Tính đến ngày 15/01/2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chung của thành phố Huế đạt khoảng 87,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Nếu tính cả nguồn vốn ngân sách Trung ương bố trí cho giải phóng mặt bằng đường sắt cao tốc và vốn ứng trước thì tỷ lệ giải ngân đạt trên 100%.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị bước vào nhiệm kỳ phát triển 2026–2030 với mục tiêu tăng trưởng cao, thậm chí phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số, giải ngân vốn đầu tư công ngày càng được nhìn nhận như một chỉ báo quan trọng phản ánh năng lực điều hành và sức cạnh tranh phát triển của mỗi địa phương.
Điều này càng trở nên rõ nét khi cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới với 34 tỉnh, thành phố, quy mô lớn hơn và mức độ cạnh tranh gay gắt hơn trong việc thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
87% – kết quả tích cực nhưng chưa thể chủ quan
Theo số liệu cập nhật tính đến ngày 15/01/2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chung của thành phố Huế đạt khoảng 87,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; nếu tính cả nguồn vốn ngân sách Trung ương bố trí cho giải phóng mặt bằng đường sắt cao tốc và vốn ứng trước thì tỷ lệ giải ngân đạt trên 100%.
Đây là một kết quả tích cực, cho thấy sự nỗ lực lớn của thành phố trong bối cảnh nhiều khó khăn khách quan. So với bình quân giải ngân cả nước (khoảng 83–84%), tỷ lệ giải ngân của Huế cao hơn mức trung bình, phản ánh quyết tâm và sự chỉ đạo điều hành khá quyết liệt của chính quyền thành phố trong năm 2025.
Tuy nhiên, nhìn sâu vào cơ cấu giải ngân cho thấy bức tranh chưa đồng đều. Bình quân giải ngân của toàn thành phố ở mức 87%, nhưng vẫn còn 06 chủ đầu tư có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức trung bình, chỉ đạt 77,3%, nguy cơ không hoàn thành kế hoạch được giao; 08 chủ đầu tư có tỷ lệ giải ngân từ trên 77% đến dưới 90%, cần tiếp tục đẩy nhanh tiến độ; trong khi chỉ có 07 chủ đầu tư đạt tỷ lệ giải ngân trên 90%. Điều này cho thấy sự chênh lệch đáng kể về năng lực triển khai giữa các chủ đầu tư.
Nguồn lực đầu tư của Huế không lớn – áp lực hiệu quả càng cao
Một yếu tố cần được đặt đúng vị trí khi đánh giá giải ngân đầu tư công của Huế là tổng nguồn lực đầu tư cho phát triển của thành phố không nhiều, đặc biệt nếu so sánh với các thành phố trực thuộc Trung ương khác như Hà Nội, Hải Phòng hay Đà Nẵng. Quy mô ngân sách hạn chế đồng nghĩa với việc Huế không có nhiều dư địa để chấp nhận sự chậm trễ hoặc kém hiệu quả trong sử dụng vốn đầu tư công.
Trong điều kiện đó, mỗi đồng vốn đầu tư công không chỉ mang ý nghĩa chi tiêu ngân sách, mà còn là đòn bẩy quan trọng để kích hoạt đầu tư xã hội, cải thiện hạ tầng đô thị, thúc đẩy các lĩnh vực động lực như giao thông, môi trường, văn hóa – du lịch và dịch vụ. Giải ngân chậm hoặc không đồng đều giữa các chủ đầu tư sẽ làm suy giảm vai trò dẫn dắt của đầu tư công, nhất là trong bối cảnh Huế đang cần tạo thêm động lực tăng trưởng mới.
Giải ngân không chỉ là tốc độ, mà là năng lực thể chế
Những nguyên nhân làm chậm giải ngân tại một số dự án của Huế không mới: thủ tục đầu tư còn kéo dài, công tác chuẩn bị dự án chưa đồng đều, nghiệm thu – thanh quyết toán còn chậm, giải phóng mặt bằng tiếp tục là điểm nghẽn. Tuy nhiên, trong bối cảnh cả nước đặt mục tiêu tăng trưởng cao, những tồn tại này không thể tiếp tục được coi là lý do mang tính khách quan.
Khi các địa phương khác đang đẩy mạnh cải cách, rút ngắn quy trình, siết chặt trách nhiệm người đứng đầu, thì sự chậm trễ trong giải ngân thực chất phản ánh độ trễ của cải cách thể chế ở cấp địa phương. Đó là câu chuyện về phân công – phân cấp đã đủ rõ hay chưa, trách nhiệm cá nhân đã được xác lập đến cùng hay chưa, và bộ máy thực thi đã thực sự vận hành theo logic “quản lý theo kết quả” hay chưa.
Tín hiệu tích cực từ việc siết kỷ luật giải ngân
Điểm đáng ghi nhận là lãnh đạo thành phố Huế đã sớm nhận diện rõ vấn đề và có các chỉ đạo mạnh mẽ: gắn kết quả giải ngân với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ năm 2025; tổ chức kiểm điểm trách nhiệm đối với các đơn vị không hoàn thành kế hoạch; đồng thời rà soát danh mục dự án khởi công mới năm 2026, điều chỉnh kế hoạch vốn đối với các chủ đầu tư có năng lực triển khai yếu.
Những động thái này cho thấy Huế đang từng bước chuyển từ tư duy quản lý theo thủ tục sang quản lý theo hiệu quả, coi giải ngân đầu tư công là thước đo năng lực thực thi và là căn cứ quan trọng trong phân bổ nguồn lực thời gian tới.
Từ kết quả 2025 nhìn về yêu cầu giai đoạn 2026–2030
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa 34 tỉnh, thành phố, giải ngân đầu tư công không chỉ là đạt một tỷ lệ phần trăm, mà phải trở thành công cụ chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh địa phương.
Đối với Huế, điều này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị đầu tư bài bản, đi trước một bước; phải có kỷ luật thực thi nghiêm minh, cá thể hóa trách nhiệm chủ đầu tư; và một bộ máy hành chính đủ linh hoạt để thích ứng với yêu cầu phát triển nhanh, toàn diện trong “kỷ nguyên vươn mình”.
Huế có lợi thế riêng về chiều sâu văn hóa và vị thế chính trị mới. Nhưng để những lợi thế ấy được chuyển hóa thành tăng trưởng kinh tế thực chất, đầu tư công phải thực sự trở thành động lực dẫn dắt, chứ không chỉ dừng ở việc hoàn thành chỉ tiêu giải ngân cuối năm.
Là đơn vị y tế hạng đặc biệt trực thuộc Bộ Y tế, Bệnh viện Trung ương Huế từ lâu đã khẳng định vai trò tiên phong là một trung tâm y học cao cấp và cái nôi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mang tầm quốc tế. Kiên định với định hướng phát triển dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ và kỹ thuật chuyên sâu, Bệnh viện đã và đang tỏa sáng như một điểm tựa vững chắc của ngành y tế Việt Nam, vươn mình mạnh mẽ trên bản đồ y khoa khu vực và thế giới.
Trường Đại học Luật, Đại học Huế, cơ sở đào tạo pháp lý uy tín tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, chính thức công bố thông tin tuyển sinh năm 2026 với đa dạng ngành nghề và phương thức xét tuyển linh hoạt, mở ra cơ hội lớn cho các sĩ tử đam mê lĩnh vực pháp luật.
Việt Nam đã chính thức tham gia Công ước đa phương (MLI) và triển khai cơ chế Thuế Tối Thiểu Toàn Cầu. Theo quy định, trong trường hợp các tập đoàn đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam có mức thuế suất thực tế thấp hơn ngưỡng tối thiểu do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khuyến nghị, phần chênh lệch sẽ bị truy thu bởi quốc gia nơi đặt trụ sở công ty mẹ. Quy định làm giảm đáng kể tác dụng của các chính sách ưu đãi thuế mà Việt Nam từng áp dụng để thu hút đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu nà