Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định 282/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) cho sinh viên là vô cùng quan trọng, là một trong những vấn đề rất nan giải của các trường đại học hiện nay
Bản thân tác giả nhận thấy việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) cho sinh viên là vô cùng quan trọng, là một trong những vấn đề rất nan giải của các trường đại học hiện nay. Chính vì thế, trong bài viết này tác giả trình bày những tồn tại trong công tác NCKH của sinh viên ngành Kế toán Trường Đại học An Giang. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực NCKH cho sinh viên ngành Kế toán nói riêng và các ngành kinh tế khác nói chung.
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, các trường đại học ngày càng quan tâm phát triển, khuyến khích các sinh viên tham gia NCKH. Bởi vì, hoạt động NCKH là vô cùng quan trọng, thông qua hoạt động này sẽ giúp cho sinh viên trải nghiệm từ lý thuyết đến thực tiễn, rèn luyện và nâng cao khả năng tư duy sáng tạo; khả năng tìm tòi, khám phá; khả năng tự học, tự bồi dưỡng kiến thức,... Các trường đại học thúc đẩy hoạt động NCKH cho sinh viên phát triển chính là góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao; góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; góp phần tạo ra tri thức mới, sản phẩm mới cho xã hội. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu khoa học của sinh viên đã được cụ thể hóa tại Thông tư số 19/2012/TT-BGDĐT ngày 01/6/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học.
Vai trò của hoạt động NCKH đối với sinh viên đúng là vô cùng quan trọng nhưng để phát triển hoạt động NCKH trong sinh viên là không dễ dàng, đặc biệt đối với sinh viên ngành kế toán. Sinh viên ngành kế toán học kiến thức nghề nghiệp chủ yếu là từ các quy định, mang tính tuân thủ, tính khuôn mẫu cao. Chính vì thế, để nâng cao năng lực NCKH trong sinh viên ngành kế toán cần có sự chung tay của nhà trường và thầy cô giáo, đề ra các giải pháp hợp lý và dẫn dắt sinh viên là vô cùng cần thiết, đối với sinh viên ngành Kế toán Đại học An Giang cũng không ngoại lệ.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Khái niệm và đo lường năng lực NCKH
Khái niệm NCKH
Theo Luật Khoa học và công nghệ (2018), NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
Khái niệm “Năng lực NCKH”
Theo A. Sebarová (2018), năng lực NCKH là một hệ thống mở và không ngừng phát triển, bao gồm các kiến thức chuyên môn và kiến thức quy trình trong lĩnh vực nghiên cứu, các thái độ và sự sẵn sàng của cá nhân cho phép các giảng viên thực hiện một nghiên cứu giáo dục trong khuôn khổ hoạt động nghề nghiệp của họ.
Theo Trần Thanh Ái (2014), năng lực NCKH bao gồm 3 thành tố chủ yếu cấu thành nên bao gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Nói cách khác, để đo lường năng lực NCKH của sinh viên chính là đi đo lường cả ba yếu tố này.
- Kiến thức bao gồm: Kiến thức khoa học chuyên ngành và kiến thức về phương pháp NCKH.
- Kỹ năng bao gồm: Kỹ năng xây dựng đề tài nghiên cứu; kỹ năng thiết kế nghiên cứu; kỹ năng thu thập dữ liệu; kỹ năng phân tích dữ liệu và sử dụng công cụ phân tích; kỹ năng phê phán; kỹ năng lập luận; Kỹ năng viết báo cáo khoa học.
- Thái độ bao gồm: Nhiệt tình, say mê khoa học; nhạy bén với sự kiện xảy ra; khách quan, trung thực, nghiêm túc; kiên trì, cẩn thận khi làm việc; tinh thần hợp tác khoa học; hoài nghi khoa học, dũng cảm bảo vệ chân lí khoa học.
2.2. Lược khảo một số nghiên cứu trước
Theo Hà Đức Sơn và Nông Thị Như Mai (2021), các tác giả đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia NCKH của sinh viên đại học Tài chính - Marketing. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 04 yếu tố ảnh hưởng tích cực đến sự tham gia NCKH của sinh viên là: Môi trường nghiên cứu, Động cơ, Năng lực của sinh viên và Sự quan tâm khuyến khích của nhà trường.
Bùi Thị Lâm và Trần Mai Loan (2022), các tác giả đã tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia nghiên cứu của sinh viên trên cơ sở số liệu được thu thập từ 350 sinh viên đang học tập tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy có bốn yếu tố cơ bản ảnh hưởng tích cực đến hoạt động này, bao gồm: Thái độ của sinh viên, Năng lực của sinh viên; Sự khuyến khích của Học viện, Khoa chuyên môn, giảng viên và Điều kiện thực hiện NCKH tại Học viện.
Vũ Quỳnh Vân (2025), thông qua kết quả khảo sát đối với 400 sinh viên khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Công đoàn, nghiên cứu đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định nghiên cứu khoa học của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Động cơ nghiên cứu khoa học, Sự hỗ trợ từ giảng viên và Khoa, Môi trường nghiên cứu và Năng lực sinh viên là 4 nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến ý định nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Qua lược khảo một số nghiên cứu trước cho thấy, điểm chung của kết quả các nghiên cứu đều chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến ý định tham gia NCKH của sinh viên gồm: Năng lực của sinh viên; Môi trường NCKH; Sự quan tâm, khuyến khích và hỗ trợ của giảng viên, khoa chuyên môn và nhà trường. Các kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học để tác giả phân tích thực trạng và đưa ra các khuyến nghị cho bài nghiên cứu này.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: Bằng phương pháp lược khảo và tổng kết các nghiên cứu trước đây để tác giả tìm ra căn cứ khoa học cho nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp quan sát: Tác giả sử dụng tri giác để thu thập thông tin về thực trạng năng lực NCKH của sinh viên và các vấn đề có liên quan đến hoạt động NCKH của sinh viên.
Phương pháp điều tra: Tác giả tiến hành điều tra các tài liệu, văn bản liên quan đến hoạt động NCKH của sinh viên.
Phương pháp luận: Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm từ các nghiên cứu trước, phân tích các thực trạng từ đó tác giả lập luận logic để đề xuất các khuyến nghị.
4. Thực trạng năng lực NCKH của sinh viên ngành Kế toán Trường Đại học An Giang
Nếu đo lường năng lực NCKH của sinh viên căn cứ vào các thành tố cấu thành như tác giả trình bày ở phần cơ sở lý thuyết, thì năng lực NCKH của sinh viên ngành Kế toán Đại học An Giang mới chỉ đạt được về mặt kiến thức khoa học chuyên ngành và kiến thức NCKH chung. Trong chương trình đào tạo ngành Kế toán sinh viên được cung cấp các môn học chuyên ngành như Nguyên lý Kế toán; Kế toán tài chính 1, 2, 3, 4, Kế toán chi phí; Kế toán quản trị; Kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp. Trong đó, môn Nguyên lý kế toán được giảng dạy ở học kỳ III; môn Kế toán tài chính 1 giảng dạy ở học kỳ IV; Kế toán tài chính 2, Kế toán chi phí, Kế toán quản trị dạy ở HK V; Kế toán tài chính 3, Kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp, Tin học kế toán dạy ở HK VI. Ngoài ra, cũng ở HK V sinh viên còn được học môn Phương pháp NCKH trong kinh doanh, trong môn học này sinh viên được cung cấp các kiến thức lý thuyết cơ bản về NCKH: Xác định vấn đề nghiên cứu, các phương pháp NCKH (phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính), phương pháp đặt câu hỏi khảo sát, chọn mẫu khảo sát, các công cụ đo lường trong nghiên cứu,… Như vậy, ngay từ cuối HK V, HK VI sinh viên đã được trang bị tương đối đầy đủ kiến thức cơ bản về kế toán tài chính và NCKH. Nếu sinh viên có điểm trung bình hết môn đối với các môn học này từ 5,0 điểm trở lên thì đã đạt được về mặt kiến thức cơ bản làm cơ sở nền tảng để phục vụ cho các NCKH trong lĩnh vực Kế toán. Kết quả khảo sát thực tế từ các giảng viên giảng dạy các môn học này cho thấy, phần lớn sinh viên ngành Kế toán đã hoàn thành các môn học này ngay từ lần học đầu tiên.
Bên cạnh mặt lý thuyết đã đạt được thì năng lực NCKH của sinh viên ngành Kế toán Đại học An Giang còn rất hạn chế về mặt kỹ năng và thái độ.
Như tác giả trình bày ở trên, trong chương trình đào tạo ngành Kế toán có giảng dạy môn Phương pháp NCKH trong kinh doanh. Môn này dạy về các phương pháp nghiên cứu chung trong kinh doanh và được dạy cho tất cả sinh viên các ngành kinh tế. Do vậy, sinh viên ngành Kế toán sẽ khá mơ hồ về phương pháp NCKH trong lĩnh vực Kế toán. Mặt khác, để sinh viên có thể có được những kỹ năng trong NCKH đòi hỏi sinh viên phải được thực hành thường xuyên các công việc trong quy trình NCKH như: Đề xuất ý tưởng nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, tìm tài liệu nghiên cứu, xây dựng bảng hỏi, chọn mẫu, sử dụng công cụ để đo lường và phân tích kết quả nghiên cứu, trình bày bài nghiên cứu dưới dạng một bài báo khoa học,... Tuy nhiên, chỉ với 1 môn học trong phạm vi thời lượng hạn chế sinh viên ít có cơ hội để thực hành các công việc này.
Bên cạnh đó, trong chương trình đào tạo Ngành có môn học Kinh tế lượng sẽ giảng dạy nhiều nội dung cần thiết phục vụ cho NCKH như các mô hình nghiên cứu, phần mềm chạy dữ liệu SPSS,… thì chương trình đang thiết kế là môn học tự chọn. Do đó, nếu sinh viên không chọn học môn này sẽ thiếu hụt nhiều kiến thức, kỹ năng trong nghiên cứu các đề tài định lượng, khó hình thành ý tưởng nghiên cứu khoa học về đề tài định lượng, nếu có ý tưởng thì quá trình nghiên cứu sẽ gặp nhiều khó khăn.
Về thái độ trong NCKH, hiện nay phần lớn sinh viên ngành Kế toán Đại học An Giang chưa quan tâm đến NCKH. Thông qua việc quan sát thực tế trong các buổi họp cố vấn học tập và các buổi hội thảo khoa học cho thấy rất hiếm khi có sinh viên ngành Kế toán đặt câu hỏi thảo luận về NCKH. Bên cạnh đó, qua điều tra các báo cáo tổng kết cho thấy, trong những năm gần đây chưa có một đề tài NCKH nào đến từ sinh viên ngành Kế toán của Trường, nếu có là đề tài chuyển đổi từ khoá luận tốt nghiệp đại học. Công tác NCKH của sinh viên ngành Kế toán chỉ là những tiểu luận, đề tài thực tập tốt nghiệp hay khoá luận tốt nghiệp ngoài ra chưa có đề tài nào mang tính tự nguyện. Với thực trạng đáng buồn như vậy thì nguyên nhân là do có những vướng mắc và khó khăn đến từ nhiều phía, cụ thể như sau:
Qua điều tra các đề cương chi tiết các môn học tác giả nhận thấy, đa phần là các môn học còn khá nặng lý thuyết, kiểm tra giữa kỳ và thi cuối kỳ đa số là cho đề không được dùng tài liệu. Do đó, sinh viên phải giành khá nhiều thời gian cho việc tham dự lớp học, ôn tập lý thuyết, làm bài tập cá nhân, học thuộc bài,… để có được kết quả học tập tốt nhất. Chính vì thế, sinh viên không có nhiều thời gian để đầu tư cho NCKH. Bên cạnh đó, việc kiểm tra và thi cho nội dung gói gọn trong tài liệu giảng dạy, sinh viên học thuộc làm bài sẽ không phát triển được năng lực tự học tự nghiên cứu của sinh viên.
Từ kinh nghiệm các nghiên cứu trước cho thấy các yếu tố Sự quan tâm, khuyến khích, hỗ trợ của Giảng viên, Khoa chuyên môn và Nhà trường có ảnh hưởng tích cực đến ý định tham gia NCKH của sinh viên. Tuy nhiên, hiện nay các yếu tố này vẫn còn nhiều hạn chế.
Qua điều tra các văn bản liên quan như Bảng phân công giảng, danh sách các nhóm học dạy tại Bộ môn cho thấy Giảng viên ngành Kế toán còn đảm nhận khá nhiều môn học, mỗi giảng viên tham gia giảng dạy từ 3 đến 5 môn. Bên cạnh đó, mỗi nhóm học sỉ số sinh viên còn khá đông, thường là 50- 60 sinh viên. Dó đó, các giảng viên cần dành khá nhiều thời gian cho soạn và cập nhật bài giảng, chấm bài kiểm tra, bài thi…Ngoài ra các giảng viên còn phải tham gia các hoạt động khác như coi thi, viết báo cáo tự đánh giá chương trình đào tạo, tham gia chỉnh sửa chương trình đào tạo, học tập các chuyên đề chuyên môn và ngoài chuyên môn do Trường tổ chức phong trào thể thao, văn nghệ… nên thời gian dành cho NCKH và hướng dẫn sinh viên NCKH còn hạn chế, sự quan tâm của giảng viên về vấn đề NCKH của sinh viên còn hời hợt.
Trong các buổi hội thảo khoa học cấp khoa, cấp trường tác giả quan sát thấy phần lớn là hội thảo chung các ngành kinh tế mà ít có hội thảo dành chuyên ngành Kế toán, do vậy bị hạn chế về không gian nên chỉ có một số sinh viên Ngành được tham dự. Bên cạnh đó, các sinh viên tham dự thường với tâm thế có mặt để cộng điểm rèn luyện nên ít có sự tương tác tích cực trong hội thảo, đặc biệt rất hiếm có sinh viên viết bài tham luận.
Khoa chưa tạo được động lực để sinh viên hứng thú tham gia NCKH, chẳng hạn như chưa có cuộc thi riêng do Khoa tổ chức để sinh viên tham gia đăng ký viết đề cương nghiên cứu hoặc những cuộc thi cho những ý tưởng nghiên cứu hay, sáng tạo liên quan đến ứng dụng chuyên ngành Kế toán,…
Chế độ đãi ngộ của Nhà trường chưa tạo được động lực cho sinh viên tham gia NCKH cũng như giảng viên đảm nhiệm hướng dẫn sinh viên thực hiện NCKH. Hiện nay, trong quy chế chi tiêu nội bộ của trường quy định kinh phí hỗ trợ sinh viên NCKH khá cứng nhắc với con số cố định là 5 triệu đồng/ đề tài, thay vì dựa vào quy mô, độ phức tạp của đề tài.
5. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên ngành Kế toán Đại học An Giang
Để nâng cao năng lực NCKH cho sinh viên về cả kiến thức và kỹ năng và thái độ, tác giả đưa ra một số giải pháp như sau:
Các giải pháp tăng cường các yếu tố nội lực của sinh viên
Môn Phương pháp NCKH thay vì thiết kế dạy chung cho sinh viên các ngành thì nên cải tiến nội dung theo hướng vừa có phần phương pháp NCKH chung và phương pháp NCKH riêng cho mỗi ngành, trong đó có ngành Kế toán. Từ đó, có thể giúp sinh viên hình thành được ý tưởng nghiên cứu, nắm được phương pháp nghiên cứu, cách trình bày bài nghiên cứu về lĩnh vực kế toán. Bên cạnh đó, trong đề cương môn Phương pháp NCKH phần đánh giá môn học Giảng viên có đưa ra yêu cầu sinh viên làm bài tiểu luận cuối khoá, tuy nhiên tác giả không biết yêu cầu cụ thể của bài tiểu luận là gì. Do vậy, tác giả khuyến nghị giảng viên có thể cân nhắc cho sinh viên thực hành làm một đề tài NCKH tự chọn và nộp sản phẩm nghiên cứu làm một trong những căn cứ đánh giá kết quả môn học. Bên cạnh đó, trong các buổi thảo luận nhóm, nếu giảng viên cho sinh viên được thực hành các công việc cụ thể trong các bước NCKH thì sẽ giúp sinh viên tích luỹ được nhiều kỹ năng NCKH hơn.
Môn Kinh tế lượng nên là môn học bắt buộc để sinh viên được học về các mô hình nghiên cứu và được học cũng như thực hành các công cụ hỗ trợ trong NCKH.
Trong mỗi môn học phương pháp giảng dạy và đánh giá giảng viên cần khuyến khích sinh viên phát triển năng lực tự học tự nghiên cứu. Cụ thể, giảng viên nên đặt ra các vấn đề ngoài phạm vi tài liệu để sinh viên phải tìm tòi các nguồn tài liệu khác để giải quyết, nội dung kiểm tra thi cử cũng nên theo hướng mở thay vì học thuộc. Nhờ vậy, sẽ giúp sinh viên không chỉ mở rộng kiến thức mà còn nâng cao khả năng tư duy sáng tạo; nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu.
Các giải pháp tăng cường các yếu tố ngoại lực
Nhà trường nên giảm thời lượng giảng dạy, số môn đảm nhận cho giảng viên và giảm số sinh viên học trên mỗi nhóm học phần, từ đó giảng viên có nhiều thời gian hơn để phục vụ cho công tác hướng dẫn sinh viên tham gia NCKH. Để khuyến khích sinh viên tham gia NCKH các giảng viên nên là những người đưa ra đề tài NCKH và kêu gọi sinh viên đăng ký tham gia cùng. Các giảng viên nên hướng dẫn các công việc cần thiết để sinh viên thực hiện. Sau đó các giảng viên chịu trách nhiệm kiểm tra, đánh giá, góp ý, điều chỉnh công việc của sinh viên khi cần thiết.
Khoa cần tăng cường tổ chức hội thảo khoa học riêng cho các ngành trong đó có ngành Kế toán ít nhất mỗi năm 1 lần. Từ đó, có thể tăng số lượng sinh viên tham dự, chủ đề tham luận được chuyên sâu hơn. Chủ đề của hội thảo nên được phổ biến trước tới sinh viên thông qua cố vấn học tập, khuyến khích sinh viên chuẩn bị câu hỏi và gửi trước đến Ban tổ chức để buổi hội thảo sôi nổi và chất lượng hơn. Bên cạnh đó, Khoa cần quy định bắt buộc có sinh viên tham gia viết tham luận hội nghị, có những chính sách khen thưởng tốt cho sinh viên tích cực trong tham gia tổ chức cũng như gửi bài tham luận hội thảo, hội nghị.
Khoa nên nghiên cứu thành lập câu lạc bộ NCKH cho giảng viên và sinh viên tham gia. Thông qua đó, mọi người cùng nhau lên ý tưởng, cùng nhau thiết kế nghiên cứu, viết đề cương, thu thập tài liệu…cùng nhau chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm NCKH cho nhau. Bên cạnh đó, câu lạc bộ có thể hợp tác, giao lưu với các nhóm nghiên cứu ở các Khoa hoặc các Trường khác để được chia sẻ kinh nghiệm và khó khăn thực tế khi làm nghiên cứu. Nhờ vậy mà tinh thần và năng lực NCKH của cả giảng viên và sinh viên được nâng cao hơn. Ngoài ra, việc hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu ở các ngành hoặc lĩnh vực khác nhau sẽ giúp phát huy những mặt tích cực ở các nhóm để hỗ trợ nhau tốt hơn.
Khoa cũng nên nghiên cứu tổ chức các cuộc thi viết đề cương nghiên cứu hay, ý tưởng sáng tạo. Sau cuộc thi này Khoa có thể chọn ra các đề cương đạt yêu cầu để tiến hành nghiên cứu thực tế.
Khoa và Trường nên có thêm những chính sách khen thưởng, tuyên dương, ghi nhận thành tích trong công tác NCKH cho sinh viên để sinh viên có nhiều động lực hơn trong NCKH. Ví dụ, bên cạnh thưởng vật chất, giấy khen thì có Nhà Trường có thể ghi nhận thành tích sinh viên có đề tài NCKH đạt kết quả tốt được quy đổi điểm M cho môn học Phương pháp NCKH; được tính điểm rèn luyện cao. Đặc biệt, kinh phí hỗ trợ sinh viên tham giam NCKH nên xây dựng theo mức độ phức tạp của đề tài NCKH thay vì đưa ra con số cố định 5 triệu như hiện nay.
Khoa và trường nên tăng cường các hoạt động tuyên truyền về tầm quan trọng của NCKH cho sinh viên thông qua tuần lễ sinh hoạt công dân thường niên. Qua đó nâng cao nhận thức của sinh viên về NCKH.
6. Kết luận
Nâng cao năng lực NCKH cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. Đối với sinh viên, bản thân các em cũng cần tự có ý thức nâng cao năng lực nghiên cứu để giúp các em mở rộng kiến thức, tích luỹ kỹ năng, kinh nghiệm, nâng cao năng lực tư duy,… trở thành một người ưu tú. Từ đó, giúp các em có nhiều cơ hội việc làm và nhiều cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp tương lai. Bên cạnh đó, sinh viên tham gia NCKH cũng là đang tìm tòi, khám phá để tạo ra những ý tưởng mới, sáng kiến mới, sản phẩm mới,… góp phần vào sự phát triển cho xã hội. Chính vì vậy, nâng cao năng lực NCKH cho sinh viên không phải là nhiệm vụ của riêng ai mà cần có sự chung tay của nhà trường, khoa, các thầy cô và các em sinh viên.