Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 2 giảm
Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 2/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 67,16 tỷ USD, giảm 24,1% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước.
Huế là một phần rất quan trọng trong lịch sử dân tộc và cũng là phần không thể thiếu trong mối tương quan giữa ba trung tâm lớn của đất nước: Hà Nội - Huế - Sài Gòn.
Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, Huế giữ một vị thế rất đặc biệt. Từ một vùng đất biên viễn nổi danh là chốn “Ô châu ác địa” (trong các thế kỷ XIV-XV), Huế đã trở thành một trung tâm mới trong quá trình Nam tiến và chuyển tải văn hóa Việt về phương Nam (các thế kỷ XVI-XVIII), rồi trở thành kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới hai triều đại Tây Sơn và triều Nguyễn (từ 1788 - 1945). Chính trong quá trình ấy, Huế đã góp phần rất quan trọng trong việc phát triển đất nước về mọi mặt; tạo ra một trung tâm mới ở phía nam là Sài Gòn - Gia Định; đưa Việt Nam hội nhập vào Đông Nam Á và thế giới; nâng cao vị thế của dân tộc, và đưa Thăng Long - Hà Nội lên một vị thế mới sau khi trao chuyển vai trò kinh đô. Đó cũng là quá trình quốc gia Đại Việt thực sự trở thành nước Việt Nam, Đại Nam, rồi nước Việt Nam mới với những ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Bởi vậy, có thể khẳng định Huế là một phần rất quan trọng trong lịch sử dân tộc và cũng là phần không thể thiếu trong mối tương quan giữa ba trung tâm lớn của đất nước: Hà Nội - Huế - Sài Gòn.

Ngày nay, Huế vẫn đang giữ vị thế một trung tâm văn hóa, di sản hàng đầu đất nước với 8 di sản thế giới được UNESCO công nhận và ghi danh, hơn thế, còn là một trung tâm khoa học công nghệ, giáo dục và y tế của miền Trung. Huế đã hội tụ đầy đủ điều kiện để trở thành Thành phố trực thuộc trung ương nhưng theo một mô hình rất khác các thành phố lớn của Việt Nam. Mô hình đó đang thể hiện sự kế thừa xuất sắc các di sản lịch sử và phù hợp nhất để thực hiện trọng trách bảo tồn, phát huy những di sản vô giá mà đất nước đã giao phó.
Huế là trung tâm của vùng đất Thuận Hóa (tên cũ là hai châu Ô-Lý/Rí) trở về với người Việt từ năm 1306, sau cuộc hôn nhân chính trị giữa công chúa Huyền Trân nhà Trần với vua Chế Mân của Champa. Nhưng hàng thế kỷ sau Thuận Hóa vẫn là vùng biên viễn, nơi thường xuyên diễn ra các cuộc tranh chấp ác liệt giữa hai quốc gia Champa - Đại Việt, tranh chấp giữa nhà Hậu Trần với quân Minh, giữa quân khởi nghĩa Lê Lợi với quân Minh... Chính vì vậy, trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi vẫn xem đất Thuận Hóa là “bức phên dậu thứ 4” của Đại Việt.

Mọi chuyện chỉ thay đổi sau khi xuất hiện chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Từ một vùng biên viễn, Huế đã trở thành một trung tâm mới ở phía Nam đất nước và việc xuất hiện trung tâm Phú Xuân - Huế gắn liền với sự phát triển của dòng họ Nguyễn. Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông đã sử dụng chính sách "vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng...". Đường lối chính sự khoan hòa, rộng rãi đó đã khiến các tầng lớp dân chúng đều tin yêu, khâm phục và hết lòng ủng hộ. Sau hơn nửa thế kỷ cai trị đất Thuận Quảng (1558-1613), Nguyễn Hoàng đã đạt được những thành công rực rỡ. Đó là những điều kiện đủ để "xây dựng cơ nghiệp muôn đời". Kế thừa di sản chính trị cùng những tâm nguyện của Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên và các đời chúa Nguyễn kế tục đã có những chính sách phù hợp để phát triển và mở rộng Đàng Trong, biến nơi đây thành một miền đất mới mang dáng dấp của một vương quốc độc lập với một lãnh thổ rộng lớn, một nền văn hóa phong phú, đa dạng. Lãnh thổ Đàng Trong vốn được hình thành trên cơ sở vùng đất Thuận - Quảng, đã lớn lên rất nhanh theo đà Nam tiến mạnh mẽ dưới thời các chúa Nguyễn, mạnh mẽ gấp bội phần so với các thế kỷ trước. Hệ quả là chỉ 200 năm, nước ta đã có lãnh thổ hoàn chỉnh cơ bản như hiện nay.
Huế chính thức trở thành thủ phủ của Đàng Trong từ năm 1636, qua hơn một 100 xây dựng, bồi tụ, đến thời kỳ Đô Thành Phú Xuân (1738-1775), trung tâm này đã là một đô thị thuộc hàng lớn nhất của Đàng Trong, được qui hoạch chu đáo với các ý tưởng sâu sắc. Nhưng đặc biệt là sự kết hợp mô hình đô + thị đã đạt đến trình độ rất cao. Có thể nói trong bối cảnh ấy, mô hình kết hợp giữa Phú Xuân - Thanh Hà - Hội An đã tạo nên một quan hệ kinh tế - chính trị đặc biệt, hình thành một mô hình đô thị lý tưởng của Việt Nam thời tiền tư bản. Về mặt văn hóa “200 năm đủ cho Huế là nơi kết tinh và hội tụ nhân tài và văn hoá miền Trung - Nam để tạo nên một vùng và một sắc thái mới của văn hoá Việt Nam: Vùng văn hóa Huế, sắc thái Phú Xuân của văn hoá Việt Nam” (Trần Quốc Vượng).
Trong sự hình thành và phát triển của Đàng Trong, vùng đất Huế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở đầu tiên, là trạm trung chuyển của lớp lớp người Việt trên con đường Nam tiến mà còn luôn luôn đóng vai trò là đầu não chính trị, quân sự và là một trung tâm kinh tế, văn hóa của toàn xứ sở. Với vị thế là kinh đô của Đàng Trong, thời kỳ này Huế cũng đóng vai trò là trung tâm trong việc kế thừa, chuyển tải và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trên miền đất mới, đồng thời lại có tác động quyết định trong việc tiếp thu các yếu tố văn hóa bản địa và văn hóa ngoại lai để định hình nên một sắc thái văn hóa Đàng Trong phong phú, sinh động và hết sức đa dạng. Văn hóa Việt Nam đã phát triển và được làm giàu lên rất nhiều chính qua quá trình này. Chính vì vậy, Huế cũng là tâm điểm của các vấn đề chính trị, quân sự, xã hội, tôn giáo của Đàng Trong trong gần 3 thế kỷ (XVI-XVIII). Cũng từ Huế và với sự tiếp sức của Huế, một trung tâm mới đã hình thành ở phía Nam đất nước, đó là Sài Gòn - Gia Định, chính thức được thành lập năm 1698.
Sau hơn 10 năm rơi vào tay chính quyền Lê - Trịnh (1775-1786), Phú Xuân Huế lại trở thành đầu não của nhà Tây Sơn, rồi trở thành kinh đô của triều đại này trong hơn 12 năm tiếp theo (1788-1801). Mặc dù dưới thời Tây Sơn, kinh đô Huế hầu như ít được quy hoạch và xây dựng thêm, nhưng vị thế của đô thị này đã được nâng lên một bậc, là kinh đô của nước Đại Việt cơ bản thống nhất từ Bắc chí Nam. Đây cũng là thời kỳ Phú Xuân - Huế gắn liền với những chiến công hiển hách trong đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Cuối năm 1788, tại núi Bân, Nguyễn Huệ lên ngôi, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi kéo quân ra Bắc, đánh tan 29 vạn quân Thanh, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc và cơ bản tái lập sự thống nhất cho đất nước sau gần 200 năm chia cắt. Phú Xuân Huế cũng là nơi gắn liền với các di tích của vương triều Tây Sơn như đàn Nam Giao, lăng mộ Hoàng đế Quang Trung và các đại thần của vương triều này...

Tuy nhiên, triều Tây Sơn sớm sụp đổ sau khi vua Quang Trung đột ngột băng hà năm 1792. Năm 1802, sau những nỗ lực bền bỉ, Nguyễn Phúc Ánh đã tái dựng lại được cơ nghiệp của họ Nguyễn, thống nhất toàn vẹn đất nước. Huế được chọn làm kinh đô của một đất nước thống nhất với lãnh thổ, lãnh hải rộng lớn hơn bao giờ hết. Trong 143 năm giữ vị thế kinh đô của nước Việt Nam (từ năm 1839 là Đại Nam) mà đặc biệt là trong giai đoạn còn giữ được độc lập (1802-1885), Huế gắn liền với vương triều Nguyễn đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển đất nước về nhiều mặt: Hoàn thiện việc thống nhất bờ cõi quốc gia, bao gồm cả đất liền và biển đảo; xây dựng bộ máy chính quyền thống nhất từ trung ương đến cơ sở; phát triển hệ thống giao thông, thủy lợi; thống nhất về văn hóa trong toàn quốc, phát triển giáo dục, y tế và xã hội, để lại những di sản văn hóa đồ sộ, mang tầm vóc thế giới.
Kinh sư là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền Nam, miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm; đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn; sông lớn giăng phía trước; núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua.
Cùng với quá trình Huế trở thành trung tâm của Đàng Trong, rồi kinh đô của đất nước thống nhất, nước Đại Việt đã chuyển hóa thành một nước Việt Nam (từ 1804), rồi Đại Nam (gọi tắt của Đại Việt Nam Quốc, từ 1838), đa nguyên hơn về văn hóa và gần gũi hơn với Đông Nam Á.
Tuy nhiên, Huế đã mất dần vị thế khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Nam kỳ, Bắc kỳ lần lượt rơi vào tay người Pháp; đất nước bị chia cắt; nền độc lập dân tộc cũng mất hẳn sau cuộc phản kháng cuối cùng của triều Nguyễn vào năm 1885. Vị thế kinh đô đất nước chỉ còn trên danh nghĩa. Chỉ với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta mới dành lại được nền độc lập. Huế thực sự chấm dứt vai trò kinh đô của chế độ quân chủ cuối cùng.
Từ ngày 2/9/1945, Huế chính thức trở thành cố đô. Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Kinh đô ngàn năm Thăng Long - Hà Nội không chỉ được tiếp tục mạch phát triển mà còn thực sự được nâng lên một tầm vóc mới. Huế vẫn giữ một vị thế quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, là một trung tâm văn hóa, giáo dục, khoa học và y tế của cả nước tại miền Trung, là cầu nối về văn hóa giữa hai miền Nam Bắc và giữa Việt Nam với thế giới. Dù trải qua hai cuộc chiến tranh với nhiều tổn thất nghiêm trọng, di sản văn hóa cố đô Huế vẫn được xem là đại diện tiêu biểu cho văn hóa Việt Nam, được tổ chức Khoa học, Văn hóa và Giáo dục của Liên Hiệp quốc (UNESCO) nhiều lần tôn vinh là Di sản văn hóa thế giới.
Sau khi trở thành cố đô, mặc dù không còn giữ vị thế là trung tâm chính trị của cả nước nhưng Huế vẫn luôn giữ vững vị thế của một trung tâm văn hóa, di sản, khoa học, giáo dục và y tế hàng đầu của miền Trung Việt Nam.

Ngày nay, Huế là cố đô duy nhất ở Việt Nam còn bảo lưu được khá nguyên vẹn tổng thể kiến trúc thành quách, cung điện, lăng tẩm, đàn miếu... cùng hàng vạn hiện vật, cổ vật đặc biệt quý hiếm và các di sản phi vật thể, di sản tư liệu phong phú. Huế cũng là nơi có di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, hệ thống di tích lịch sử cách mạng vô cùng quý giá. Di sản Huế là nơi hội tụ trí tuệ của cả dân tộc mà đỉnh cao là 8 di sản đã được UNESCO vinh danh: Quần thể Di tích Cố đô Huế (1993); Âm nhạc cung đình Việt Nam - Nhã nhạc (2003), Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bản triều Nguyễn (2014), Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016), Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ (2016), Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ (2017), Các bản đúc nổi trên Cửu đỉnh (2024). Cố đô Huế được đánh giá là địa phương bảo tồn tốt nhất các giá trị di sản truyền thống của Việt Nam, cả về di sản vật thể, phi vật thể, cảnh quan môi trường, lối sống, phong tục tập quán... Đồng thời, biến di sản thành các lợi thế cho sự phát triển và đạt nhiều thành tựu từ bảo tồn di sản, đến nay Huế đã sở hữu các thương hiệu: “Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam”, “Thành phố văn hóa ASEAN”, “Thành phố bền vững môi trường ASEAN”, “Thành phố Xanh quốc gia”...
Trên cơ sở đó, ngày 10/12/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 54-NQ/TW về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn 2045 trong đó nhấn mạnh mục tiêu: “Đến năm 2025, Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trên nền tảng bảo tồn, phát huy giá trị di sản cố đô và bản sắc văn hóa Huế, với đặc trưng văn hóa, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường và thông minh”.
Có thể nói, đến nay, với các tiêu chí, tiêu chuẩn đã đạt được, đặc biệt là với những thành tựu xuất sắc trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, thiên nhiên, Thừa Thiên Huế đã hội tụ đầy đủ các điều kiện để trở thành Thành phố trực thuộc trung ương theo tinh thần Nghị quyết số 54-NQ/TW!
Nhìn lại cả quá trình lịch sử cho đến thời điểm hiện tại, Thừa Thiên Huế luôn giữ một vai trò và vị thế đặc biệt đối với đất nước và dân tộc, đó là vị thế của một trung tâm lớn của đất nước và khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Đó không chỉ là một khẩu hiệu chính trị mà là một thực tế lịch sử. Từ cái nôi đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Nghệ, trong suốt 1.000 năm qua văn minh Việt đã không ngừng được chuyển tải mạnh mẽ về phương Nam thông qua trung tâm Phú Xuân -Huế để rồi sau đó hình thành một trung tâm khác ở Nam Bộ, đó là Sài Gòn - Gia Định. Bởi vậy, trong nghìn năm phát triển của Thăng Long - Hà Nội và của đất nước, Huế đã đóng góp một phần rất quan trọng và luôn giữ vị thế là một trung tâm lớn của Việt Nam. Đánh giá đúng điều này sẽ giúp cho việc nhìn nhận lịch sử phát triển của dân tộc khách quan và công bằng hơn, từ đó sẽ có những chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho các trung tâm phát triển và phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của mình.