
    • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
    • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
    • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
    • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
    • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
    • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
    • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
    • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
    • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
    • Tạp Chí Số 12 / Volume 12
  • Diễn đàn kế toán
    • Nhịp sống doanh nghiệp
    • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
    • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
    • Thuế
    • Tài chính
    • Ngân hàng
    • Chứng khoán
    • Bất động sản
    • Kế toán
    • Kiểm toán
  • Tạp Chí
    • Tạp chí 2024
    • Tạp chí 2023
    • Tạp chí 2022
    • Quản lý tạp chí
    • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
    • Hội đồng biên tập
    • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
    • Cơ cấu tổ chức
    • Ban biên tập
    • Quy định bài viết
    • Quy trình phản biện
    • Thể lệ đăng bài
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
    • Tin tức
    • Thảo luận chuyên sâu
    • Tài chính xanh và Doanh nghiệp

Tin hiệp hội

Tin trong nước

  • Tin thời sự
  • Tin hiệp hội

Nghiên cứu trao đổi

  • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
  • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
  • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
  • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
  • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
  • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
  • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
  • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
  • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
  • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
  • Tạp Chí Số 12 / Volume 12

Diễn đàn kế toán

  • Nhịp sống doanh nghiệp
  • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
  • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp

Nghiệp vụ

Tin Quốc tế

Chính sách mới

  • Thuế
  • Tài chính
  • Ngân hàng
  • Chứng khoán
  • Bất động sản
  • Kế toán
  • Kiểm toán

Tạp Chí

  • Tạp chí 2024
  • Tạp chí 2023
  • Tạp chí 2022
  • Quản lý tạp chí
  • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
  • Hội đồng biên tập
  • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
  • Cơ cấu tổ chức
  • Ban biên tập
  • Quy định bài viết
  • Quy trình phản biện
  • Thể lệ đăng bài

Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE

  • Tin tức
  • Thảo luận chuyên sâu
  • Tài chính xanh và Doanh nghiệp
Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
  • Nhận,phản biện bài trực tuyến

Nhân tố ảnh hưởng kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp miền núi phía Bắc

10:25 |  21/05/2026

Nghiên cứu khảo sát doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán trách nhiệm (KTTN). Mô hình gồm năm nhân tố: phân cấp quản lý, nhận thức của nhà quản lý, trình độ nhân viên kế toán, cơ cấu tổ chức và hệ thống khen thưởng.

1. Giới thiệu

Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam không chỉ đối mặt với hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực mà còn chịu ràng buộc bởi vị trí địa lý phân tán, hạ tầng logistics và mức độ số hóa chưa đồng đều. Đối với khối doanh nghiệp thương mại - nơi dòng hàng, dòng tiền và dòng thông tin phải phối hợp qua nhiều điểm bán và kho trung chuyển - nhu cầu về cơ chế kiểm soát và đánh giá hiệu quả theo đơn vị/bộ phận càng trở nên cấp thiết. Kế toán trách nhiệm (KTTN) với logic phân tách tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm và cung cấp báo cáo phản hồi cho nhà quản trị được xem là công cụ quan trọng giúp gắn mục tiêu bộ phận với mục tiêu toàn doanh nghiệp, tối ưu chi phí - doanh thu - lợi nhuận và củng cố kỷ luật thực thi (Thủy và cộng sự, 2022).

Về bản chất, KTTN là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin tài chính và phi tài chính theo phạm vi kiểm soát của từng cấp quản trị; vận hành thông qua các trung tâm chi phí, doanh thu, lợi nhuận và đầu tư; đồng thời thiết lập chuẩn mực đo lường, cơ chế báo cáo và phản hồi để đánh giá hiệu quả quản trị. Nhờ đó, KTTN vừa hỗ trợ lập kế hoạch - kiểm soát, vừa tạo động lực hành vi phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp (Lin & Yu, 2002; Biswas, 2017).

Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy mức độ vận dụng KTTN chịu chi phối bởi nhiều yếu tố nội sinh (thiết kế phân quyền, cơ cấu tổ chức, chất lượng nhân lực kế toán, cơ chế đánh giá - khen thưởng) và các yếu tố bối cảnh. Nghiên cứu trong ngành thép chỉ ra vai trò của phân công trách nhiệm, khen thưởng và đo lường hiệu quả đối với tổ chức KTTN (Thủy và cộng sự, 2022). Một số nghiên cứu theo từng ngành cũng nhấn mạnh vai trò then chốt của nhận thức và cam kết của nhà quản trị đối với việc triển khai KTTN (Hương & Phương, 2024). Ở góc độ thiết kế hệ thống, các nghiên cứu đề xuất mô hình nhân tố còn gợi ý bổ sung các biến về cơ cấu tổ chức, trình độ nhân viên kế toán, văn hóa doanh nghiệp, hệ thống khen thưởng và công nghệ (Trúc & Thị, 2023).

Tuy nhiên, phần lớn bằng chứng thực nghiệm nêu trên hoặc tập trung vào doanh nghiệp sản xuất, hoặc khảo sát tại các địa bàn đô thị - công nghiệp, trong khi DNNVV thương mại ở miền núi phía Bắc có đặc trưng khác biệt: mạng lưới bán lẻ/đại lý đa tầng, chi phí vận chuyển - lưu kho biến động theo mùa, lao động kiêm nhiệm, dữ liệu phân tán và mức độ số hóa chưa đồng đều. Những đặc thù này có thể làm thay đổi mức độ và thứ tự ảnh hưởng của các nhân tố đối với việc vận dụng KTTN, do đó cần có nghiên cứu chuyên sâu cho khối doanh nghiệp thương mại tại khu vực miền núi phía Bắc.

Xuất phát từ khoảng trống đó, bài báo tập trung nhận diện và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng kế toán trách nhiệm (KTTN) trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Về mặt học thuật, nghiên cứu kế thừa các kết quả trước đây và hiệu chỉnh khung nhân tố trong bối cảnh đặc thù của hoạt động thương mại vùng cao, qua đó kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ để doanh nghiệp thiết kế hệ thống KTTN phù hợp và phát huy tác dụng; đồng thời gợi ý một số hàm ý về đào tạo, số hóa và chuẩn hóa báo cáo trách nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực thích ứng và phát triển bền vững của doanh nghiệp địa phương.

2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

KTTN (RAC)

KTTN là cơ chế kiểm soát quản lý dựa trên phân quyền và phân giao trách nhiệm (Biswas, 2017). Theo đó, thẩm quyền và nghĩa vụ được trao cho nhà quản lý các trung tâm trách nhiệm như trung tâm chi phí, doanh thu, lợi nhuận và đầu tư; đồng thời thiết lập hệ thống dự toán, báo cáo và đánh giá theo trách nhiệm (Owino và cộng sự, 2016). Thông qua KTTN, nhà quản trị theo dõi kết quả hoạt động của từng trung tâm, phát hiện sai lệch và đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và kiểm soát chi phí.

Xét như một hệ thống, KTTN thu thập, xử lý và truyền đạt các thông tin có thể kiểm soát trong ranh giới trách nhiệm của mỗi cấp quản trị nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức. Hệ thống thông tin KTTN phân loại dữ liệu theo các bộ phận chịu trách nhiệm và báo cáo hoạt động của họ theo doanh thu, chi phí, cùng các nguồn lực tài chính và phi tài chính mà nhà quản trị có thể kiểm soát (Phú, 2014).

Là một bộ phận của kế toán quản trị, KTTN phân biệt giữa chi phí có thể và không thể kiểm soát, đồng thời gắn trách nhiệm kiểm soát chi phí cho người quản lý. Đây cũng là phương thức phân tách cơ cấu tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm để đo lường hiệu quả hoạt động. Nói cách khác, KTTN là công cụ đo lường thành tích bộ phận dựa trên nguyên tắc thiết lập phân cấp (trao quyền ra quyết định và chia tổ chức thành các đơn vị) nhằm đánh giá hiệu suất và tạo động lực. Bevan và Messner (2008) nhấn mạnh rằng cần xác lập trách nhiệm rõ ràng để làm rõ mối liên hệ giữa trách nhiệm và khả năng kiểm soát; khi nhà quản trị chịu trách nhiệm với phần việc có thể kiểm soát, họ sẽ có động lực hành động và cải thiện kết quả.

KTTN đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao quản trị hoạt động và cải thiện lợi nhuận doanh nghiệp (Lin & Yu, 2002). Nhiều tổng quan cũng ghi nhận KTTN ngày càng được quan tâm như một công cụ kế toán quản trị nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình và kiểm soát (Biswas, 2017). Quan điểm “trách nhiệm gắn với quyền hạn” cho rằng điểm xuất phát của hệ thống KTTN là sự ủy quyền trách nhiệm cho các nhà quản trị bộ phận; cơ chế này đánh giá thành tích dựa trên những gì họ chịu trách nhiệm và có thể kiểm soát (Owino và cộng sự, 2016; Tunes và cộng sự, 2006).

Phân cấp quản lý (MH)

Phân cấp quản lý phản ánh mức độ doanh nghiệp trao quyền ra quyết định và phân bổ trách nhiệm cho các cấp quản trị. Khi mức độ phân quyền rõ ràng, doanh nghiệp có điều kiện hình thành các trung tâm trách nhiệm, thiết lập chỉ tiêu và báo cáo theo trách nhiệm, từ đó thúc đẩy vận dụng KTTN (Nawaiseh và cộng sự, 2014; Owino và cộng sự, 2016). Ở góc độ khái niệm, Trần Trung Tuấn (2015) cho rằng phân quyền quản lý là việc ủy nhiệm thẩm quyền ra quyết định trong tổ chức, cho phép các nhà quản lý ở các cấp độ hoạt động khác nhau tự quyết trong phạm vi trách nhiệm của mình. Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam của Trần Văn Tùng và Lý Phát Cường (2018) cũng ghi nhận phân quyền quản lý có ảnh hưởng thuận chiều đến mức độ vận dụng KTTN.

Do đó, tại các doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại các tỉnh miền núi phía Bắc, mức độ phân quyền của nhà quản lý sẽ quyết định cấu trúc tổ chức, đồng thời tác động đến hệ thống thông tin và đặt ra yêu cầu kiểm tra phù hợp. Khi phân quyền được triển khai, quyền lực được phân chia từ cấp trên xuống cấp dưới; vì vậy, một nhà quản lý hiệu quả không chỉ ủy quyền mà còn phải thiết lập cơ chế giám sát để bảo đảm quyền hạn được sử dụng đúng đắn, hướng tới các mục tiêu chung của doanh nghiệp.

H1: Phân cấp quản lý có tác dụng thuận chiều với KTTN.

Nhận thức của nhà quản lý (MA)

Nawaiseh và cộng sự (2014) cho rằng để thiết lập và hoàn thiện một hệ thống KTTN bảo đảm chất lượng và hiệu quả, trước hết nhà quản lý phải nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và vai trò của KTTN. Hệ thống này mang lại lợi ích ở chỗ nâng cao tính chịu trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm giải trình của nhà quản lý, đồng thời góp phần cải thiện năng suất lao động. Khi nhà quản lý đánh giá đúng lợi ích và tính hữu ích của các công cụ, kỹ thuật trong KTTN, nhu cầu vận dụng KTTN sẽ gia tăng; từ đó, họ chủ động gắn kết và chịu trách nhiệm với hệ thống kế toán quản trị trong điều hành doanh nghiệp. Nói cách khác, chính mức độ hiểu biết về các công cụ – kỹ thuật của KTTN làm nảy sinh nhu cầu ứng dụng trong doanh nghiệp và nâng cao sự trân trọng đối với hệ thống này. Do đó, nhận thức của nhà quản lý là yếu tố then chốt cho việc triển khai KTTN tại các doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại các tỉnh miền núi phía Bắc tại Việt Nam.

H2: Nhận thức của nhà quản lý có tác dụng thuận chiều với KTTN.

Trình độ nhân viên kế toán (ASQ)

Nawaiseh và cộng sự (2014) nhấn mạnh rằng thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, năng lực chuyên môn của đội ngũ kế toán có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ vận dụng KTTN. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong thiết kế và triển khai KTTN, nếu trình độ kế toán nói chung và hiểu biết về KTTN nói riêng không đáp ứng yêu cầu, việc áp dụng sẽ khó thực hiện hoặc thiếu hiệu quả. Ngược lại, trình độ chuyên môn càng cao thì xác suất thành công khi vận dụng KTTN càng lớn. Trình độ của nhân viên kế toán được phản ánh qua hệ thống văn bằng, đào tạo và chứng chỉ nghề nghiệp. Bằng chứng thực nghiệm của Trần Văn Tùng và Lý Phát Cường (2018) cũng cho thấy trình độ người làm kế toán tác động cùng chiều đến mức độ vận dụng KTTN. Đối với DNNVV thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc, việc chuẩn hóa quy trình, nâng cao kỹ năng phân tích - lập báo cáo trách nhiệm và khả năng ứng dụng CNTT của nhân viên kế toán là điều kiện quan trọng để triển khai KTTN hiệu quả.

H3: Trình độ nhân viên kế toán có tác dụng thuận chiều với KTTN.

Cơ cấu tổ chức (OS)

Cơ cấu tổ chức là nền tảng cho việc triển khai KTTN vì quyết định cách thức phân chia trách nhiệm, luồng thông tin và cơ chế đánh giá theo trung tâm. Al Hanini (2013) cho thấy cơ cấu tổ chức tác động đáng kể đến mức độ triển khai các đặc trưng của KTTN. Bằng chứng tại Việt Nam cũng ghi nhận cơ cấu tổ chức ảnh hưởng thuận chiều tới việc tổ chức/vận dụng KTTN (Trần Văn Tùng & Lý Phát Cường, 2018; Trần Trung Tuấn, 2015; Hồ Mỹ Hạnh, 2015).

Vì vậy, để quản trị và điều hành hoạt động trong DNNVV thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc, doanh nghiệp cần thiết kế bộ máy quản lý và cơ cấu tổ chức phù hợp, xác định rõ nhiệm vụ - quyền hạn của từng bộ phận, đảm bảo mối liên kết dọc và ngang giữa các chức năng (mua hàng, bán hàng, kho vận, kế toán, cửa hàng/đại lý...). Đồng thời, cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa nhân viên, giữa cấp trên và cấp dưới là tiền đề quan trọng để vận dụng hiệu quả KTTN và lập báo cáo trách nhiệm kịp thời theo từng trung tâm.

H4: Cơ cấu tổ chức có tác dụng thuận chiều với KTTN.

Hệ thống khen thưởng (RS)

Theo Fowzia (2011) và Trần Trung Tuấn (2015), điều kiện tiên quyết để triển khai thành công hệ thống KTTN là thiết kế cơ chế khuyến khích - khen thưởng phù hợp với kết quả của từng trung tâm trách nhiệm, qua đó nâng cao mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các trung tâm tương ứng. Đối với DNNVV thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc, hệ thống khen thưởng cần kết hợp hài hòa giữa khuyến khích vật chất và tinh thần, gắn chặt khen thưởng với chỉ tiêu/KPI của từng trung tâm (cửa hàng, kho, bộ phận bán hàng...), đồng thời phản ánh điều kiện thị trường và đặc thù chi phí logistics của khu vực.

H5: Hệ thống khen thưởng có tác dụng thuận chiều với KTTN.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

(Nguồn: tác giả đề xuất)

3. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả thu thập dữ liệu thông qua khảo sát bằng bảng hỏi chi tiết, được triển khai theo hình thức gửi gián tiếp qua nền tảng trực tuyến Google Form. Việc áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện giúp tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí khảo sát. Theo Hair và cộng sự (1998), cỡ mẫu tối thiểu có thể xác định theo nguyên tắc n ≥ 5×x (x: số biến quan sát). Trong nghiên cứu này có tất cả 25 biến quan sát, do đó cỡ mẫu tối thiểu là 25×5 = 125 quan sát. Tác giả phát ra 420 phiếu và thu về 380 phiếu hợp lệ. Sau quá trình làm sạch dữ liệu, các dữ liệu hợp lệ được xử lý bằng phần mềm SPSS. Các phân tích được tiến hành bao gồm: đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, kiểm định giá trị thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu.

Dựa trên các thang đo đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu trong và ngoài nước về KTTN, tác giả điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với bối cảnh DNNVV thương mại miền núi phía Bắc. Các thang đo sau khi hiệu chỉnh được chuyển hóa thành bảng câu hỏi khảo sát với thang đo Likert 5 mức, dao động từ 1 - “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 - “Hoàn toàn đồng ý”. Trong mô hình nghiên cứu, biến phụ thuộc là mức độ vận dụng KTTN (ký hiệu RAC) được đo lường thông qua 05 biến quan sát (RAC1-RAC5). Năm biến độc lập gồm: (1) Phân cấp quản lý (MH); (2) Nhận thức của nhà quản lý (MA); (3) Trình độ nhân viên kế toán (ASQ); (4) Cơ cấu tổ chức (OS); và (5) Hệ thống khen thưởng (RS).

4. Kết quả và thảo luận

4.1. Mô tả thông tin mẫu nghiên cứu

Tác giả phát ra 420 phiếu khảo sát cho các DNNVV thương mại tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và thu về 380 phiếu hợp lệ. Đối tượng khảo sát là nhà quản trị các cấp và nhân sự phụ trách tài chính - kế toán tại doanh nghiệp (doanh nghiệp có thời gian hoạt động trên 5 năm). Thống kê mô tả cho thấy: (i) Giới tính: nữ 36,6%, nam 63,4%; (ii) Độ tuổi: dưới 30 (6,3%), 31-45 (28,5%), 46-55 (42,8%), trên 55 (22,4%); (iii) Trình độ chuyên môn: đại học 75,4%, trên đại học 24,6%; (iv) Vị trí công tác: giám đốc/phó giám đốc 22,9%, trưởng/phó bộ phận 56,3%, kế toán trưởng/tổ trưởng phụ trách kế toán 20,8%.

4.2. Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha

Kết quả kiểm định độ tin cậy, cho thấy toàn bộ các thang đo đều đạt ngưỡng chấp nhận theo tiêu chuẩn nghiên cứu (Bảng 1). Do vậy, các thang đo này được giữ lại và sử dụng cho các phân tích tiếp theo, bao gồm phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy.

Bảng 1: Kiểm định các thang đo bằng Cronbach’s Alpha

(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)

4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.3.1.   Phân tích EFA với thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến KTTN

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) đối với 25 biến quan sát của 5 nhân tố độc lập cho thấy hệ số KMO = 0,902 (> 0,5) và kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000 (< 0,05), chứng tỏ dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố. Tổng phương sai trích đạt 77,79% (>= 50%); số nhân tố rút trích là 5, phù hợp với giả thuyết về cấu trúc thang đo; eigenvalue nhỏ nhất là 2,875 và các trọng số nhân tố đều > 0,5. Như vậy, thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTTN đạt giá trị hội tụ và phân biệt, đủ điều kiện cho các bước phân tích tiếp theo (Bảng 2).

Bảng 2: Kết quả phân tích EFA thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến KTTN

(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)

4.3.2. Phân tích EFA với thang đo KTTN

Phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc KTTN, có 05 biến quan sát được sử dụng cho phân tích, hệ số KMO = 0,890 đạt yêu cầu ≥ 0,5; mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett = 0,000 đạt yêu cầu ≤ 0,05; Tổng phương sai trích được là 70.41% ≥ 50%; số lượng nhân tố rút trích được là 1, điều này có nghĩa là 5 yếu tố đo lường KTTN có độ kết dính cao và độ hội tụ của nhân tố, sử dụng cho phân tích tiếp theo. Như vậy, phân tích nhân tố EFA đáp ứng yêu cầu về dữ liệu và các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.

4.4. Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

Mô hình hồi quy có dạng sau:

KTTN (RAC) = β0 + β1 × Phân cấp quản lý (MH) + β2 × Nhận thức của nhà quản lý (MA) + β3 × Trình độ nhân viên kế toán (ASQ) + β4 × Cơ cấu tổ chức (OS) + β5 × Hệ thống khen thưởng (RS) + ε.

Trong đó: β0 là hằng số hồi quy; βi là hệ số hồi quy; ε là sai số.

4.4.1. Phân tích tương quan

Kết quả phân tích tương quan Pearson cho thấy các yếu tố Phân cấp quản lý (r = 0,623), Nhận thức của nhà quản lý (r = 0,585), Trình độ nhân viên kế toán (r = 0,541), Cơ cấu tổ chức (r = 0,573) và Hệ thống khen thưởng (r = 0,588) đều có tương quan tuyến tính đáng kể với mức độ vận dụng KTTN (RAC) (Sig. < 0,05).

Do đó, các biến độc lập trong mô hình có thể được đưa vào hồi quy để giải thích sự biến đổi của biến phụ thuộc KTTN (RAC).

4.4.2. Phân tích hồi quy

Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến: Kết quả cho thấy hệ số chấp nhận (Tolerance) đều < 1 và hệ số phóng đại phương sai VIF rất nhỏ (< 5), các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu không có quan hệ chặt chẽ với nhau nên không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra. Điều này cho thấy, mối quan hệ giữa các biến độc lập không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả giải thích của mô hình hồi quy.

Bảng 3: Hệ số R hiệu chỉnh

(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)

Bảng 4: Bảng kết quả phân tích kiểm định F

(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)

Bảng 5: Kết quả phân tích hồi quy Coefficients

(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)

Bảng 6: Kết quả kiểm định giả thuyết của mô hình

(Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS)

Kiểm định độ phù hợp của mô hình: Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình được thể hiện qua Bảng 3. Hệ số R2 hiệu chỉnh bằng 0,993, tức là các biến độc lập giải thích được 99,3% biến thiên của mức độ vận dụng KTTN (RAC). Kết quả phân tích ANOVA ở Bảng 4 cho thấy Sig. của kiểm định F = 0,000 < 0,05, do đó mô hình hồi quy là phù hợp và có ý nghĩa thống kê. Kết quả hồi quy ở Bảng 5 cho thấy các hệ số đều có Sig. < 0,05, vì vậy các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận. Lưu ý: R2 rất cao cần được diễn giải thận trọng vì dữ liệu được thu thập cùng nguồn và cùng thời điểm; nghiên cứu ghi nhận khả năng tồn tại sai lệch phương pháp chung và đề xuất các nghiên cứu tiếp theo kiểm định lại bằng dữ liệu đa nguồn/thiết kế dọc.

- Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến: Hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến là nhỏ (lớn nhất là VIF = 1,108 < 2,5). Do đó, hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình này là nhỏ, không đáng kể; do đó không có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hồi quy.

- Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu: Từ mô hình phân tích hồi quy ta có thể đi đến bác bỏ hoặc chấp nhận các giả thuyết thống kê, với mức ý nghĩa là 5%. Bảng 6 tổng hợp việc kiểm định các giả thuyết thống kê.

Như vậy, trên cơ sở các kiểm định ta có thể thấy rằng, mô hình hồi quy được lựa chọn là phù hợp.

Kết quả mô hình hồi quy được xác định, như sau:

KTTN (RAC) = 0.403 × Phân cấp quản lý (MH) + 0.353 × Nhận thức của nhà quản lý (MA) + 0.314 × Trình độ nhân viên kế toán (ASQ) + 0.313 × Cơ cấu tổ chức (OS) + 0.323 × Hệ thống khen thưởng (RS).

Phương trình hồi quy cho thấy, tất cả 05 nhân tố đều ảnh hưởng tới KTTN trong doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Trong đó, nhân tố Phân cấp quản lý ảnh hưởng nhiều nhất và nhân tố Cơ cấu tổ chức ảnh hưởng ít nhất.

4. Kết luận

Nghiên cứu này nhận diện và định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến KTTN trong các doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Kết quả kiểm định thang đo (Cronbach’s Alpha đều vượt ngưỡng chấp nhận), EFA (KMO cao, phương sai trích lớn) và mô hình hồi quy cho thấy cả năm nhân tố đều tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê tới KTTN. Xét theo hệ số tác động chuẩn hóa, “Phân cấp quản lý” là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0,403), tiếp đến là “Nhận thức của nhà quản lý” (β = 0,353), “Hệ thống khen thưởng” (β = 0,323), “Trình độ nhân viên kế toán” (β = 0,314) và “Cơ cấu tổ chức” (β = 0,313). Mức độ giải thích của mô hình rất cao, cho thấy bộ nhân tố được đề xuất phù hợp với đặc thù điều hành của DNNVV thương mại trong bối cảnh vùng núi.

Về hàm ý học thuật, kết quả củng cố vai trò trung tâm của thiết kế tổ chức và hành vi quản trị trong vận hành KTTN: phân cấp hiệu quả tạo điều kiện gắn quyền – trách nhiệm với đầu ra của từng trung tâm; nhận thức và cam kết của nhà quản lý là “điểm kích hoạt” chuyển KTTN từ “công cụ” thành “thực hành”; khen thưởng định hướng hiệu suất giúp khép kín vòng lặp kế hoạch – thực thi – đánh giá; trong khi năng lực kế toán và cơ cấu tổ chức là hạ tầng vận hành bảo đảm tính tin cậy và kịp thời của thông tin trách nhiệm. Việc xác lập trật tự tác động giữa các nhân tố trong bối cảnh thương mại miền núi, góp phần mở rộng bằng chứng thực nghiệm của KTTN vượt ra ngoài không gian nghiên cứu đô thị – công nghiệp.

Về hàm ý quản trị, các doanh nghiệp nên: (i) Hoàn thiện cơ chế phân cấp và phân quyền tới các bộ phận/đơn vị trực thuộc (chi nhánh, cửa hàng, kho, bộ phận bán hàng…), quy định rõ quyền hạn – trách nhiệm – chỉ tiêu của từng trung tâm; (ii) Đầu tư bồi dưỡng cho đội ngũ quản lý về tư duy và kỹ thuật KTTN, bảo đảm thông tin trách nhiệm được sử dụng trong ra quyết định; (iii) Thiết kế hệ thống khen thưởng kết hợp vật chất và tinh thần, gắn chặt KPI của trung tâm với kết quả KTTN; (iv) Nâng chuẩn năng lực đội ngũ kế toán (đào tạo, chuẩn chứng chỉ, chuẩn quy trình), chuẩn hóa báo cáo trách nhiệm và lịch báo cáo; (v) Tinh gọn cơ cấu, chuẩn hóa luồng thông tin dọc – ngang để giảm độ trễ và tăng khả năng truy xuất chi phí/doanh thu theo trung tâm. Các hàm ý này đặc biệt quan trọng trong điều kiện địa hình phân tán, mạng lưới phân phối đa tầng và chi phí logistics theo mùa ở miền núi.

Nghiên cứu vẫn có những giới hạn: thiết kế cắt ngang và dữ liệu tự báo cáo có thể dẫn tới sai lệch phương pháp chung; lấy mẫu thuận tiện trong một vùng địa lý hạn chế khả năng khái quát; mức độ phù hợp mô hình rất cao cần được kiểm chứng thêm bằng thiết kế đa nguồn trả lời hoặc dài hạn. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang so sánh liên tỉnh/liên ngành; kiểm định vai trò điều tiết của doanh thu và mức độ số hóa; sử dụng PLS-SEM hoặc mô hình đa nhóm; bổ sung biến bối cảnh (áp lực cạnh tranh, hạ tầng CNTT, môi trường thể chế địa phương). Dù còn giới hạn, kết quả hiện tại cung cấp căn cứ tin cậy để các DNNVV thương mại miền núi thiết kế và vận hành hệ thống KTTN “vừa túi” nguồn lực, qua đó nâng cao hiệu quả kiểm soát, cải thiện hiệu suất bộ phận và hỗ trợ phát triển bền vững.

Vũ Thị Mai Duyên

URL: https://tapchiketoankiemtoan.vn/nhan-to-anh-huong-ke-toan-trach-nhiem-tai-doanh-nghiep-mien-nui-phia-bac-d6302.html

© tapchiketoankiemtoan.vn

Hotline: 098 1696069

  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới

Thông tin hiệp hội

Cơ quan chủ quản

Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin tạp chí

Giấy phép hoạt động báo điện tử: QĐ số: 540/GP-BTTTT của Bộ thông Tin và Truyền Thông cấp ngày 23/08/2021; Số: 05/TTKHCN-ISSN của Cục thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cấp ngày 14/02/2023

Tổng Biên Tập: ThS.Tạ Đức Toàn

Thư ký tòa soạn: Nguyễn Huyền Thương

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin liên hệ

Email nhận bài Tạp chí in: banbientapvaa@gmail.com

Liên hệ truyền thông: truyenthongaav@gmail.com

Hotline: 098 169 6069
Cấm sao chép dưới mọi hình thức trên TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN, nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.
Coppyright © 2022 TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN. All rights reserved.