Vang vọng tiếng búa đập đá giữa biển trời Côn Đảo

Hương Bình Thứ hai, 11/05/2026 14:00 (GMT+7)

Một ngày tháng 5 lịch sử, được đến thăm Côn Đảo nhân chuyến công tác cùng Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, khi xe chạy ngang qua những rặng đá núi và một bên là những nhà tù có từ thời Pháp thuộc, tôi lại nhớ bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” của nhà cách mạng lỗi lạc Phan Châu Trinh.

Ngày nay, đến khu di tích Nhà tù Côn Đảo, nhiều người vẫn tìm đọc bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” như tìm lại tiếng nói tinh thần của một thời bi tráng. Nhưng bài thơ ấy không ra đời trong tưởng tượng hay cảm hứng lãng mạn. Nó được viết từ một nơi rất thật: Khu đập đá khổ sai thuộc Trại giam Phú Hải, tức Bagne I xưa, một trong những nhà lao lớn và khắc nghiệt nhất ở Côn Đảo.

Bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” được khắc lại trên mặt đá trang trọng như một dấu ấn lịch sử và tinh thần.

Khu trại giam này không rộng lắm, nằm sát bên cạnh khách sạn Sài Gòn – Côn Đảo hiện nay, đối diện với đường bờ biển và thật khó mà hình dung được đây là nơi đã từng giam giữ hàng ngàn tù nhân chính trị. Những người tù bị buộc phải đập đá, khuân đá, làm đường, xây tường nhà lao giữa nắng gió và roi vọt. Lao dịch nặng nhọc không chỉ nhằm bóc lột sức lao động mà còn để bẻ gãy ý chí phản kháng. Nhưng cũng chính tại nơi tưởng như chỉ còn đau đớn ấy, khí phách của nhiều chí sĩ Việt Nam lại sáng lên dữ dội, mà tiêu biểu là Tây Hồ Phan Châu Trinh.

Hiện nay, ngay bên lối vào Khu đập đá khổ sai, bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” được khắc lại trên mặt đá trang trọng như một dấu ấn lịch sử và tinh thần. Những câu thơ quen thuộc ấy, đọc lên giữa không gian Côn Đảo lộng gió, dường như vẫn còn nguyên hơi nóng của chiếc búa đập đá năm nào:

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,

Lừng lẫy làm cho lở núi non.

Xách búa đánh tan năm bảy đống,

Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,

Mưa nắng càng bền dạ sắt son,

Những kẻ vá trời khi lỡ bước,

Gian nan chi kể sự con con.

Vốn được tiếp cận, được giảng giải từ thời Trung học, nhưng cho đến nay tôi vẫn nghĩ đây là một áng thơ đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam. Đó là bài thơ không chỉ để đọc, để học hay để bình giảng, mà còn để suy ngẫm như một phần của lịch sử dân tộc.

Khu đập đá bên trong trại giam Phú Hải.

Phía sau những vần thơ hào sảng ấy không chỉ là khí phách của một chí sĩ bị đày biệt xứ, mà còn là cả một tư tưởng lớn về vận mệnh dân tộc, về con đường canh tân đất nước, về khát vọng đánh thức một dân tộc đang chìm trong bóng tối thuộc địa.

Năm nay cũng là dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của Phan Châu Trinh (1926 – 2026). Ở nhiều địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay quê hương của ông là thành phố Đà Nẵng (xưa là Quảng Nam), nhiều hoạt động tưởng niệm, hội thảo khoa học, tọa đàm học thuật đã được tổ chức để nhìn lại cuộc đời và tư tưởng của một trong những trí thức lớn nhất của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Điều đáng chú ý là càng nhìn từ hiện tại, người ta càng nhận ra ở Phan Châu Trinh một tầm nhìn vượt thời đại. Nhiều điều ông trăn trở hơn một thế kỷ trước, từ dân trí, cải cách thể chế, tinh thần công dân đến giáo dục và năng lực tự cường của quốc gia, vẫn còn nguyên giá trị trong hành trình phát triển và hiện đại hóa đất nước hôm nay.

Dưới thời Pháp rồi đến chính quyền Sài Gòn trước năm 1975, Côn Đảo là nơi giam giữ hàng vạn chiến sĩ yêu nước và cách mạng Việt Nam.

Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại Quảng Nam, trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Việt Nam. Đó là lúc triều Nguyễn ngày càng suy yếu, thực dân Pháp từng bước áp đặt ách đô hộ, còn xã hội phong kiến thì trì trệ, bảo thủ và mất dần năng lực tự đổi mới. Đỗ Phó bảng năm 1901, ông hoàn toàn có thể đi theo con đường làm quan để tìm kiếm danh vọng và sự an ổn cho riêng mình. Nhưng cũng giống nhiều trí thức lớn của Việt Nam đầu thế kỷ XX, ông sớm nhận ra rằng nếu đất nước không thay đổi tận gốc về dân trí, dân khí và thể chế, thì mọi cố gắng đều khó cứu nổi quốc gia.

Khác với Phan Bội Châu thiên về bạo động và cầu viện từ bên ngoài, Phan Châu Trinh lựa chọn một con đường khác: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Ông tin rằng muốn có độc lập bền vững thì trước hết người dân phải được học hành, phải có ý thức công dân, phải biết tự đứng lên bằng nội lực của chính mình. Đó là một tư tưởng rất mới trong bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX, và đến hôm nay đọc lại vẫn thấy còn nguyên tính thời sự.

Đến Côn Đảo nhớ Phan Châu Trinh “Đập đá ở Côn Lôn”.

Chính vì những hoạt động cổ động duy tân, vận động cải cách xã hội và ảnh hưởng từ phong trào chống thuế Trung Kỳ năm 1908 mà ông bị thực dân Pháp bắt giam rồi đày ra Côn Đảo. Ông đã bị giam cầm, hành hạ ở đây trong suốt 3 năm, đến năm 1911 mới được trả tự do.

Ngày nay, nhiều người biết đến Côn Đảo như một thiên đường du lịch với biển xanh, cát trắng, những cung đường tuyệt đẹp và hệ sinh thái đặc sắc. Nhưng trong gần một thế kỷ, nơi ấy từng là “địa ngục trần gian” khét tiếng bậc nhất Đông Dương.

Cầu tàu 914, nơi gần 1000 tù nhân Côn Đảo đã bỏ mạng.

Dưới thời Pháp rồi đến chính quyền Sài Gòn trước năm 1975, Côn Đảo là nơi giam giữ hàng vạn chiến sĩ yêu nước và cách mạng Việt Nam. Những cái tên như Chuồng Cọp, Chuồng Bò, hầm xay lúa… đến nay vẫn khiến người ta lạnh người khi bước chân vào. Biết bao người đã chết nơi ấy vì tra tấn, bệnh tật, lao dịch và đói khát. Nhưng cũng chính nơi ấy đã hun đúc nên một phần đặc biệt của tinh thần Việt Nam trong thế kỷ XX.

Phan Châu Trinh đến Côn Đảo không phải với tâm thế của một kẻ tuyệt vọng. Điều đáng khâm phục nhất ở ông là ngay trong lao tù vẫn giữ được tư thế của một con người tự do về tinh thần. “Đập đá ở Côn Lôn” ra đời trong hoàn cảnh ấy.

Bài thơ không miêu tả nỗi khổ đau theo kiểu bi lụy. Không có tiếng than thân trách phận. Không có sự yếu mềm. Ngược lại, công việc khổ sai đập đá lại được nâng lên thành một thử thách của chí làm trai:

“Xách búa đánh tan năm bảy đống/Ra tay đập bể mấy trăm hòn.”

Những câu thơ nghe như tiếng búa vang giữa trại giam khắc nghiệt Côn Lôn, mạnh mẽ, dứt khoát và đầy ý chí. Đá ở đây không chỉ là đá thật. Nó còn là biểu tượng của áp bức, của trì trệ, của xiềng xích mà người chí sĩ muốn phá bỏ.

Điều đặc biệt là càng ở cuối bài, tinh thần ấy càng sáng rõ:

“Những kẻ vá trời khi lỡ bước/Gian nan chi kể việc con con.”

“Vá trời” là một hình ảnh rất lớn. Đó không còn là công việc của riêng một cá nhân, mà là hoài bão cải tạo xã hội, thay đổi vận mệnh dân tộc. Đọc đến đây mới thấy hết tầm vóc tinh thần của Phan Châu Trinh. Ông không nhìn mình như một người tù khổ sai, mà như một kẻ đang tạm thời “lỡ bước” trên hành trình lớn lao của lịch sử.

Có lẽ chính điều ấy khiến Phan Châu Trinh trở thành một trong những nhà tư tưởng đặc biệt nhất của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nhiều quan điểm của ông từng gây tranh luận, thậm chí bị phản đối trong thời đại của mình. Nhưng càng nhìn từ hôm nay, càng thấy trong tư tưởng ấy có nhiều điều đi trước thời đại: đề cao giáo dục, đề cao pháp quyền, phản đối sự trì trệ của bộ máy phong kiến, nhấn mạnh vai trò của người dân trong tiến trình hiện đại hóa quốc gia.

Một dân tộc muốn mạnh không thể chỉ dựa vào lòng yêu nước theo cảm tính. Dân tộc ấy còn cần tri thức, tinh thần công dân và khả năng tự đổi mới mình. Đó chính là điều Phan Châu Trinh đau đáu suốt cuộc đời.

Hơn một thế kỷ đã đi qua kể từ ngày ông bị đày ra Côn Đảo. Hôm nay, Côn Đảo đã đổi khác rất nhiều. Những nhà tù năm xưa trở thành di tích lịch sử đặc biệt của quốc gia. Những bãi biển hoang sơ trở thành điểm đến nổi tiếng quốc tế. Những chuyến tàu chở tù nhân năm nào giờ được thay bằng những chuyến bay và tàu du lịch đưa du khách từ khắp nơi đến với hòn đảo này.

Và giờ đây, trong định hướng phát triển mới với vị thế một đặc khu thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, Côn Đảo đứng trước một vận hội lớn để phát triển mạnh hơn về du lịch, dịch vụ, kinh tế biển và kết nối vùng.

Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là: giữa phát triển hiện đại, Côn Đảo vẫn phải giữ được ký ức lịch sử và chiều sâu tinh thần của mình. Bởi giá trị lớn nhất của Côn Đảo không chỉ nằm ở cảnh quan thiên nhiên đẹp hiếm có, mà còn nằm ở lớp trầm tích lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam.

Người ta có thể đến Côn Đảo để nghỉ dưỡng, để ngắm biển, để tận hưởng thiên nhiên. Nhưng rồi khi bước vào những khu nhà tù cũ, đọc lại những dòng thơ của Phan Châu Trinh, nghe kể về những lớp người đã ngã xuống nơi đây, ai cũng sẽ cảm thấy có điều gì đó lắng lại trong lòng.

Giữa biển trời mênh mông của Côn Đảo hôm nay, tiếng búa “đập đá ở Côn Lôn” dường như vẫn còn vang vọng đâu đó như một lời nhắc nhở về nghị lực, về khát vọng canh tân và về trách nhiệm của mỗi thế hệ đối với tương lai đất nước.