Điều kiện được giảm tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng?

Theo Bộ tài chính Thứ năm, 04/06/2026 14:36 (GMT+7)

Chuyển đất nông nghiệp sang thổ cư có được giảm tiền sử dụng đất theo Nghị quyết 254 hay không là thắc mắc của nhiều hộ gia đình. Cơ quan thuế cho biết việc được hưởng ưu đãi hay không còn phụ thuộc vào nguồn gốc thửa đất và kết quả xác định của cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền.

Bà L hỏi là:

Tôi có thửa đất 300m², gồm 50m² đất ở và phần còn lại là đất nông nghiệp, trên đất có nhà ở và cây trồng. Tôi đã nhận chuyển nhượng từ người khác.

Hiện tôi có nhu cầu chuyển thêm 60m² đất nông nghiệp sang đất ở (mua thêm thổ cư).

Tôi xin hỏi: Trường hợp của tôi có được giảm 70% tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất theo Nghị quyết 254 của Quốc hội hay không? Nếu không thuộc diện được giảm, đề nghị cho biết cụ thể đối tượng nào được hưởng chính sách này.

Thuế cơ sở 23 Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến phản hồi nội dung câu hỏi như sau:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai:

“2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định sau đây:

c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất)”.

Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 12 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ- CP ngày 31/01/2026:

“c) Sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 2 như sau:

“a) Căn cứ quyết định giao đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định chuyển hình thức sử dụng đất, đơn đề nghị (văn bản) công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân và các hồ sơ khác theo quy định của pháp luật về đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một của liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin chuyển Phiếu chuyển thông tin cho cơ quan thuế để tính tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về cấp giấy chứng nhận.

b) Căn cứ Phiếu chuyển thông tin (thông tin về người sử dụng đất, điện tích đất, vị trí đất, mục đích sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất; đối tượng, diện tích, mức giảm tiền sử dụng đất giả đất tính tiền sử dụng đất) do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông hoặc cơ quan ký hợp đồng BT (trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT) hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin chuyển đến; trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan thuế thực hiện; tính số tiền sử dụng đất phải nộp, số tiền sử dụng đất được giảm; ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất; gửi thông báo cho người sử dụng đất, cơ quan chuyển Phiếu chuyển thông tin theo quy định.”.”

Căn cứ các quy định trên, để xác định bà Nguyễn Thị Linh có thuộc trường hợp được tính tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254 không, cần phải xác định được đối tượng và nguồn gốc sử dụng đất. Tuy nhiên thẩm quyền xác định đối tượng, nguồn gốc sử dụng đất theo quy định trên không thuộc thẩm quyền của cơ quan thuế mã thuộc thẩm quyền của cơ quan lập phiếu chuyển thông tin địa chính (UBND xã nơi có đất).

Trường hợp bà L muốn biết khi chuyển mục đích sử dụng đất bà có thuộc đối tượng được tính tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254 không, đề nghị bà liên hệ UBND xã nơi có đất để được cung cấp thông tin.