Ảnh hưởng của rủi ro tài chính đến chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán

NCS. Nguyễn Thị Thanh Tâm - PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng - TS. Hoàng Thị Việt Hà Thứ tư, 03/06/2026 11:06 (GMT+7)

Nghiên cứu áp dụng lý thuyết đại diện để giải thích hành động của người quản lý trong việc điều chỉnh báo cáo tài chính (BCTC) vì lợi ích cá nhân và sự can thiệp của kiểm toán viên để giảm thiểu chi phí đại diện. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiểu biết về sự ảnh hưởng của RRTC đối với tính minh bạch của BCTC và cung cấp thông tin hữu ích cho việc cải thiện quy trình kiểm toán và quản lý tài chính tại các DN niêm yết tại Việt Nam.

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa, sự minh bạch của các thông tin tài chính là yếu tố quan trọng đối với các DN niêm yết. Tính chính xác hoặc sự minh bạch của BCTC có thể được thể hiện qua mức độ chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán của các DN. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến điều chỉnh BCTC và chênh lệch trước và sau kiểm toán, nhưng chưa có nghiên cứu nào tập trung vào tác động của RRTC đến sự chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán tại các DN phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Do đó, nghiên cứu này thực hiện nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa RRTC và sự thay đổi lợi nhuận, từ đó cung cấp những hiểu biết mới về quản lý tài chính, về tính minh bạch của thông tin tài chính tại các DN niêm yết tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

RRTC

Theo (Zhe, Ke, Kaibi, & Xiaoliu, 2012), “RRTC là xác suất mất vốn khi sử dụng các phương pháp tài trợ, điều này có thể làm giảm khả năng hoạt động trở lại của DN”; Hay, theo (Li, 2003), RRTC là một khái niệm gắn liền với sự không chắc chắn của sự biến động các yếu tố, như: Lãi suất, tỷ giá, giá cổ phiếu, và giá cả hàng hóa. RRTC thường bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của DN, chẳng hạn như lãi suất, tỷ giá, hay sự phát triển của thị trường tài chính.

Chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán

Theo (Hung, Ha, & Binh, 2017) chỉ ra rằng, chênh lệch kiểm toán là sự khác biệt về số liệu trên BCTC đã được kiểm toán so với BCTC chưa được kiểm toán. Nói cách khác, đó là các thông tin trên BCTC mà kiểm toán viên phát hiện và sửa chữa.

Từ đó, chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán được xác định theo công thức sau:

Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện mô tả mối tương quan hoặc mối quan hệ giữa người ủy quyền và người đại diện trong các thỏa thuận hợp tác hoặc mối quan hệ của hợp đồng (Siddiq et al., 2017). Trong đó, mỗi bên sẽ chạy theo mục đích riêng của mình và thực hiện những hoạt động nhằm bảo đảm lợi ích của mình (Phan Thanh Tú, 2018). Nhà quản lý sẽ ưu tiên thỏa mãn các mục đích mà mình theo đuổi hơn là mục đích của cổ đông bất chấp việc sẽ làm phát sinh chi phí cho DN. Điều này tạo ra những mâu thuẫn tiềm ẩn giữa hai bên và là nguồn gốc của mọi sự bất ổn trong mối quan hệ đại diện giữa cổ đông và nhà quản lý. Trong bối cảnh DN có RRTC, thì sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu càng tăng. Người điều hành có thông tin đầy đủ về tình trạng tài chính khó khăn, nhưng cổ đông, nhà đầu tư hoặc chủ nợ thì không. Điều này tạo ra môi trường thuận lợi cho hành vi che giấu thông tin hoặc báo cáo không trung thực. Khi RRTC cao, nhà quản lý càng có động cơ: báo cáo lợi nhuận tích cực hơn thực tế, trì hoãn ghi nhận chi phí, thao túng kế toán để giảm thiểu nhận diện về tình trạng bất ổn, từ đó có thể dẫn tới tình trạng chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán BCTC.

Tổng quan nghiên cứu

Các nghiên cứu trong và ngoài nước có những cách tiếp cận khác nhau về rủi ro tà chính và ảnh hưởng của RRTC tới chênh lệch trước và sau kiểm toán. Nhìn chung, các nghiên cứu về chủ đề này tập trung vào đo lường RRTC thông qua chỉ số Z-score của Altman (Mavengere, 2015) (Saleh et al., 2021) (Trần Thị Giang Tân, 2015) (Bùi Phương Chi & Nguyễn Thi Hồng Thúy, 2021).

Nghiên cứu của (Dechow & Dichev, 2002) chỉ ra rằng, RRTC có thể tạo ra sự không minh bạch trong quá trình lập BCTC và điều chỉnh các khoản mục tài sản, nợ phải trả. (Mavengere, 2015) đã nghiên cứu về chủ đề thao túng thu nhập của các DN thông qua điểm Z-score, kết quả cho thấy khi các DN có khó khăn về tài chính (điểm Z thấp) thì tình trạng trình bày lại BCTC gia tăng đồng nghĩa với việc có phát sinh chênh lệch trước và sau kiểm toán. Tiếp theo đó, (Saleh, Aladwan, Alsinglawi, & Salem, 2021) đã nghiên cứu các DN công nghiệp tại Jordan giai đoạn 2015–2019 cho thấy DN có Z-score thấp, thể hiện tình trạng DN có RRTC, có xác suất cao hơn xuất hiện chênh lệch lớn giữa số liệu trước và sau kiểm toán.

Ở Việt Nam, nghiên cứu của (Trần Thị Giang Tân, 2015) đã sử dụng biến Z-score để đại diện cho tình trạng tài chính của DN và kết quả cho thấy khi điểm Z-score thấp thì khả năng quản lý thực hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận hoặc bóp méo số liệu càng lớn. Hay (Bùi Phương Chi & Nguyễn Thi Hồng Thúy, 2021) cũng tiếp cận theo cách tương tự, sử dụng lý thuyết đại diện và lý thuyết các bên liên quan làm nền tảng. Nghiên cứu nhấn mạnh những DN có Z-score thấp có xác suất cao hơn rơi vào nhóm gian lận hoặc có sai lệch lớn trong BCTC, kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của (Nguyễn Thị Mai Anh, 2020) khi sử dụng biến Z-score là một thước đo của yếu tố áp lực tài chính theo lý thuyết tam giác gian lận.

Các nghiên cứu trên đều cho thấy, RRTC đo lường bằng điểm Z_score có ảnh hưởng tới việc trình bày lại BCTC và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa thể hiện rõ được mối liên hệ cụ thể với chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán BCTC. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét mối quan hệ này trong bối cảnh của DN niêm yết tại Việt Nam và chỉ ra chiều tác động từ đó đưa ra các quyết định liên quan đến công tác kiểm soát và quản lý trong DN phù hợp nhằm mang lại lợi ích tối đa cho DN.

Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở lý thuyết đại diện, mối quan hệ giữa RRTC và việc trình bày lại BCTC hay chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán được lý giải theo như (Mavengere, 2015) hay (Saleh et al., 2021) ở phần tổng quan trên. Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết H1 như sau:

Giả thuyết H1: RRTC có ảnh hưởng thuận chiều đến chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán

Các nghiên cứu của (Lobo & Zhao, 2013) (Wijaya, 2022) đã cung cấp bằng chứng về sự liên hệ giữa trình bày lại BCTC ở những kỳ trước và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC ở năm hiện tại. Tại Việt Nam, theo (Phương, Hiếu, & Cường, 2018) việc trình bày lại BCTC ở các năm trước có ảnh hưởng thuận chiều đến khả năng trình bày lại BCTC ở năm hiện tại, kết quả này phù hợp với nghiên cứu (Trần Thị Giang Tân, 2015) với biến tiền sử gian lận được đo lường bằng số lần phát sinh chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán trong 3 năm liền trước tác động mạnh và thuận chiều với gian lận BCTC ở năm hiện tại. Do đó, tác giả có cơ sở cho rằng nếu ở năm trước công ty có phát sinh chênh lệch trước và sau kiểm toán thì nhiều khả năng kéo theo sự chênh lệch này ở BCTC của năm hiện tại. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu H2 được đưa ra:

Giả thuyết H2: Có mối tương quan thuận giữa chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán ở năm trước với chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán ở năm hiện tại (+)

Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước cũng cho thấy chênh lệch trước và sau kiểm toán còn bị tác động bởi các yếu tố khác như: Quy mô của DN, tốc độ tăng trưởng của DN, quy mô và danh tiếng công ty kiểm toán. Nghiên cứu của (Ebrati, Emadi, Balasang, & Safari, 2013) (Nguyễn Văn Hương, 2018) chỉ ra rằng, quy mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng ngược chiều đến trình bày lại BCTC. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của (Bùi Phương Chi & Nguyễn Thi Hồng Thúy, 2021). Nghiên cứu của (Beasley, Carcello, Hermanson, & Lapides, 2000; Skousen, Smith, & Wright, 2009), (Nguyễn Tiến Hùng & Huỳnh Văn Sáu, 2018) chỉ ra rằng, tốc độ tăng trưởng doanh thu có tác động thuận chiều tới chênh lệch trước và sau kiểm toán. Mặt khác, trong một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo BCTC được trình bày trung thực và hợp lý tình hình tài chính của công ty. (Beasley et al., 2000), (KAMAL, SALLEH, & AHMAD, 2014) (Trần Thị Giang Tân, 2015) cho rằng, quy mô và danh tiếng công ty kiểm toán có ảnh hưởng đến chất lượng của BCTC được kiểm toán.

Trên cơ sở đó, trong nghiên cứu này tác giả lựa chọn bổ sung các biến: Quy mô của DN, Tốc độ tăng trưởng của DN, Quy mô công ty kiểm toán, nhằm loại trừ ảnh hưởng của các yếu tố đặc thù DN và môi trường kiểm toán. Qua đó, giúp ước lượng chính xác hơn tác động thực sự của RRTC tới chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán.

Mô hình nghiên cứu

Dựa vào tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện, dựa vào một số nghiên cứu thực nghiệm và các giải thuyết nghiên cứu ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng sau:

- β0, β1, β2, β3, β4, β5 là các tham số ước lượng

- uit là sai số ngẫu nhiên.

Việc đo lường các biến trong mô hình được tổng hợp ở Bảng 1.

Bảng 1. Tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp định lượng dựa trên tài liệu thứ cấp. Từ các tài liệu, bài báo, tạp chí,... nghiên cứu thực hiện tổng quan, xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu,… Phương pháp phân tích định lượng được thực hiện, với bộ dữ liệu từ BCTC được công bố của 2.809 quan sát của các DN niêm yết trên sàn HNX và HOSE từ năm 2018 đến 2024. Nghiên cứu thực hiện thống kê mô tả, các kiểm định và hồi quy đa biến bằng các mô hình OLS, FEM, REM, GLS để đưa ra kết luận dựa vào phần mềm STATA.

Kết quả và thảo luận

Kết quả thống kê mô tả

Nghiên cứu được thực hiện với dữ liệu của khoảng 422 DN phi tài chính niêm yết trên 2 sàn chứng khoán là HNX và HOSE từ năm 2018 đến 2024, với tổng 2.809 quan sát; trong đó có 1.207 quan sát trên sàn chứng khoán HNX và 1.602 quan sát trên sàn chứng khoán HOSE. Số liệu các quan sát qua các năm được thống kê cụ thể theo Bảng 2.

Bảng 2. Thống kê các quan sát

(Nguồn: Tác giả tính toán)

Đồng thời, nghiên cứu thực hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình với kết quả được thể hiện ở Bảng.

Bảng 3. Thống kê mô tả các biến trong mô hình

(Nguồn: Tác giả tính toán)

Mô hình thực hiện với dữ liệu của 2.809 quan sát cho thấy, biến chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán (CL) có giá trị trung bình là 0,0558, với giá trị lớn nhất lên tới 2,6582, cho thấy mức chênh lệch không đồng đều giữa các DN; Biến ZSCORE có giá trị trung bình 3,956, với độ lệch chuẩn lớn là 6,617, chỉ ra sự phân tán mạnh về mức độ RRTC, với giá trị thấp nhất (-2,843) và cao nhất đạt 241,758; Biến SIZE có giá trị trung bình 27,869, cho thấy quy mô của các DN là ổn định và có sự tương đồng. Giá trị của biến BIG4 cho thấy, có 32,3% các BCTC của các DN nêu trên có sự tham gia của các công ty kiểm toán lớn.  

Kết quả thực hiện hồi quy

Để thực hiện kiểm định sự phù hợp của mô hình và sự tương quan giữa các biến, nghiên cứu thực hiện kiểm tra ma trận tương quan. Kết quả cho thấy có nhiều biến có hệ số P < 0.05, cho thấy có khả năng tồn tại sự tương quan giữa các biến trong mô hình và khả năng xảy ra hiện tượng đa công tuyến.

Bảng 4. Kết quả kiểm định sự tương quan giữa các biến trong mô hình

(Nguồn: Tác giả tính toán)

Để khẳng định trong mô hình có thực sự xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến, nghiên cứu thực hiện kiểm định VIF. Kết quả kiểm định như Bảng 5.

Bảng 5. Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến

(Nguồn: Tác giả tính toán)

Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho thấy giá trị Mean VIF = 1.87 < 2, do đó có thể kết luận các biến trong mô hình có tương quan nhưng ở mức độ thấp, mô hình có tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến nhưng không nghiêm trọng và không làm ảnh hưởng tới kết quả của mô hình nghiên cứu.

Tiếp đó, nghiên cứu lần lượt tiến hành ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến biến phụ thuộc qua các mô hình: ước lượng bình phương bé nhất (OLS), mô hình các tác động cố định (FEM) và mô hình các tác động ngẫu nhiên (REM). Kiểm định Hausman cũng được thực hiện cho tất cả các biến để lựa chọn mô hình phù hợp giữa mô hình cố định FEM và mô hình biến đổi REM. Kết quả khi thực hiện kiểm định Hausman đều cho thấy giá trị Prob > chi2 = 0.000 < 0.05, từ đó nghiên cứu xác định mô hình FEM là phù hợp hơn và được lựa chọn để thực hiện hồi quy cho các biến.

Tuy nhiên, để kiểm tra xem mô hình FEM sau khi được lựa chọn có tồn tại khuyết tật không, nghiên cứu thực hiện các kiểm định, như: hiện tượng phương sai thay đổi (Xttest3), hiện tượng tự tương quan để xem xét có tồn tại khuyết tật của mô hình hay không? Kết quả, các kiểm định được tổng hợp như Bảng 6.

Bảng 6. Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan

(Nguồn: Tính toán của tác giả)

Kết quả Bảng 6 cho thấy mô hình FEM có khuyết tật, tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan. Do đó, nghiên cứu lựa chọn thực hiện hồi quy bằng phương pháp GLS với các biến phụ thuộc để loại bỏ các khuyết tật nêu trên và sử dụng kết quả hồi quy để phân tích tác động của các nhân tố tới chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán BCTC.

Bảng 7. Tổng hợp kết quả hồi quy

(Nguồn: Tác giả tính toán)

Nhìn vào Bảng 7 có thể thấy rằng, với biến ZSCORE các hệ số trong mô hình hồi quy đều có giá trị âm và có ý nghĩa thống kê, cho thấy ZSCORE có tác động mạnh và ngược chiều tới chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán. Kết quả này cho thấy mối quan hệ tích cực giữa RRTC và biến phụ thuộc trong mô hình, khi hệ số ZSCORE càng thấp có nghĩa là RRTC của DN càng cao, khi đó chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán càng cao. Kết quả này ủng hộ giả thuyết đã đưa ra và phù hợp với các nghiên cứu của (Mavengere, 2015) (Saleh et al., 2021).

Biến chênh lệch trước và sau kiểm toán năm trước (LagCL) có tác động mạnh và có ý nghĩa thống kê đến sự thay đổi lợi nhuận trước và sau kiểm toán, cho thấy khi DN có điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ trước có khả năng tiếp tục điều chỉnh trong các kỳ tiếp theo. Điều này phản ánh sự ổn định trong chiến lược tài chính của DN và sự phụ thuộc vào các quyết định tài chính trong quá khứ. Kết quả này cũng đồng thuận với các nghiên cứu trước đây của (Lobo & Zhao, 2013) (Wijaya, 2022)

Bên cạnh đó, kết quả thể hiện có mối quan hệ dương giữa biến tăng trưởng (GROWTH) với sự thay đổi lợi nhuận trước và sau kiểm toán. Khi các DN có mức độ tăng trưởng doanh thu cao thì có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận nhiều hơn. Các DN này có thể điều chỉnh lợi nhuận để phản ánh sự phát triển mạnh mẽ trong doanh thu, nhằm duy trì niềm tin của các nhà đầu tư và đảm bảo sự ổn định tài chính.

Biến quy mô và danh tiếng công ty kiểm toán (BIG4) có tác động ngược chiều tới chênh lệch trước và sau kiểm toán. Kết quả này cho thấy, các DN được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn thì có sự điều chỉnh lợi nhuận ít hơn, điều này có thể được lý giải, khi một DN được kiểm toán bởi Big4 DN đã nhận biết được khả năng phát hiện ra điều chỉnh lợi nhuận không hợp lý là rất cao, điều này khiến cho các DN này ít có động cơ điều chỉnh lợi nhuận quá mức, vì họ nhận thức rằng kiểm toán viên từ các công ty lớn sẽ phát hiện và điều chỉnh các sai sót đó. Chính vì vậy, sự điều chỉnh lợi nhuận trong các DN được kiểm toán bởi Big4 sẽ ít hơn, dẫn đến chênh lệch lợi nhuận giữa trước và sau kiểm toán giảm. Bên cạnh đó, trong phạm vi nghiên cứu, kết quả cho thấy biến quy mô doanh nghiệp (SIZE) không thể hiện sự ảnh hưởng tới chênh lệch trước và sau kiểm toán.

Kết luận

Nghiên cứu này đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa RRTC, sự chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán tại các DN phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Với tổng số 2.809 quan sát, kết quả cho thấy, khi RRTC cao (thể hiện qua ZSCORE thấp), các DN có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận báo cáo để giảm thiểu các tác động tiêu cực từ các yếu tố tài chính không ổn định. Lý thuyết đại diện giải thích rằng, RRTC có thể tạo ra động cơ cho người quản lý điều chỉnh lợi nhuận để bảo vệ lợi ích cá nhân, gây ra sự chênh lệch giữa lợi nhuận trước và sau kiểm toán. Những kết quả này có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện quy trình kiểm toán và quản lý tài chính tại các DN niêm yết, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của các cơ chế kiểm soát nội bộ và chính sách quản lý tài chính để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong BCTC.

Từ kết quả nghiên cứu ở trên có thể đưa ra một số khuyến nghị, nhằm cải thiện quản lý tài chính và quy trình kiểm toán tại các DN niêm yết: Trước tiên, các DN cần tăng cường quản lý RRTC nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ RRTC cao, từ đó hạn chế sự điều chỉnh lợi nhuận không minh bạch. Đồng thời, doanh nghiệp cần tăng cường củng cố và hoàn thiện kiểm soát nội bộ theo hướng hiệu quả và phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp, qua đó nâng cao độ cậy của các thông tin tài chính, minh bạch hơn trong việc công bố các rủi ro tài chính. Các DN cũng nên xây dựng chiến lược tài chính ổn định, tránh sự thay đổi lợi nhuận quá mức qua các kỳ báo cáo, từ đó duy trì sự ổn định tài chính dài hạn; Thứ hai, việc hợp tác với đơn vị kiểm toán độc lập chất lượng cao là một biện pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro sai lệch báo cáo, nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của BCTC; và cuối cùng, việc đào tạo và nâng cao năng lực của đội ngũ kiểm toán viên sẽ giúp phát hiện và ngăn ngừa các hành vi gian lận trong BCTC góp phần xây dựng một môi trường tài chính minh bạch và hiệu quả.

Mặc dù nghiên cứu đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn một số hạn chế. Thứ nhất, kết quả hiện tại mới chỉ phản ánh mối tương quan thống kê giữa rủi ro tài chính (Z-SCORE) và chênh lệch lợi nhuận, chứ chưa thể khẳng định hoàn toàn mối quan hệ nhân quả do khả năng có tồn tại yếu tố nội sinh (ví dụ: việc điều chỉnh lợi nhuận có thể tác động ngược lại các chỉ số thành phần cấu thành nên Z-SCORE). Thứ hai, việc đo lường rủi ro tài chính chỉ thông qua Z-score có thể chưa bao quát hết mọi khía cạnh của rủi ro. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần củng cố thêm bằng chứng bằng cách áp dụng các phương pháp xử lý nội sinh như mô hình GMM. Đồng thời, các nghiên cứu trong tương lai cần kiểm tra thêm bằng các chỉ báo khác để đo lường rủi ro tài chính (như tỷ lệ nợ/vốn, biến động lợi nhuận) và thực hiện các kiểm tra độ nhạy (như winsorize, loại trừ các biến đặc thù, phân nhóm ngành) để kết quả nghiên cứu toàn diện hơn.