• Thứ Ba, ngày 05 tháng 05 năm 2026, 10:38:56
  • Thông tin tòa soạn
  • Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Nhận, phản biện bài trực tuyến
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
    • Tin thời sự
    • Tin hiệp hội
  • Nghiên cứu trao đổi
    • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
    • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
    • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
    • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
    • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
    • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
    • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
    • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
    • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
    • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
    • Tạp Chí Số 12 / Volume 12
  • Diễn đàn kế toán
    • Nhịp sống doanh nghiệp
    • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
    • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
    • Thuế
    • Tài chính
    • Ngân hàng
    • Chứng khoán
    • Bất động sản
    • Kế toán
    • Kiểm toán
  • Tạp Chí
    • Tạp chí 2024
    • Tạp chí 2023
    • Tạp chí 2022
    • Quản lý tạp chí
    • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
    • Hội đồng biên tập
    • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
    • Cơ cấu tổ chức
    • Ban biên tập
    • Quy định bài viết
    • Quy trình phản biện
    • Thể lệ đăng bài
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
    • Tin tức
    • Thảo luận chuyên sâu
    • Tài chính xanh và Doanh nghiệp

Tin hiệp hội

Tin trong nước

  • Tin thời sự
  • Tin hiệp hội

Nghiên cứu trao đổi

  • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
  • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
  • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
  • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
  • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
  • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
  • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
  • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
  • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
  • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
  • Tạp Chí Số 12 / Volume 12

Diễn đàn kế toán

  • Nhịp sống doanh nghiệp
  • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
  • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp

Nghiệp vụ

Tin Quốc tế

Chính sách mới

  • Thuế
  • Tài chính
  • Ngân hàng
  • Chứng khoán
  • Bất động sản
  • Kế toán
  • Kiểm toán

Tạp Chí

  • Tạp chí 2024
  • Tạp chí 2023
  • Tạp chí 2022
  • Quản lý tạp chí
  • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
  • Hội đồng biên tập
  • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
  • Cơ cấu tổ chức
  • Ban biên tập
  • Quy định bài viết
  • Quy trình phản biện
  • Thể lệ đăng bài

Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE

  • Tin tức
  • Thảo luận chuyên sâu
  • Tài chính xanh và Doanh nghiệp
Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
  • Nhận,phản biện bài trực tuyến

Thực trạng kiểm toán môi trường do kiểm toán nhà nước Việt Nam thực hiện

08:33 |  05/05/2026

Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết kết quả đạt được, đồng thời đề xuất những giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững (PTBV) của ngành kiểm toán trong tương lai.

1. Đặt vấn đề

Sự can thiệp của con người vào môi trường đã gây ra một loạt tác động lớn. Những tác động này bao gồm ô nhiễm không khí và nước, nạn phá rừng, mất đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu. Giữa những vấn đề nan giải về môi trường, KTMT ra đời như một công cụ cơ bản để đánh giá và giám sát tác động của các hoạt động của con người đối với môi trường (Ferreira và cộng sự, 2024).

Là một nước đang phát triển, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào sản xuất công nghiệp và khai thác tài nguyên, khoáng sản. Việt Nam là một trong 10 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Kết quả là, môi trường ngày càng trở nên dễ bị tổn thương và ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức, vấn đề nghiêm trọng (State Audit Office of Vietnam, 2024).

Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả hoạt động KTMT hoặc liệt kê các cuộc kiểm toán đã thực hiện, chưa phân tích một cách hệ thống về thực trạng, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động KTMT tại KTNN Việt Nam. Đồng thời, chưa có nhiều nghiên cứu kết hợp dữ liệu thực tiễn (như phỏng vấn chuyên gia) để đưa ra các giải pháp có tính khả thi cao.

Do đó, bài viết này nhằm làm rõ khoảng trống nghiên cứu thông qua việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

(1) Thực trạng hoạt động KTMT do KTNN Việt Nam thực hiện hiện nay như thế nào?

(2) Những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong hoạt động KTMT là gì?

(3) Các giải pháp nào cần được triển khai để nâng cao hiệu quả hoạt động KTMT trong thời gian tới?

Từ đó, mục tiêu của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng KTMT tại KTNN Việt Nam, xác định các hạn chế cốt lõi và đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Điểm mới của nghiên cứu là kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp với dữ liệu định tính thu thập từ phỏng vấn chuyên gia, qua đó cung cấp góc nhìn thực tiễn và sâu sắc hơn về hoạt động KTMT tại Việt Nam.

2. Tổng quan lý thuyết

Lewis (2000) sử dụng phương pháp định tính để nghiên cứu quá trình phát triển của KTMT do chính phủ thực hiện nhằm đáp ứng mục tiêu PTBV. Tài liệu thu thập được từ chính phủ và các tài liệu khác trong giai đoạn từ 1990 tới 2000 tại Anh được phân tích để đưa ra kết quả nghiên cứu. Kết quả chỉ ra, thực trạng phát triển của KTMT Anh và khẳng định KTMT có ích cho xã hội với vai trò hỗ trợ để thực hiện PTBV.

Rose (2001) sử dụng phương pháp định tính, bao gồm phỏng vấn chuyên sâu với các chuyên gia và thu thập tài liệu nội bộ, tài liệu bên ngoài khác để nghiên cứu về KTMT tại Úc. Nghiên cứu chỉ ra khó khăn mà KTNN về môi trường gặp phải bao gồm thiếu dữ liệu sẵn có và tiêu chuẩn kiểm toán không rõ ràng. Chính phủ Úc đang nỗ lực để khắc phục những khó khăn này.

Rika (2009) nghiên cứu khám phá về KTMT trong Văn phòng Tổng Kiểm toán Fiji (OAG). Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, bao gồm phân tích tài liệu và phỏng vấn bán cấu trúc. Nghiên cứu chỉ ra thực trạng phát triển của KTMT tại Văn phòng Tổng Kiểm toán Fiji, bao gồm nhân sự kiểm toán, vấn đề về pháp lý, các chủ đề kiểm toán, phạm vi kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán, và những khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện.

Hội đồng Hợp tác Quốc tế về Môi trường và Phát triển tại Trung Quốc (2014) nghiên cứu về KTMT tại Trung Quốc và đưa ra kết luận: Các vấn đề môi trường là nghiêm trọng và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường; Kiểm toán hoạt động của các cơ quan chính phủ cần được cải thiện; Trung Quốc cần có sự hợp tác tốt hơn để đạt được cải thiện này; Hơn nữa, hệ thống KTMT của Trung Quốc có sự khác biệt đáng kể về phạm vi và phương pháp với các nước khác. Các tác giả cũng đưa ra khuyến nghị, bao gồm: (1) Thiết lập và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động KTMT của chính phủ; (2) Tăng cường năng lực KTMT của chính phủ; (3) Cải thiện các hướng dẫn và tiêu chuẩn kỹ thuật cho hệ thống KTMT của chính phủ; (4) Tăng cường phối hợp giữa hệ thống KTMT của chính phủ và các hệ thống đánh giá môi trường khác; (5) Khởi động một loạt các cuộc kiểm toán thí điểm để tích lũy kinh nghiệm với các hệ thống kiểm toán được tăng cường và từng bước thúc đẩy KTMT của chính phủ.

Tại Việt Nam, Nguyễn (2017) và Đặng (2022) sử dụng phương pháp định tính bao gồm thu thập các tài liệu liên quan để nghiên cứu về KTMT tại KTNN Việt Nam. Kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở liệt kê các dự án KTMT đã thực hiện, kết quả chính đạt được và định hướng của KTNN Việt Nam về vấn đề này trong thời gian tới.

Nghiên cứu về thực trạng KTMT tại KTNN được thực hiện ở một số nước trên thế giới. Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu toàn diện nào về vấn đề này. Một số nghiên cứu trước đây mang tính chủ quan và có những hạn chế nhất định. Trong nghiên cứu hiện tại, các tác giả sẽ sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng, để nghiên cứu về thực trạng và những khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện KTMT tại KTNN Việt Nam.

Từ các nghiên cứu trên có thể nhận thấy:

Thứ nhất, các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra vai trò quan trọng của KTMT trong việc thúc đẩy phát triển bền vững, đồng thời nhấn mạnh các thách thức như thiếu dữ liệu, hạn chế về tiêu chuẩn và năng lực thực hiện.

Thứ hai, tại Việt Nam, các nghiên cứu còn hạn chế về phạm vi và phương pháp tiếp cận, chủ yếu dừng lại ở mô tả thực trạng mà chưa phân tích sâu các hạn chế và nguyên nhân.

Thứ ba, chưa có nghiên cứu nào kết hợp dữ liệu thực tiễn từ chuyên gia để đánh giá toàn diện hoạt động KTMT tại KTNN Việt Nam.

Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm bổ sung khoảng trống trên thông qua việc phân tích thực trạng, xác định hạn chế và đề xuất giải pháp dựa trên dữ liệu định tính.

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu: phân tích thực trạng và những khó khăn gặp phải trong quá trình KTMT do KTNN Việt Nam thực hiện; và lựa chọn giải pháp hoàn thiện KTMT do KTNN Việt Nam thực hiện. Dữ liệu được thu thập từ các tài liệu thứ cấp và phỏng vấn các chuyên gia KTMT tại KTNN Việt Nam.

Dữ liệu được thu thập từ hai nguồn chính:

(i) Dữ liệu thứ cấp: bao gồm các văn bản pháp luật (Luật Bảo vệ môi trường, Luật KTNN), báo cáo của KTNN Việt Nam, tài liệu của các tổ chức quốc tế (INTOSAI, ASOSAI) và các nghiên cứu khoa học liên quan đến KTMT.

(ii) Dữ liệu sơ cấp: được thu thập thông qua phỏng vấn bán cấu trúc với các chuyên gia đang công tác trong lĩnh vực kiểm toán và môi trường tại KTNN Việt Nam.

Dữ liệu phỏng vấn được ghi âm, chuyển đổi thành văn bản và tiến hành mã hóa theo phương pháp phân tích nội dung (content analysis).

Quá trình phân tích được thực hiện thông qua các bước:

(1) Làm quen với dữ liệu;

(2) Xây dựng hệ thống mã;

(3) Phân loại và nhóm các chủ đề;

(4) Phân tích và diễn giải kết quả.

Phần mềm Nvivo được sử dụng nhằm hỗ trợ quá trình mã hóa và phân tích dữ liệu, giúp nâng cao độ tin cậy và tính hệ thống của nghiên cứu.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Về quy trình thực hiện KTMT

Theo Lê (2018), quy trình KTMT tuân thủ theo quy trình chung quy định tại Điều 45, 46, 47, 48 và 49 của Luật KTNN năm 2015. Báo cáo kiểm toán sau khi phát hành được công bố công khai, trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật. Quy trình này cũng phù hợp với quy trình nêu trong các hướng dẫn về KTMT của tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) và Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao khu vực châu Á (ASOSAI).

Trong giai đoạn chuẩn bị và lập kế hoạch kiểm toán, thông tin cơ bản về đơn vị được kiểm toán được thu thập để xác định phạm vi kiểm toán, quyết định mục tiêu ưu tiên, tiêu chí kiểm toán, và lựa chọn phương pháp kiểm toán. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, các cuộc họp mở với đơn vị được kiểm toán được tổ chức, các bằng chứng kiểm toán có thẩm quyền và đáng tin cậy được thu thập, và các cuộc làm việc với các bên liên quan được tiến hành. Trong giai đoạn lập báo cáo kiểm toán, báo cáo được soạn thảo bởi nhóm kiểm toán và được lãnh đạo cơ quan kiểm toán phê duyệt. Một hội nghị chính thức được tổ chức với đơn vị kiểm toán và các bên liên quan để thông báo và thảo luận về những phát hiện trong báo cáo kiểm toán. Báo cáo cuối cùng với các kiến nghị được gửi đến các cơ quan thẩm quyền cấp cao của đối tượng được kiểm toán. Giai đoạn cuối cùng là theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các kết quả, kết luận và kiến nghị kiểm toán.

Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia cho thấy quy trình kiểm toán môi trường (KTMT) tại KTNN Việt Nam hiện nay cơ bản tuân thủ quy trình kiểm toán chung theo quy định của Luật KTNN năm 2015, đồng thời có sự tiếp cận tương đối phù hợp với hướng dẫn của INTOSAI và ASOSAI.

Các chuyên gia được phỏng vấn đều nhận định rằng quy trình kiểm toán hiện hành đảm bảo tính hệ thống và chặt chẽ, bao gồm đầy đủ các giai đoạn từ lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán, lập báo cáo đến theo dõi sau kiểm toán.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế:

Quy trình KTMT vẫn mang tính lồng ghép trong quy trình kiểm toán chung, chưa có sự chuyên biệt hóa rõ ràng cho lĩnh vực môi trường;

Các tiêu chí và phương pháp đánh giá còn thiên về định tính, thiếu các công cụ đo lường định lượng hiệu quả môi trường.

Nguyên nhân của các hạn chế trên chủ yếu là do hệ thống chuẩn mực KTMT chưa được hoàn thiện, đồng thời thiếu các công cụ và cơ sở dữ liệu hỗ trợ cho việc lượng hóa các chỉ tiêu môi trường.

4.2. Về tổ chức, bộ máy thực hiện KTMT

Kết quả phân tích dữ liệu và phỏng vấn chuyên gia cho thấy Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy thực hiện kiểm toán môi trường (KTMT).

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề môi trường đối với PTBV của đất nước, vai trò và xu thế phát triển tất yếu của kiểm toán môi trường trong hoạt động của cơ quan kiểm toán tối cao, tháng 10/2015, KTNN Việt Nam đã thành lập bộ phận chuyên môn cấp phòng về KTMT tại Vụ Hợp tác quốc tế nhằm mục đích nghiên cứu, áp dụng những kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực KTMT và từng bước triển khai áp dụng tại KTNN Việt Nam. Đến tháng 10/2018, Phòng KTMT và chức năng KTMT được chuyển về thuộc KTNN chuyên ngành III nhằm chuyên môn hóa công tác tổ chức thực hiện KTMT; đây là hướng đi đúng đắn và phù hợp với xu hướng và thông lệ quốc tế cũng như yêu cầu thực tiễn Việt Nam. Trong những năm gần đây, KTNN Việt Nam đã tuyển dụng bổ sung lực lượng nhân sự được đào tạo chuyên môn về môi trường cho phòng KTMT và một số phòng kiểm toán hoạt động thuộc các KTNN chuyên ngành, khu vực khác trong ngành nhằm đẩy mạnh hoạt động KTMT theo mục tiêu đã đề ra tại Chiến lược phát triển KTNN Việt Nam đến năm 2030. Các chuyên gia được phỏng vấn cho rằng việc hình thành bộ phận chuyên trách và từng bước chuyên môn hóa là phù hợp với xu hướng quốc tế, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai KTMT trong thực tiễn.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế:

Nguồn nhân lực chuyên sâu về môi trường còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của các cuộc kiểm toán môi trường ngày càng phức tạp;

Sự phối hợp giữa các đơn vị trong hệ thống KTNN trong triển khai KTMT chưa thực sự đồng bộ, dẫn đến hiệu quả chưa cao trong một số trường hợp.

Nguyên nhân của các hạn chế trên chủ yếu là do KTMT là lĩnh vực tương đối mới tại Việt Nam, trong khi công tác đào tạo chuyên sâu và phát triển nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.

4.3. Về cơ sở pháp lý thực hiện KTMT

Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia cho thấy cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường (KTMT) tại Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai hoạt động này trong thực tiễn.

Vai trò của KTNN Việt Nam được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường ban hành năm 2020 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2022. Việc Luật định vai trò của KTNN Việt Nam tại Luật Bảo vệ môi trường đã góp phần giúp KTNN có cơ sở pháp lý vững chắc trong thực hiện KTMT. Bên cạnh đó Chiến lược phát triển KTNN Việt Nam đến năm 2030 (giai đoạn 2021-2030) theo Nghị quyết số 999/2020/UBTVQH14 ngày 16/9/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng xác định KTMT, kiểm toán hoạt động, kiểm toán công nghệ thông tin là những nội dung được tập trung phát triển, phấn đấu đến năm 2025 số lượng các cuộc kiểm toán đạt từ 30% và đến năm 2030 đạt từ 40% tổng số các cuộc kiểm toán. Các chuyên gia được phỏng vấn cho rằng việc luật hóa vai trò của KTNN trong lĩnh vực môi trường là bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao tính pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai KTMT.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế:

Hệ thống pháp lý về KTMT chưa đầy đủ và đồng bộ, còn thiếu các quy định cụ thể về quy trình, tiêu chí và phương pháp kiểm toán môi trường;

Chưa có hệ thống chuẩn mực KTMT riêng biệt, dẫn đến việc áp dụng còn phụ thuộc nhiều vào quy trình kiểm toán chung.

Nguyên nhân của các hạn chế trên chủ yếu là do KTMT là lĩnh vực mới tại Việt Nam, chưa được thể chế hóa đầy đủ trong hệ thống pháp luật, đồng thời việc xây dựng các chuẩn mực chuyên ngành còn chậm so với yêu cầu thực tiễn.

4.4. Về năng lực thực hiện của kiểm toán viên

Kết quả phân tích dữ liệu và phỏng vấn chuyên gia cho thấy năng lực thực hiện kiểm toán môi trường (KTMT) của kiểm toán viên tại KTNN Việt Nam đã từng bước được nâng cao thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức chuyên môn.

Năm 2019, KTNN Việt Nam đã nghiên cứu xây dựng và ban hành Hướng dẫn KTMT và Tài liệu đào tạo KTMT dựa trên các tài liệu, văn bản hướng dẫn của INTOSAI, ASOSAI kết hợp với kinh nghiệm, kết quả kiểm toán trong nước cũng như quốc tế, có điều chỉnh để phù hợp với các quy định, thực tiễn về quản lý môi trường tại Việt Nam. Trên cơ sở đó tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo về KTMT cho các kiểm toán viên trong toàn ngành, đảm bảo năng lực triển khai, thực hiện KTMT cho các đơn vị trực thuộc KTNN Việt Nam; tổ chức các Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức về môi trường, KTMT với sự tham gia của chuyên gia đến từ nhiều bộ, ngành, địa phương và quốc tế; bố trí kinh phí thực hiện các Đề tài, Chương trình nghiên cứu khoa học về phương pháp, giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức triển khai KTMT, cách thức thực hiện một số chủ đề KTMT phổ biến như kiểm toán công tác quản lý chất thải khu công nghiệp, chất thải sinh hoạt, quản lý nguồn nước...; từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về KTMT và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin cùng các phương pháp kiểm toán hiện đại vào hoạt động kiểm toán. Năm 2023, KTNN Việt Nam tiếp tục rà soát và cập nhật hướng dẫn KTMT và Tài liệu đào tạo KTMT trên cơ sở tổng hợp, hệ thống, cập nhật các chính sách, chế độ, chuẩn mực và thực tiễn công tác KTMT ở KTNN Việt Nam hiện nay nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về công tác quản lý và bảo vệ môi trường, các bước tiến hành một cuộc KTMT và kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện kiểm toán môi trường đối với một số chủ đề kiểm toán cụ thể. Các chuyên gia được phỏng vấn đánh giá rằng đội ngũ kiểm toán viên đã có những cải thiện đáng kể về kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực KTMT, đặc biệt là trong việc tiếp cận các phương pháp kiểm toán hiện đại.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế:

Năng lực chuyên môn về môi trường của kiểm toán viên chưa đồng đều, còn thiếu kiến thức liên ngành giữa kiểm toán và khoa học môi trường;

Kỹ năng phân tích dữ liệu và ứng dụng các công cụ công nghệ trong KTMT còn hạn chế;

Thiếu kinh nghiệm thực tiễn trong các cuộc kiểm toán môi trường chuyên sâu.

Nguyên nhân của các hạn chế trên chủ yếu là do KTMT là lĩnh vực mới, trong khi chương trình đào tạo chuyên sâu chưa được triển khai một cách hệ thống; đồng thời, sự kết hợp giữa các lĩnh vực chuyên môn còn hạn chế.

4.5. Về các cuộc kiểm toán thực hiện

Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia cho thấy trong giai đoạn 2015–2025, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán liên quan đến lĩnh vực môi trường, bao gồm cả kiểm toán chuyên sâu và các cuộc kiểm toán có lồng ghép nội dung môi trường.

Trong giai đoạn 2015 - 2025, KTNN Việt Nam đã tổ chức thực hiện các cuộc kiểm toán hoạt động chuyên sâu về các vấn đề môi trường như: kiểm toán công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, nhà máy nhiệt điện, làng nghề; kiểm toán công tác quản lý chất thải y tế, phế liệu nhập khẩu, việc quản lý nguồn nước lưu vực sông Mê Kông gắn với các mục tiêu PTBV, giải pháp giảm sử dụng túi ni lông,… Ngoài ra, còn có trên 30 cuộc kiểm toán chuyên đề, kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ có lồng ghép các nội dung về môi trường như kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công tại các dự án liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu, PTBV,…; việc quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường, quỹ bảo vệ môi trường, quỹ bảo vệ và phát triển rừng,… Các chủ đề kiểm toán nói trên đều là các vấn đề môi trường “nóng”, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động tiêu cực môi trường được Chính phủ, Quốc hội, người dân quan tâm, đồng thời đã được KTNN Việt Nam rà soát, thu thập thông tin, đánh giá một cách kỹ lưỡng trước khi đưa vào kế hoạch thực hiện nhằm đảm bảo tối đa hóa các tác động và giá trị gia tăng mà cuộc kiểm toán có thể đem lại. Từ kết quả kiểm toán thu được, KTNN Việt Nam đã thường xuyên đưa ra các cảnh báo về nguy cơ, rủi ro ô nhiễm môi trường cùng với hàng loạt các giải pháp hữu ích, có tính khả thi cao nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và tăng cường tính hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý môi trường (KTNN Việt Nam, 2024).

Nếu như trong giai đoạn trước đây, KTNN chủ yếu thực hiện lồng ghép nội dung liên quan đến môi trường trong các cuộc kiểm toán chuyên đề, trong đó, phần lớn là các cuộc kiểm toán tài chính kết hợp kiểm toán tuân thủ như: Kiểm toán Chương trình Mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Kiểm toán hợp tác về các vấn đề nước sông Mê Kông; kiểm toán chương trình giảm nhẹ và thích ứng với sự biến đổi khí hậu (2012-2015)... thì đến nay, các cuộc KTMT đã được thực hiện chủ yếu dưới hình thức kiểm toán hoạt động theo thông lệ quốc tế, tập trung đi sâu đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý môi trường, việc sử dụng tài chính công, tài sản công trong lĩnh vực môi trường, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và những bất cập, lỗ hổng trong hệ thống pháp luật cũng như cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý để đưa ra những kiến nghị phù hợp, kịp thời. Trong đó phải kể đến một số cuộc kiểm toán chuyên đề về môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, hoạt động quản lý nhập khẩu phế liệu, quản lý chất thải y tế (KTNN chuyên ngành III); cuộc kiểm toán việc giảm thiểu sử dụng túi nilon khó phân hủy (KTNN khu vực IV); cuộc kiểm toán hoạt động cải tạo và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (KTNN khu vực X),… Các chủ đề kiểm toán được lựa chọn đều là những vấn đề môi trường phức tạp, nhiều rủi ro, đang thu hút được sự quan tâm của Quốc hội và người dân.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế:

Số lượng các cuộc kiểm toán môi trường chuyên sâu còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn;

Phạm vi kiểm toán chưa bao phủ đầy đủ các lĩnh vực môi trường trọng yếu;

Nội dung kiểm toán trong một số trường hợp vẫn mang tính lồng ghép, chưa thực sự đi sâu vào đánh giá hiệu quả môi trường.

Nguyên nhân của các hạn chế trên chủ yếu là do hạn chế về nguồn lực, năng lực chuyên môn và dữ liệu phục vụ kiểm toán; đồng thời, phương pháp và công cụ kiểm toán môi trường chưa được phát triển đầy đủ.

4.6. Về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KTMT

Kết quả phân tích dữ liệu và phỏng vấn chuyên gia cho thấy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kiểm toán môi trường (KTMT) của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đã được tăng cường trong những năm gần đây, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn và tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Năm 2008, KTNN Việt Nam chính thức trở thành thành viên Nhóm công tác về KTMT của ASOSAI (ASOSAI WGEA) và năm 2021 là thành viên của INTOSAI WGEA. KTNN Việt Nam đã cử nhiều lượt cán bộ, công chức tham gia các khóa đào tạo, hội thảo, hội nghị về KTMT trên thế giới do INTOSAI, ASOSAI và các SAI tổ chức; đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở dữ liệu cho phát triển KTMT thông qua việc thu thập và biên dịch các tài liệu đào tạo, hướng dẫn kiểm toán trong lĩnh vực môi trường; tham gia các cuộc kiểm toán hợp tác quốc tế, nhóm đề án nghiên cứu về chủ đề “Ứng dụng dữ liệu lớn trong KTMT”, “Kiểm toán các mục tiêu PTBV”,... để tiếp thu các kiến thức, kinh nghiệm quốc tế vào hoạt động kiểm toán của KTNN Việt Nam; tăng cường hoạt động hợp tác song phương với KTNN In-đô-nê-xi-a, KTNN Ấn Độ, Quỹ Kiểm toán và Trách nhiệm giải trình Canada (CAAF),... trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ KTNN Việt Nam trong quá trình thực hiện KTMT. Đáng chú ý, dưới sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, KTNN Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội ASOSAI lần thứ 14 vào năm 2018 và được bầu làm Chủ tịch ASOSAI, nhiệm kỳ 2018 - 2021. Đây là sự kiện đối ngoại nổi bật, góp phần nâng cao vị thế của KTNN Việt Nam trong nước và trên trường quốc tế.

Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2030 (Nghị quyết số 999/2020/UBTVQH14 ngày 16/9/2020) đã nhấn mạnh, KTMT là một trong những nội dung kiểm toán cần tập trung tăng cường, cùng với kiểm toán hoạt động, kiểm toán công nghệ thông tin,… phấn đấu đến năm 2025, thực hiện kiểm toán các nội dung này đạt khoảng 30% và đến năm 2030 đạt từ 40% trở lên số lượng các cuộc kiểm toán hằng năm. Điều này khẳng định tầm quan trọng cũng như sự quan tâm của Quốc hội đối với lĩnh vực KTMT còn mới mẻ nhưng nhiều cơ hội (KTNN, 2020). Các chuyên gia được phỏng vấn đánh giá rằng hoạt động hợp tác quốc tế đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, cập nhật kiến thức và cải thiện phương pháp kiểm toán môi trường tại Việt Nam.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế:

Việc tiếp nhận và áp dụng các kinh nghiệm quốc tế vào thực tiễn KTMT tại Việt Nam còn chậm;

Hiệu quả của các chương trình hợp tác quốc tế chưa được khai thác đầy đủ;

Sự khác biệt về thể chế, điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ phát triển gây khó khăn trong việc áp dụng mô hình quốc tế.

Nguyên nhân của các hạn chế trên chủ yếu là do sự khác biệt về bối cảnh giữa Việt Nam và các quốc gia phát triển, đồng thời năng lực nội tại và nguồn lực triển khai còn hạn chế.

5. Giải pháp hoàn thiện hoạt động KTMT do KTNN Việt Nam thực hiện

5.1. Giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý

Giải pháp này nhằm khắc phục hạn chế về sự thiếu đồng bộ và chưa đầy đủ của hệ thống pháp lý trong lĩnh vực kiểm toán môi trường (KTMT), như đã phân tích tại Mục 4.3. Cụ thể:

- Kiến nghị Quốc hội giao KTNN có chức năng chủ trì biên tập Chuẩn mực kiểm toán (trình tự, thủ tục và phương pháp thực hiện KTMT);

- Sớm thông qua, ban hành các Luật định, Thông tư hướng dẫn về công tác KTMT đặc biệt quyền hạn và trách nhiệm của KTNN trong công tác KTMT;

- Bổ sung nội dung về KTMT trong Luật KTNN; Nghiên cứu, sửa đổi Luật KTNN bổ sung quy định cụ thể về KTMT, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức, thực hiện KTMT của KTNN. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn, quy trình về kiểm toán đối với các lĩnh vực môi trường đặc thù, trong đó có môi trường KKT, KCN

Những giải pháp này có tính khả thi cao do KTMT đã được xác định là một trong những lĩnh vực trọng tâm trong Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2030, đồng thời nhận được sự quan tâm của Nhà nước trong bối cảnh yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cấp thiết.

5.2. Giải pháp hoàn thiện yếu tố kỹ thuật

Những giải pháp này nhằm khắc phục các hạn chế về quy trình kiểm toán chưa chuyên biệt và việc thiếu các công cụ, phương pháp kỹ thuật trong kiểm toán môi trường (KTMT), như đã phân tích tại Mục 4.1 và 4.5.

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về KTMT một cách đầy đủ, chính xác và khoa học giúp KTV thu thập thông tin để lựa chọn chủ đề kiểm toán tiềm năng, hỗ trợ quá trình xây dựng Kế hoạch kiểm toán từng năm, cũng như kế hoạch kiểm toán trung và dài hạn; đồng thời, giúp KTV xác định trọng yếu và rủi ro, xây dựng nội dung, tiêu chí của cuộc kiểm toán có căn cứ và mang tính khả thi cao.

- Trang bị và đào tạo cách sử dụng một số thiết bị đo đạc tại chỗ cho KTV nhằm xác định các rủi ro về môi trường tại thời điểm kiểm tra hiện trường;

- Kịp thời cập nhật các công nghệ xử lý; công nghệ giám sát môi trường cho KTV giúp KTV tránh bị động trong công tác thực hiện kiểm toán;

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác nghiệp vụ kiểm toán bảo vệ môi trường.

Giải pháp này có tính khả thi do KTNN Việt Nam đã có kinh nghiệm trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán, đồng thời có thể tận dụng các nguồn hỗ trợ kỹ thuật và kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực KTMT.

5.3. Giải pháp hoàn thiện yếu tố con người:

Giải pháp này nhằm khắc phục các hạn chế về nguồn nhân lực và năng lực chuyên môn trong kiểm toán môi trường (KTMT), như đã phân tích tại Mục 4.2 và 4.4.

- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ KTMT, xây dựng lực lượng KTV KTMT đủ cả về số lượng chất lượng; tiếp thu áp dụng những phương pháp kiểm toán mới.

- Tăng cường năng lực về KTMT thông qua các hình thức như: hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo chuyên môn về môi trường, về KTMT trong nước và quốc tế; khuyến khích nghiên cứu khoa học về KTMT... Theo đó, công tác đào tạo cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung đào tạo chuyên sâu về KTMT cho một nhóm KTV có kinh nghiệm, có mối quan tâm tới KTMT, từ đó lan tỏa trong toàn Ngành.

- Tăng cường hợp tác quốc tế, học tập, chia sẻ kinh nghiệm về KTMT từ các cơ quan kiểm toán tối cao có thế mạnh về KTMT trong khu vực và trên thế giới.

- Tăng cường nhận thức về lĩnh vực KTMT đối với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và nội bộ KTNN qua các cuộc họp báo, đề tài nghiên cứu khoa học, các buổi chia sẻ kinh nghiệm và các phương tiện thông tin đại chúng.

Chúng có tính khả thi do KTNN Việt Nam đã có nền tảng về đào tạo và hợp tác quốc tế, đồng thời có thể tận dụng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo từ các tổ chức quốc tế để nâng cao năng lực cho đội ngũ kiểm toán viên.

6. Kết luận

Nghiên cứu đã phân tích một cách toàn diện thực trạng hoạt động kiểm toán môi trường (KTMT) do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện trên các khía cạnh: quy trình kiểm toán, tổ chức bộ máy, cơ sở pháp lý, năng lực kiểm toán viên, hoạt động kiểm toán và hợp tác quốc tế.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, KTNN Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong việc triển khai KTMT, từng bước tiệm cận với thông lệ quốc tế, thể hiện qua việc hoàn thiện quy trình kiểm toán, hình thành bộ phận chuyên trách và mở rộng phạm vi các cuộc kiểm toán môi trường. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: khung pháp lý chưa hoàn thiện, thiếu chuẩn mực kiểm toán chuyên biệt; năng lực chuyên môn và tính liên ngành của kiểm toán viên còn hạn chế; việc ứng dụng công nghệ và phương pháp định lượng chưa đáp ứng yêu cầu; số lượng và phạm vi các cuộc kiểm toán chưa tương xứng với nhu cầu thực tiễn.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động KTMT, bao gồm: hoàn thiện cơ sở pháp lý; nâng cao năng lực kỹ thuật và ứng dụng công nghệ; phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu; mở rộng và nâng cao chất lượng các cuộc kiểm toán; tăng cường hợp tác quốc tế và nâng cao nhận thức về KTMT.

Đóng góp của nghiên cứu không chỉ nằm ở việc hệ thống hóa và phân tích thực trạng KTMT tại KTNN Việt Nam, mà còn ở việc sử dụng dữ liệu định tính từ phỏng vấn chuyên gia để làm rõ các hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định do chủ yếu sử dụng phương pháp định tính với quy mô mẫu còn hạn chế. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo hướng sử dụng phương pháp định lượng hoặc kết hợp phương pháp hỗn hợp để kiểm định và lượng hóa các kết quả nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu là cơ sở tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và cơ quan kiểm toán trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động KTMT, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm toán môi trường trong khu vực công tại các quốc gia đang phát triển, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu về phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết.

Nguyễn Thị Phương

URL: https://tapchiketoankiemtoan.vn/thuc-trang-kiem-toan-moi-truong-do-kiem-toan-nha-nuoc-viet-nam-thuc-hien-d6215.html

© tapchiketoankiemtoan.vn

Hotline: 098 1696069

  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới

Thông tin hiệp hội

Cơ quan chủ quản

Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin tạp chí

Giấy phép hoạt động báo điện tử: QĐ số: 540/GP-BTTTT của Bộ thông Tin và Truyền Thông cấp ngày 23/08/2021; Số: 05/TTKHCN-ISSN của Cục thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cấp ngày 14/02/2023

Tổng Biên Tập: ThS.Tạ Đức Toàn

Thư ký tòa soạn: Nguyễn Huyền Thương

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin liên hệ

Email nhận bài Tạp chí in: banbientapvaa@gmail.com

Liên hệ truyền thông: truyenthongaav@gmail.com

Hotline: 098 169 6069
Cấm sao chép dưới mọi hình thức trên TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN, nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.
Coppyright © 2022 TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN. All rights reserved.