Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai: Khi văn hóa cần trở thành “hệ điều hành” của phát triển

Hương Bình Thứ năm, 09/04/2026 10:15 (GMT+7)

Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai được nhìn nhận như một “kho báu sinh thái” của miền Trung với một hệ thống di sản và cảnh quan hết sức phong phú.

Trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành phố Huế trở thành đô thị trực thuộc Trung ương trên nền tảng di sản, văn hóa, sinh thái và thông minh, việc thành phố Huế đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một bước đi có ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Đây không chỉ là một chương trình phát triển kinh tế - xã hội đơn thuần, mà còn là sự định vị lại vai trò của một không gian địa lý – sinh thái – văn hóa độc đáo bậc nhất Việt Nam trên bản đồ phát triển quốc gia và quốc tế.

Vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai là nơi lưu giữ một kho tàng di sản phi vật thể phong phú. Ảnh: Võ Thạnh.

Với diện tích mặt nước rộng hơn 22.000 héc ta, lớn nhất Đông Nam Á, hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai từ lâu đã được nhìn nhận như một “kho báu sinh thái” của miền Trung. Nhưng hơn thế, đó còn là một không gian văn hóa – lịch sử dày đặc, nơi thiên nhiên và con người đã cùng nhau kiến tạo nên một hệ giá trị đặc sắc qua hàng trăm năm. Hiện khu vực này có diện tích khoảng hơn 1300km2 (27% diện tích thành phố Huế), dân số trên 452.000 người, thuộc địa bàn 16/20 phường xã của thành phố Huế.

Vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai hiện sở hữu một hệ thống di sản và cảnh quan hết sức phong phú với 151 di tích đã được xếp hạng và kiểm kê, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt là Trấn Hải thành và chùa Thánh Duyên; 18 di tích cấp quốc gia và 36 di tích cấp thành phố. Đặc biệt, trong “Thần Kinh nhị thập cảnh” do vua Thiệu Trị tuyển chọn, một bảng xếp hạng danh thắng tiêu biểu của kinh đô Huế thế kỷ XIX, khu vực đầm phá đã có tới 3 danh thắng được vinh danh, gồm cửa biển Thuận An, đầm Hà Trung và núi Thúy Vân – chùa Thánh Duyên. Điều đó cho thấy, từ rất sớm, không gian đầm phá đã được nhìn nhận như một phần không thể tách rời của cảnh quan văn hóa Huế.

Không chỉ dừng lại ở di sản vật thể, vùng Tam Giang – Cầu Hai còn là nơi lưu giữ một kho tàng di sản phi vật thể phong phú, tiêu biểu như Lễ Cầu ngư làng Thai Dương với lịch sử hơn 500 năm, một nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng biển, phản ánh mối quan hệ sâu sắc giữa con người và đại dương. Cùng với đó là hệ thống tri thức dân gian về con nước, mùa gió, nghề cá, ẩm thực và các hình thức sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tất cả tạo nên một “di sản sống” hiếm có.

Với diện tích mặt nước rộng hơn 22.000 héc ta, lớn nhất Đông Nam Á, hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai từ lâu đã được nhìn nhận như một “kho báu sinh thái” của miền Trung. Ảnh: Võ Thạnh.

Chính vì vậy, cách tiếp cận phát triển vùng đầm phá không thể chỉ dừng lại ở các yếu tố kinh tế hay môi trường, mà cần đặt văn hóa vào vị trí trung tâm, như một “hệ điều hành mềm” chi phối toàn bộ quá trình phát triển.

Nhìn tổng thể, Kế hoạch đã thể hiện một tầm nhìn bao quát và phù hợp với các định hướng lớn của Trung ương. Việc xác định mục tiêu xây dựng đầm phá trở thành “Công viên đầm phá Quốc gia”, tiến tới khu dự trữ sinh quyển có tầm quan trọng quốc tế là một định hướng đúng đắn, thể hiện tư duy phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo tồn và khai thác. Đặc biệt, việc lựa chọn du lịch – dịch vụ – kinh tế biển làm động lực tăng trưởng cũng phù hợp với lợi thế so sánh của vùng.

Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ ngành văn hóa – thể thao, có thể thấy một khoảng trống rất cần được bổ sung: văn hóa tuy đã được đề cập, nhưng chưa thực sự được đặt vào đúng vai trò nền tảng và động lực phát triển. Các nội dung liên quan đến văn hóa hiện vẫn phân tán trong các nhóm giải pháp về xã hội, du lịch hay môi trường, thiếu một cấu trúc tổng thể mang tính hệ thống. Nói cách khác, văn hóa mới dừng lại ở mức “thành tố hỗ trợ”, chứ chưa trở thành “trục xuyên suốt” của toàn bộ đề án.

Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai hoàn toàn có thể trở thành một mô hình mẫu về phát triển “di sản sống”, nơi con người, thiên nhiên và văn hóa cùng tồn tại và phát triển hài hòa. Ảnh: Võ Thạnh.

Điều này đặt ra một yêu cầu cấp thiết: cần nhìn nhận lại vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai không chỉ là một hệ sinh thái tự nhiên, mà còn là một hệ sinh thái văn hóa đặc thù. Ở đó, mỗi làng chài, mỗi lễ hội, mỗi tri thức dân gian hay mỗi món ăn đều là những “đơn vị cấu thành” của một chỉnh thể văn hóa. Nếu không có một chiến lược bảo tồn và phát huy đúng mức, những giá trị ấy rất dễ bị mai một trong quá trình phát triển nhanh.

Một trong những nội dung quan trọng khác là cần có một chương trình tổng thể về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của vùng. Những giá trị như lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, văn hóa ẩm thực đầm phá hay các nghề truyền thống gắn với mặt nước cần được tích hợp thành các sản phẩm cụ thể. Điều này không chỉ làm tăng chiều sâu văn hóa của du lịch, mà còn khiến vùng đầm phá mới có thể trở thành một không gian “đẹp và có hồn”.

Cùng với đó, việc phát triển các sản phẩm văn hóa – du lịch đặc thù cần phải được quan tâm nhấn mạnh, vì đây chính là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của vùng. Một tour trải nghiệm đời sống ngư dân, một không gian ẩm thực đầm phá với những món ngon hiếm có được nâng tầm, hay một chương trình biểu diễn thực cảnh trên mặt nước, nếu được đầu tư bài bản, hoàn toàn có thể trở thành những sản phẩm mang tính biểu tượng, góp phần định vị thương hiệu Huế trên bản đồ du lịch quốc tế.

Vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai không chỉ là một hệ sinh thái tự nhiên, mà còn là một hệ sinh thái văn hóa đặc thù. Ảnh: Võ Thạnh.

Một điểm đáng lưu ý khác là hệ thống thiết chế văn hóa – thể thao cho vùng đầm phá hiện cần phải được đề cập một cách tương xứng. Trong bối cảnh phát triển du lịch và nâng cao chất lượng đời sống người dân, việc hình thành các trung tâm văn hóa cộng đồng, không gian sinh hoạt ven nước, hay các hoạt động thể thao gắn với môi trường đầm phá không chỉ đáp ứng nhu cầu nội tại, mà còn tạo thêm sức hấp dẫn cho điểm đến.

Quan trọng hơn cả, cần khẳng định vai trò của người dân địa phương như là chủ thể của văn hóa. Mọi chiến lược phát triển, nếu không đặt cộng đồng vào trung tâm, sẽ khó có thể bền vững. Người dân đầm phá không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà phải là người tham gia, sáng tạo và hưởng lợi từ quá trình phát triển.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng để Kế hoạch thực sự phát huy hiệu quả, cần bổ sung một cách tiếp cận mang tính hệ thống hơn về văn hóa. Trước hết, cần xây dựng một “Đề án hệ sinh thái văn hóa đầm phá Tam Giang – Cầu Hai”, trong đó tiến hành bản đồ hóa toàn bộ tài nguyên di sản, từ Trấn Hải thành, tháp Chăm Phú Diên, chùa Hà Trung, chùa Thánh Duyên… cho đến các không gian lễ hội và sinh kế cộng đồng, để tạo nền tảng cho phát triển. Tiếp đó, cần đầu tư phát triển các sản phẩm văn hóa – du lịch đặc trưng, gắn với trải nghiệm thực, có chiều sâu và tính khác biệt.

Song song với đó, việc gắn kết vùng đầm phá với các chương trình lớn của Huế như Festival bốn mùa, phát triển công nghiệp văn hóa hay kinh tế đêm sẽ mở ra những không gian sáng tạo mới. Khi đó, đầm phá không chỉ là nơi “đến để ngắm”, mà còn là nơi “đến để sống, để trải nghiệm và để hiểu”.

Trong một tầm nhìn xa hơn, nếu được định hướng đúng, Tam Giang – Cầu Hai hoàn toàn có thể trở thành một mô hình mẫu về phát triển “di sản sống”, nơi con người, thiên nhiên và văn hóa cùng tồn tại và phát triển hài hòa. Và để làm được điều đó, văn hóa không thể đứng bên lề, mà phải trở thành “hệ điều hành” để dẫn dắt, điều tiết và tạo nên bản sắc cho toàn bộ tiến trình phát triển.

Đó không chỉ là một lựa chọn, mà là con đường tất yếu để Huế giữ vững được căn cốt của mình trong hành trình hội nhập và phát triển.