Gỡ điểm nghẽn để di sản trở thành nguồn lực phát triển
Hương Bình
Thứ ba, 05/05/2026 12:32 (GMT+7)
Luật Di sản văn hóa 2024 và Nghị định 308/2025/NĐ-CP mở ra khung pháp lý mới cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản, nhưng khi đi vào thực tiễn địa phương đã bộc lộ không ít điểm nghẽn về thủ tục, phân cấp và cơ chế vận hành. Từ góc nhìn quản lý, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện quy định, mà còn phải chuyển mạnh tư duy từ “tiền kiểm” sang trao quyền, linh hoạt và lấy cộng đồng làm trung tâm để di sản thực sự trở thành nguồn lực phát triển.
Ngày 23/11/2024, Quốc hội
đã ban hành Luật Di sản văn hóa năm 2024 (Luật số 45/2024/QH15) để thay thế cho
Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10. Bộ luật mới này chính thức có hiệu lực từ
ngày 01/7/2025. Để triển khai Luật Di sản Văn hóa năm 2024, ngày 28/11/2025,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 308/2025/NĐ- CP quy định chi tiết một số điều
và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa.
Luật Di sản văn hóa 2024 và Nghị định 308/2025/NĐ-CP mở ra khung pháp lý mới cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản, nhưng khi đi vào thực tiễn địa phương đã bộc lộ không ít điểm nghẽn về thủ tục, phân cấp và cơ chế vận hành. Ảnh: Lê Đình Hoàng.
Dưới góc nhìn quản lý nhà
nước hiện nay, Nghị định 308/2025/NĐ-CP là văn bản rất quan trọng, bao quát nhiều
lĩnh vực của Luật Di sản văn hóa 2024: di sản phi vật thể, di tích, di sản tư
liệu, bảo vật quốc gia, kiểm tra chuyên ngành, khai thác di sản cho du lịch – công
nghiệp văn hóa, hồ sơ UNESCO và Mạng lưới Thành phố sáng tạo. Tuy nhiên, chính
vì phạm vi quá rộng, Nghị định vẫn còn một số điểm nặng về “tiền kiểm”, nặng thủ
tục, chưa thật sự theo kịp chủ trương phân cấp mạnh cho địa phương, cắt giảm thủ
tục hành chính và trao quyền thực chất cho cộng đồng.
Về di sản văn hóa phi vật thể: thủ tục còn nhiều tầng nấc, cộng đồng chưa thật sự là trung tâm
Nghị định quy định hồ sơ
ghi danh di sản văn hóa phi vật thể vào Danh mục quốc gia do cơ quan chuyên môn
cấp tỉnh lập, qua Hội đồng thẩm định cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh gửi Bộ VHTTDL; sau
đó tiếp tục qua kiểm tra hồ sơ, Hội đồng thẩm định cấp chuyên ngành, Hội đồng
thẩm định cấp bộ rồi Bộ trưởng quyết định. Các mốc thời gian được quy định khá
chi tiết, nhưng toàn bộ quy trình vẫn là một chuỗi hành chính nhiều tầng.
Bất cập ở đây là di sản
phi vật thể về bản chất thuộc về cộng đồng thực hành. Nhà nước có vai trò nhận
diện, hỗ trợ, bảo vệ, nhưng không nên biến việc ghi danh thành một quy trình
hành chính quá nặng. Cộng đồng, nghệ nhân, nhóm thực hành được nhắc đến, nhưng
vai trò của họ chủ yếu hiện diện qua hồ sơ, cam kết, danh sách, ý kiến cung cấp
tư liệu, chứ chưa được thiết kế như một chủ thể đồng quyết định trong toàn bộ
chu trình bảo vệ di sản.
Đáng chú ý, mẫu thành lập
câu lạc bộ/nhóm thực hành di sản yêu cầu nhiều thông tin hành chính như căn cước,
địa chỉ, trụ sở, tài chính, cam kết duy trì thực hành từ 5 năm trở lên và đề
nghị UBND cấp xã “cho phép thành lập”. Cách tiếp cận này có ưu điểm là tạo căn
cứ quản lý nhưng cũng dễ hành chính hóa các cộng đồng thực hành vốn hình thành
tự nhiên, linh hoạt, dựa trên quan hệ nghề nghiệp, huyết thống, làng xã, tín
ngưỡng hoặc sở thích văn hóa. Với các loại hình như ca Huế, bài chòi, thực hành
tín ngưỡng, nghề thủ công, lễ hội dân gian, nhóm thực hành có thể không có trụ
sở cố định, không có bộ máy, không quen báo cáo theo mẫu. Nếu quản lý quá chặt,
chúng ta có thể vô tình làm “đông cứng” một di sản vốn sống nhờ tính mềm dẻo của
cộng đồng.
Nên điều chỉnh theo hướng, Nhà nước không “cho phép” cộng đồng thực hành di sản, mà chỉ công nhận, hỗ trợ,
kết nối và giám sát khi cần thiết. Cần tách rõ hai loại, nhóm thực hành tự
nhiên và tổ chức/câu lạc bộ có tư cách nhận hỗ trợ ngân sách. Chỉ nhóm thứ hai
mới cần hồ sơ hành chính đầy đủ.
Về di tích: đã có phân cấp nhưng vẫn còn nặng xin ý kiến trung ương
Đối với di tích cấp tỉnh,
Nghị định giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức thẩm định, xem xét, quyết định xếp
hạng, xếp hạng bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ hoặc hủy bỏ xếp hạng trong thời hạn 30
ngày. Đây là điểm phù hợp với tinh thần phân cấp.
Tuy nhiên, với di tích quốc
gia và quốc gia đặc biệt, địa phương vẫn phải gửi hồ sơ trích ngang, ảnh màu khảo
tả di tích, hiện vật về cơ quan tham mưu quản lý nhà nước ở trung ương để xin ý
kiến thống nhất việc lập hồ sơ khoa học; với di tích quốc gia đặc biệt còn phải
lấy ý kiến Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia trước khi trả lời địa phương. Cách
làm này bảo đảm thận trọng, nhưng cũng tạo thêm một tầng thủ tục ngay từ giai
đoạn “xin phép lập hồ sơ”, trong khi việc lập hồ sơ khoa học vốn là quyền và
trách nhiệm chủ động của địa phương.
Trong bối cảnh hiện nay,
nên chuyển từ cơ chế “xin ý kiến thống nhất trước khi lập hồ sơ” sang cơ chế
đăng ký kế hoạch, hướng dẫn kỹ thuật và hậu kiểm chất lượng hồ sơ. Trung ương
nên giữ vai trò ban hành tiêu chuẩn, kiểm soát chất lượng chuyên môn cuối cùng
đối với di tích quốc gia, quốc gia đặc biệt; còn địa phương cần được chủ động lập
hồ sơ khi đã có đủ căn cứ khoa học.
Một điểm khác cần lưu ý
là hồ sơ hủy bỏ xếp hạng di tích có yêu cầu làm rõ tình trạng xuống cấp, nguyên
nhân, biện pháp đã khắc phục, trách nhiệm tổ chức cá nhân liên quan. Đây là cần
thiết, nhưng nên bổ sung cơ chế tham vấn bắt buộc với cộng đồng cư dân, chủ sở
hữu, nhà khoa học độc lập trước khi hủy bỏ xếp hạng. Hủy bỏ xếp hạng không chỉ
là quyết định hành chính, mà có thể tác động sâu đến ký ức cộng đồng, cảnh quan
đô thị, quyền lợi dân cư và định hướng phát triển địa phương.
Về khai thác, phát huy giá trị di sản cho du lịch, dịch vụ và công nghiệp văn hóa: quy định còn quá
khái quát
Điều 52 đã bước đầu mở ra
tư duy mới khi thừa nhận việc sử dụng, khai thác di sản cho sản phẩm lưu niệm, ấn
phẩm, phim ảnh, tác phẩm nghệ thuật, sản phẩm số, công nghiệp sáng tạo, dựa
trên yếu tố vật thể, phi vật thể, biểu tượng, họa tiết, câu chuyện và lịch sử
liên quan đến di sản. Đây là điểm rất tích cực.
Nhưng quy định mới dừng ở
mức nguyên tắc, chưa đủ để tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn. Địa phương đang rất
cần khung pháp lý cụ thể hơn về nhượng quyền hình ảnh di sản, khai thác dữ liệu
số di sản, hợp tác công tư trong không gian di tích, tổ chức hoạt động đêm,
trình diễn thực cảnh, dịch vụ văn hóa trong khu di sản, chia sẻ doanh thu giữa
nhà nước – đơn vị quản lý – cộng đồng – doanh nghiệp. Nếu chỉ quy định chung
“tuân thủ Điều 88 Luật Di sản văn hóa” thì chưa tạo được hành lang đủ mạnh cho
kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa.
Nên bổ sung một chương hoặc
ít nhất một điều riêng về cơ chế thí điểm khai thác di sản có kiểm soát, cho
phép địa phương xây dựng đề án khai thác phù hợp sức chịu tải, giá trị gốc, yêu
cầu bảo tồn và mô hình chia sẻ lợi ích với cộng đồng.
Về kiểm tra chuyên ngành: cần tránh biến kiểm tra thành gánh nặng hành chính
Nghị định quy định khá
chi tiết về kiểm tra chuyên ngành, đoàn kiểm tra, thời hạn kiểm tra, báo cáo, kết
luận và kiểm tra việc thực hiện kết luận. Một cuộc kiểm tra có thể kéo dài tối
đa 30 ngày và gia hạn thêm 7 ngày làm việc; sau đó còn có báo cáo, thông báo kết
luận, kiểm tra việc thực hiện kết luận.
Quy định này cần thiết với
các vụ việc phức tạp, nhưng nếu áp dụng cứng cho mọi trường hợp sẽ tạo áp lực lớn
cho địa phương, ban quản lý di tích, bảo tàng, cộng đồng thực hành di sản. Nên
phân loại kiểm tra theo mức độ rủi ro: kiểm tra thường xuyên bằng dữ liệu số,
kiểm tra chuyên đề, kiểm tra đột xuất khi có nguy cơ xâm hại di sản. Cần chuyển
mạnh từ “kiểm tra giấy tờ” sang “giám sát rủi ro”, ưu tiên các vấn đề như xâm hại
di tích, tu bổ sai nguyên tắc, thương mại hóa lễ hội, thất thoát hiện vật, lạm
dụng danh hiệu UNESCO.
Về hồ sơ UNESCO và Mạng lưới Thành phố sáng tạo: bất cập rõ nhất là đang đặt vào khung thủ tục di sản
truyền thống
Điều 95 quy định việc đề
nghị UNESCO vinh danh tỉnh hoặc thành phố tham gia Mạng lưới Thành phố sáng tạo
phải qua Chủ tịch UBND cấp tỉnh đề nghị Bộ VHTTDL trình Thủ tướng cho phép lập
hồ sơ; sau khi được giao lập hồ sơ, địa phương gửi Bộ thẩm định; Bộ trưởng
trình Thủ tướng quyết định trên cơ sở ý kiến Hội đồng thẩm định cấp chuyên
ngành, Hội đồng thẩm định cấp bộ và Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia.
Đây là điểm cần xem xét kỹ.
Mạng lưới Thành phố sáng tạo của UNESCO không phải là một danh hiệu di sản theo
nghĩa truyền thống. Hồ sơ này gắn với chiến lược phát triển đô thị, công nghiệp
văn hóa, kinh tế sáng tạo, quản trị đô thị, sự tham gia của doanh nghiệp, đại học,
nghệ sĩ, cộng đồng sáng tạo và cam kết hợp tác quốc tế. Nếu đưa toàn bộ quy
trình vào cơ chế thẩm định nhiều tầng như hồ sơ di sản thì dễ làm chậm nhịp
hành động của địa phương.
Bất cập thứ hai là thành
phần hồ sơ “thực hiện theo quy định của UNESCO”. Cách quy định này đúng về
nguyên tắc, nhưng chưa đủ cho địa phương. UNESCO chỉ đưa ra khung hồ sơ quốc tế;
địa phương vẫn cần hướng dẫn trong nước về quy trình phối hợp, cơ quan đầu mối,
cơ chế huy động chuyên gia, kinh phí, dữ liệu, cam kết liên ngành, trách nhiệm
sau khi được công nhận.
Bất cập thứ ba là sau khi
được UNESCO vinh danh, Nghị định yêu cầu phải có Đề án riêng để bảo vệ, phát
huy giá trị, thúc đẩy sáng tạo; Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt Đề án sau khi
có ý kiến thẩm định của Bộ VHTTDL trên cơ sở Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng
thành lập. Quy định này lại tiếp tục đặt địa phương vào cơ chế xin ý kiến sau
công nhận, trong khi bản chất Mạng lưới Thành phố sáng tạo đòi hỏi địa phương
phải linh hoạt, cập nhật liên tục, triển khai nhanh các sáng kiến sáng tạo.
Nên điều chỉnh theo hướng:
Bộ VHTTDL ban hành bộ tiêu chí hướng dẫn, danh mục hồ sơ mẫu, cơ chế tư vấn; địa
phương được chủ động xây dựng hồ sơ và đề án hành động; Thủ tướng chỉ phê duyệt
chủ trương đề cử chính thức ở giai đoạn cuối. Sau khi được công nhận, địa
phương tự phê duyệt kế hoạch hành động 4 năm, báo cáo Bộ để theo dõi, thay vì
phải thẩm định lại như một đề án hành chính.
Về hệ thống hội đồng: cần tinh gọn, tránh trùng lặp
Nghị định thiết kế nhiều
loại hội đồng: hội đồng thẩm định cấp chuyên ngành, cấp tỉnh, cấp bộ, hội đồng
khoa học về di sản phi vật thể, di tích, di sản tư liệu, bảo tàng, hội đồng
đánh giá tác động, hội đồng chuyên môn khác. Đây là cần thiết cho chuyên môn
sâu, nhưng nếu mỗi thủ tục đều qua nhiều hội đồng thì sẽ phát sinh tình trạng
“hội đồng hóa” quản lý di sản.
Cần phân định rõ: việc
nào bắt buộc hội đồng cấp bộ, việc nào chỉ cần hội đồng cấp tỉnh, việc nào chỉ
cần ý kiến chuyên gia độc lập. Đối với hồ sơ địa phương có tính chất thường
xuyên, nên áp dụng cơ chế chuyên gia phản biện rút gọn, lấy ý kiến điện tử, hội
đồng liên ngành theo vụ việc, tránh lập quá nhiều hội đồng hình thức.
Nghị định 308/2025/NĐ-CP
có nhiều điểm tiến bộ, bao quát rộng, đưa yếu tố số hóa vào hồ sơ, thừa nhận
khai thác di sản phục vụ công nghiệp văn hóa, phân cấp một số thẩm quyền cho địa
phương, quy định rõ trình tự và trách nhiệm. Nhưng điểm hạn chế lớn nhất là tư
duy quản lý vẫn thiên về tiền kiểm, xin phép, thẩm định nhiều tầng; chưa thật sự
chuyển mạnh sang phân cấp, hậu kiểm, quản trị rủi ro và trao quyền cho cộng đồng.
Trong bối cảnh mới, nên sửa
đổi, hướng dẫn bổ sung theo 5 hướng, phân cấp thực chất hơn cho địa phương; giảm
tầng nấc thẩm định; tách quản lý cộng đồng di sản khỏi mô hình hành chính hóa;
ban hành cơ chế khai thác di sản phục vụ công nghiệp văn hóa; và thiết kế quy
trình riêng, linh hoạt hơn cho hồ sơ Mạng lưới Thành phố sáng tạo của UNESCO.
Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật pháp lý, mà là điều kiện để di sản trở thành
nguồn lực sống cho phát triển bền vững.
Thanh tra ngân hàng Nhà nước và UBND TP.Hà Nội yêu cầu Vietinbank thực hiện đúng quy định pháp luật, tránh lãng phí tài sản nhà nước tại dự án VietinBank Tower diện tích 30.000m2 và nhiều cơ sở đất chậm, chưa xây... làm phát sinh chi phí lớn...
Giải đáp thắc mắc của người lao động về việc tính và khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên, làm rõ trường hợp thu nhập thấp sau khi giảm trừ gia cảnh có áp dụng khấu trừ 10% hay không?
Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí - CTCP (PVFCCo - Phú Mỹ, HOSE: DPM) đặt mục tiêu cho năm 2026 với tổng doanh thu hợp nhất 17,600 tỷ đồng, tiếp tục khẳng định vị thế doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực phân bón và từng bước mở rộng sang hóa chất.
Thanh tra thành phố Huế vừa công bố Kết luận Thanh tra về thanh tra chuyên đề về phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của UBND thành phố, qua đó chỉ ra nhiều tồn tại kéo dài, đáng chú ý là hàng trăm cơ sở chưa được khai thác hiệu quả.