Phật viện Đồng Dương – Đánh thức một “thánh địa Phật giáo” trong dòng chảy di sản Việt Nam
TS. Phan Thanh Hải
Thứ sáu, 15/05/2026 12:24 (GMT+7)
Sau nhiều thập niên nằm lặng lẽ trong ký ức khảo cổ học, Phật viện Đồng Dương đang dần được nhìn nhận trở lại như một di sản mang tầm vóc khu vực. Hội thảo khoa học quốc gia diễn ra tại Đà Nẵng không chỉ bổ sung thêm những phát hiện mới về Champa và Phật giáo Đại thừa, mà còn đặt ra câu chuyện lớn hơn về cách ứng xử với ký ức văn hóa, bảo tồn di sản và đánh thức những giá trị từng bị phủ bụi thời gian.
Ngày 15/5, tại khách
sạn Minh Toàn Galaxy, UBND thành phố Đà Nẵng phối hợp với Hội đồng Trị sự Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổ chức Hội thảo khoa học quốc
gia “Nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật viện Đồng Dương”.
Đây không chỉ là một hội thảo chuyên đề về khảo cổ hay Phật giáo Champa, mà thực
sự là một diễn đàn học thuật quy mô lớn, nơi nhiều vấn đề cốt lõi liên quan đến
lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, bảo tồn và phát triển di sản được đặt ra một cách
nghiêm túc, hệ thống và giàu chiều sâu.
Mô hình phục dựng đền tháp tại Phật viện Đồng Dương do học giả Pháp thực hiện.
Trong bối cảnh Việt Nam
đang ngày càng quan tâm hơn đến việc khai thác chiều sâu của các nền văn hóa bản
địa và di sản giao lưu khu vực, hội thảo lần này có thể xem là một dấu mốc đáng
chú ý. Bởi Phật viện Đồng Dương từ lâu vốn được giới nghiên cứu đánh giá là một
trong những trung tâm Phật giáo Đại thừa quan trọng nhất của Champa, đồng thời
là một đỉnh cao đặc biệt của nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc Đông Nam Á thế kỷ
IX-X. Tuy nhiên, nghịch lý là dù mang giá trị rất lớn, di tích này lại từng có
thời gian dài bị lãng quên, xuống cấp và chưa được nhìn nhận tương xứng với tầm
vóc lịch sử của nó.
Chính vì vậy, việc tổ chức
một hội thảo khoa học quốc gia với quy mô lớn, quy tụ đông đảo các nhà khoa học,
học giả, chuyên gia bảo tồn, chức sắc Phật giáo và nhà quản lý văn hóa trên cả
nước đã cho thấy sự thay đổi đáng kể trong nhận thức đối với di sản Đồng Dương.
Đây không còn chỉ là câu chuyện của một phế tích khảo cổ ở miền Trung, mà đã trở
thành câu chuyện về cách Việt Nam ứng xử với ký ức văn hóa của mình trong thời
đại mới.
Từ năm 1902 các học giả Pháp đã tổ chức khai quật khảo cổ Phật viện Đồng Dương
Kỷ yếu hội thảo dày gần
600 trang, gồm 48 tham luận được chia thành ba phần lớn: “Phật viện Đồng Dương
– Những vấn đề chung”, “Phật viện Đồng Dương – Giá trị nghệ thuật, tôn giáo và
văn hóa”, và “Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật viện Đồng Dương”.
Chỉ riêng cấu trúc này cũng cho thấy cách tiếp cận khá toàn diện của hội thảo:
từ lịch sử hình thành, khảo cổ học, bi ký học, tôn giáo học đến kiến trúc, nghệ
thuật, quy hoạch bảo tồn, công nghệ số và phát triển bền vững.
Một trong những điểm nổi
bật của hội thảo là sự hiện diện của nhiều tên tuổi lớn trong giới nghiên cứu
văn hóa và Champa học như GS. Lê Mạnh Thát, PGS. TS. Ngô Văn Doanh, NNC. Trần Kỳ
Phương, GS. TS. Trương Quốc Bình, GS. TS. KTS. Hoàng Đạo Kính, PGS. TS. Bùi Minh
Trí… cùng nhiều học giả, tăng ni, nhà nghiên cứu trẻ đến từ nhiều trường đại học,
viện nghiên cứu và cơ quan quản lý văn hóa trong cả nước. Điều này tạo nên một
diễn đàn học thuật có tính liên ngành cao, điều rất cần thiết đối với một di sản
phức hợp như Đồng Dương.
Hòa thượng Thích Thọ Lạc trình bày tham luận.
Tại báo cáo đề dẫn, Ban tổ
chức nhấn mạnh Phật viện Đồng Dương được vua Indravarman II xây dựng năm 875 tại
kinh đô Indrapura và từng là trung tâm Phật giáo Đại thừa quan trọng của Vương
quốc Champa cũng như khu vực Đông Nam Á. Điều đáng chú ý là hội thảo không nhìn Đồng Dương như một công trình kiến
trúc riêng lẻ, mà đặt nó trong tổng thể của không gian chính trị, tôn giáo và
giao lưu văn hóa khu vực thời trung đại.
Nhiều tham luận đã làm rõ
rằng dưới triều Indrapura, Champa không chỉ là một quốc gia biển năng động mà
còn là nơi giao thoa mạnh mẽ giữa các dòng chảy văn hóa Ấn Độ, Đông Nam Á và bản
địa Champa. Phật viện Đồng Dương vì vậy vừa mang tinh thần Phật giáo Đại thừa,
vừa phản ánh năng lực tiếp biến văn hóa rất đặc biệt của người Champa. Báo cáo
đề dẫn cũng nhấn mạnh đây là nơi thể hiện sự gắn kết giữa vương quyền và thần
quyền, đồng thời là trung tâm giao lưu văn hóa và tôn giáo quan trọng của khu vực.
GS. Lê Mạnh Thát trình bày tham luận.
Có lẽ một trong những giá
trị lớn nhất mà hội thảo lần này gợi mở là việc nhìn nhận lại vị trí của Champa
trong lịch sử văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á. Trong một thời gian dài, nhiều
người vẫn nhìn Champa chủ yếu qua những dấu tích kiến trúc còn sót lại như Mỹ
Sơn, Trà Kiệu hay các tháp Chăm ven biển miền Trung. Nhưng Đồng Dương cho thấy
Champa còn là một trung tâm tư tưởng và tôn giáo có chiều sâu, có khả năng sản
sinh những giá trị nghệ thuật độc đáo mang tầm khu vực.
Điều này thể hiện rất rõ
qua các tham luận về nghệ thuật Đồng Dương. Những nghiên cứu của PGS. TS. Đoàn
Thị Mỹ Hương, NNC. Tăng Sến, NNC. Tôn Thất Hướng hay TS. Nguyễn Ngọc Quý đã góp
phần nhận diện rõ hơn cái gọi là “Phong cách Đồng Dương”, một phong cách điêu
khắc đặc biệt với những đường nét mạnh, biểu cảm dữ dội, khuôn mặt mang chiều
sâu nội tâm và tính tâm linh rõ nét.
Khác với vẻ thanh thoát của
Trà Kiệu hay tính cổ điển của Mỹ Sơn, nghệ thuật Đồng Dương mang cảm giác mãnh
liệt, nội tâm và đầy tính thiền định. Nhiều học giả cho rằng đây chính là giai
đoạn nghệ thuật Champa đạt tới đỉnh cao của tính biểu hiện. Những pho tượng Bồ
tát, hộ pháp, các phù điêu hay cấu trúc kiến trúc tại Đồng Dương không chỉ có
giá trị mỹ thuật mà còn phản ánh một thế giới tư tưởng Phật giáo sâu sắc.
PGS. Ngô Văn Doanh trình bày tại hội thảo.
Đặc biệt, nhiều tham luận
đã nhấn mạnh Đồng Dương không chỉ là trung tâm Phật giáo Đại thừa mà còn mang dấu
ấn rõ rệt của Mật tông. Các nghiên cứu của NNC. Trần Kỳ Phương hay Hòa thượng
Thích Thọ Lạc cho thấy cấu trúc không gian của Phật viện có thể được lý giải
theo mô hình Mandala của Phật giáo Mật tông Đông Á. Đây là một hướng tiếp cận rất
thú vị, bởi nó mở ra khả năng nhìn Đồng Dương không chỉ như một di tích khảo cổ
mà như một “không gian thiêng”, nơi từng diễn ra các nghi lễ Phật giáo quy mô lớn.
Tham luận của Hòa thượng
Thích Thọ Lạc đặc biệt gây chú ý khi đề xuất phục dựng nghi thức hành trì kinh
điển Đại thừa tại Đồng Dương như một hình thức bảo tồn di sản phi vật thể. Đây
là một ý tưởng rất đáng suy ngẫm. Bởi nhiều năm qua, bảo tồn di sản ở Việt Nam
thường nghiêng về bảo tồn vật thể: tường thành, nền móng, hiện vật… Trong khi
đó, những giá trị tinh thần, nghi lễ, ký ức văn hóa và không gian tâm linh gắn
với di sản lại chưa được chú ý tương xứng.
Đồng Dương vì vậy đặt ra
một câu hỏi rất lớn: liệu có thể “hồi sinh” một di sản không chỉ bằng phục dựng
kiến trúc, mà bằng cách tái kích hoạt đời sống tinh thần từng tồn tại ở đó? Đây
thực chất là xu hướng bảo tồn hiện đại mà UNESCO và nhiều quốc gia đang theo đuổi,
tức nhìn di sản như một thực thể sống, có khả năng kết nối quá khứ với hiện tại
thông qua cộng đồng và thực hành văn hóa.
Nếu như phần nghiên cứu lịch
sử và nghệ thuật giúp làm rõ giá trị của Đồng Dương trong quá khứ, thì phần thứ
ba của hội thảo lại cho thấy mối quan tâm rất rõ đối với tương lai của di sản
này. Hàng loạt tham luận về phục dựng 3D, cơ sở dữ liệu số, AI, công nghệ quét
không gian, bảo tàng số và tham quan ảo đã cho thấy xu hướng tiếp cận mới trong
bảo tồn di sản ở Việt Nam hiện nay.
Các bài viết của PGS. TS.
Bùi Minh Trí, TS. KTS. Đinh Nam Đức, TS. Phan Thanh Hải cùng các cộng sự không
chỉ dừng ở việc “số hóa hiện vật”, mà hướng tới việc tái hiện không gian kiến
trúc và trải nghiệm văn hóa của Đồng Dương trong môi trường số. Điều này đặc biệt
quan trọng trong bối cảnh phần lớn kiến trúc gốc của di tích đã bị phá hủy qua
chiến tranh và thời gian.
Báo cáo đề dẫn của hội thảo
cũng thẳng thắn nhìn nhận hiện trạng đáng lo ngại của di tích: sau hơn 1.000
năm cùng nhiều biến động lịch sử và tác động của tự nhiên, phần lớn công trình
đã hư hoại, hiện chỉ còn nền móng và một số dấu tích như tháp Sáng. Công tác bảo
tồn dù đã được quan tâm nhưng vẫn còn nhiều hạn chế do thiếu nguồn lực và quy
hoạch tổng thể.
Chính vì vậy, hội thảo lần
này không chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu mà còn là một lời cảnh tỉnh. Bởi nếu
không có những chiến lược bảo tồn và phát huy phù hợp, Đồng Dương có thể tiếp tục
bị chìm trong quên lãng, trong khi đây thực sự là một trong những di sản có giá
trị đặc biệt của Việt Nam và khu vực.
Điều đáng chú ý là nhiều
tham luận không nhìn bảo tồn như việc “đóng băng quá khứ”, mà đặt vấn đề gắn bảo
tồn với phát triển bền vững, giáo dục cộng đồng, du lịch văn hóa và công nghiệp
sáng tạo. Đây cũng là xu hướng mà nhiều đô thị di sản trên thế giới đang hướng
tới: biến di sản thành nguồn lực mềm cho phát triển, nhưng trên nền tảng tôn trọng
tính nguyên gốc và chiều sâu văn hóa.
Xa hơn, hội thảo còn cho
thấy khát vọng từng bước xây dựng hồ sơ khoa học hướng tới UNESCO trong tương
lai. Báo cáo đề dẫn nêu rõ mục tiêu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng hồ
sơ Phật viện Đồng Dương trình UNESCO ghi danh Di sản Thế giới. Đây chắc chắn là
một hành trình rất dài và không dễ dàng. Nhưng nếu nhìn vào giá trị lịch sử,
nghệ thuật, tôn giáo và vai trò giao lưu văn hóa khu vực của Đồng Dương, có thể
thấy đây là một hướng đi hoàn toàn có cơ sở.
Có lẽ điều lớn nhất mà hội
thảo lần này mang lại không chỉ là thêm những phát hiện học thuật mới, mà là
góp phần thay đổi cách nhìn về Đồng Dương. Từ một phế tích nằm lặng lẽ ở miền
Trung, Đồng Dương đang dần được nhìn nhận như một biểu tượng của giao lưu văn
hóa, của tinh thần khoan dung tôn giáo và của khả năng sáng tạo nghệ thuật đặc
biệt trong lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á.
Và biết đâu, từ những cuộc
đối thoại học thuật như thế này, một ngày nào đó, “thánh địa Phật giáo” từng rực
rỡ của Champa sẽ thực sự được đánh thức trở lại, không chỉ trong ký ức của giới
nghiên cứu, mà trong nhận thức rộng lớn hơn của cộng đồng và trong dòng chảy sống
động của văn hóa đương đại.
Phật viện Đồng Dương là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng và đặc sắc bậc
nhất của vương quốc Champa cổ, được xây dựng vào năm 875 dưới triều vua
Indravarman II, khi Đồng Dương trở thành kinh đô Indrapura của Champa. Đây được
xem là một quần thể tu viện Phật giáo quy mô lớn hiếm có ở Đông Nam Á thời
trung đại, phản ánh giai đoạn Phật giáo Đại thừa phát triển cực thịnh trong lịch
sử Champa.
Quần
thể kiến trúc Phật viện được xây dựng trên một trục Đông – Tây dài khoảng
1.300m, gồm đền thờ chính, tăng xá, giảng đường, hệ thống tháp và nhiều hồ nước
nhân tạo. Các cuộc khai quật đầu thế kỷ XX của các học giả Pháp như L. Finot và
H. Parmentier đã phát hiện hàng trăm hiện vật quý giá, đặc biệt là các tượng Phật
và tác phẩm điêu khắc mang phong cách nghệ thuật Đồng Dương nổi tiếng, một
phong cách riêng biệt trong nghệ thuật Champa với vẻ đẹp mạnh mẽ, huyền bí và
giàu tính biểu cảm.
Trải
qua hơn một thiên niên kỷ cùng sự tàn phá của thời gian, chiến tranh và thiên
nhiên, Phật viện Đồng Dương ngày nay chỉ còn lại một phần tháp gọi là “Tháp
Sáng” cùng dấu tích nền móng cổ. Tuy nhiên, nơi đây vẫn được xem là chứng tích
đặc biệt về sự giao thoa văn hóa, tôn giáo giữa Champa với khu vực Nam Á và
Đông Nam Á, đồng thời là minh chứng cho một thời kỳ rực rỡ của Phật giáo trên dải
đất miền Trung Việt Nam. Năm 2016, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc
biệt của Việt Nam.
Sáng 15/5, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chủ trì cuộc họp về xây dựng Đề án sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.
Nghiên cứu sử dụng mô hình hệ thống thông tin thành công (ISSM) và mô hình xác nhận kỳ vọng (ECM) để điều tra ảnh hưởng của các nhân tố quan trọng đến ý định duy trì sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) và thành quả công việc của kế toán viên và người sử dụng hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) ở các cơ sở giáo dục công lập tại Việt Nam.
Thanh tra cho rằng, trong quá trình tác nghiệp, những người thực hiện nghiệp vụ tại Hội sở MSB và chi nhánh Thái Nguyên chưa nghiên cứu đầy đủ quy định của pháp luật, quy định nội bộ của MSB, dẫn đến sai phạm trong quy trình cho vay và thu nợ.
Bà Nguyễn Thị T công tác tại đơn vị sự nghiệp nhóm 3 (tự chủ 10%-30%). Thực hiện Thông tư số 107/2017/TT-BTC về hướng dẫn chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, đơn vị bà đã hạch toán mua tài sản cố định từ nguồn thu dịch vụ.
5 nhân tố độc lập có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến CLTT BCTC, bao gồm: Năng lực nhân viên kế toán, Hệ thống thông tin kế toán, Hệ thống KSNB, Môi trường pháp lý và Trách nhiệm giải trình tài chính.