• Thứ Sáu, ngày 15 tháng 05 năm 2026, 11:58:44
  • Thông tin tòa soạn
  • Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Nhận, phản biện bài trực tuyến
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
    • Tin thời sự
    • Tin hiệp hội
  • Nghiên cứu trao đổi
    • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
    • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
    • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
    • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
    • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
    • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
    • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
    • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
    • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
    • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
    • Tạp Chí Số 12 / Volume 12
  • Diễn đàn kế toán
    • Nhịp sống doanh nghiệp
    • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
    • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
    • Thuế
    • Tài chính
    • Ngân hàng
    • Chứng khoán
    • Bất động sản
    • Kế toán
    • Kiểm toán
  • Tạp Chí
    • Tạp chí 2024
    • Tạp chí 2023
    • Tạp chí 2022
    • Quản lý tạp chí
    • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
    • Hội đồng biên tập
    • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
    • Cơ cấu tổ chức
    • Ban biên tập
    • Quy định bài viết
    • Quy trình phản biện
    • Thể lệ đăng bài
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
    • Tin tức
    • Thảo luận chuyên sâu
    • Tài chính xanh và Doanh nghiệp

Tin hiệp hội

Tin trong nước

  • Tin thời sự
  • Tin hiệp hội

Nghiên cứu trao đổi

  • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
  • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
  • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
  • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
  • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
  • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
  • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
  • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
  • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
  • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
  • Tạp Chí Số 12 / Volume 12

Diễn đàn kế toán

  • Nhịp sống doanh nghiệp
  • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
  • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp

Nghiệp vụ

Tin Quốc tế

Chính sách mới

  • Thuế
  • Tài chính
  • Ngân hàng
  • Chứng khoán
  • Bất động sản
  • Kế toán
  • Kiểm toán

Tạp Chí

  • Tạp chí 2024
  • Tạp chí 2023
  • Tạp chí 2022
  • Quản lý tạp chí
  • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
  • Hội đồng biên tập
  • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
  • Cơ cấu tổ chức
  • Ban biên tập
  • Quy định bài viết
  • Quy trình phản biện
  • Thể lệ đăng bài

Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE

  • Tin tức
  • Thảo luận chuyên sâu
  • Tài chính xanh và Doanh nghiệp
Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
  • Nhận,phản biện bài trực tuyến

Sử dụng các dạng mô hình công nghệ thông tin trong kế toán

11:04 |  15/05/2026

Nghiên cứu sử dụng mô hình hệ thống thông tin thành công (ISSM) và mô hình xác nhận kỳ vọng (ECM) để điều tra ảnh hưởng của các nhân tố quan trọng đến ý định duy trì sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) và thành quả công việc của kế toán viên và người sử dụng hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) ở các cơ sở giáo dục công lập tại Việt Nam.

1. Giới thiệu

Với sự phát triển nhanh chóng của CNTT, nhiều cơ sở giáo dục công lập đã dành nhiều nỗ lực và số tiền lớn để phát triển các chương trình kế toán mà cụ thể là xây dựng và phát triển HTTTKT. Mặc dù, việc chấp nhận sử dụng HTTTKT là bước đầu tiên quan trọng để đạt được thành công của hệ thống, nhưng thành công thực sự vẫn cần phải duy trì sử dụng (Jo & Bang, 2023). Hiện nay, hầu hết tất cả các cơ sở giáo dục công lập đều ứng dụng phần mềm kế toán, đó là phần mềm độc lập hoặc phần mềm được tích hợp trong hệ thống thông tin (HTTT) của đơn vị. Do đó, việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định duy trì sử dụng CNTT trong HTTTKT không chỉ hỗ trợ nhà lãnh đạo đơn vị thiết lập các chiến lược và giải pháp tăng cường nhận thức của nhân viên trong quá trình sử dụng hệ thống và còn hỗ trợ nhân viên có thái độ và ý định sử dụng hiệu quả hơn các hệ thống ứng dụng và CNTT.

Việc sử dụng HTTTKT cùng với các yếu tố chất lượng được áp dụng từ mô hình HTTT thành công mở rộng đã mang lại nhiều thành quả to lớn cho cá nhân, bộ phận và cả tổ chức (Al-Okaily, 2024). Nghiên cứu liên quan ý định duy trì sử dụng hệ thống đã được kiểm tra thực nghiệm trên nền tảng của mô hình ECM, TAM, TTF hoặc UTAUT trong tìm hiểu đến ý định duy trì sử dụng các HTTT khác nhau (Al-Emran & cộng sự, 2020)

Trong nghiên cứu về HTTT, việc hiểu và đánh giá sự thành công của một hệ thống là rất quan trọng đối với các tổ chức. Hai mô hình nổi bật trong việc đánh giá thành công của HTTT là mô hình HTTT thành công (ISSM) và mô hình xác nhận kỳ vọng (ECM). Việc kết hợp hai mô hình này giúp tăng mức độ chính xác và tính toàn diện trong việc đánh giá sự thành công của các HTTT, đặc biệt là các hệ thống như HTTTKT và ERP. Trong bối cảnh nghiên cứu về việc sử dụng HTTTKT, đã có nhiều công trình tiếp cận theo hướng giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định duy trì sử dụng hệ thống của người dùng. Tiêu biểu, Lufti (2022) đã thực hiện nghiên cứu nhằm phân tích các nhân tố tác động đến ý định tiếp tục sử dụng HTTTKT của kế toán viên trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Jordan, dựa trên khuôn mẫu lý thuyết của mô hình UTAUT. Bên cạnh đó, Jo & Bang (2023) tập trung xác định các yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến ý định duy trì sử dụng hệ thống ERP, thông qua việc tích hợp mô hình TOE, mô hình TAM và mô hình ISSM, qua đó cung cấp cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc giải thích hành vi sử dụng HTTT trong doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu gần đây cho thấy sự tỉnh thức CNTT có mối liên hệ chặt chẽ với hành vi và ý định duy trì sử dụng CNTT. Theo Dernbecher & Beck (2017), sự tỉnh thức có thể được xem xét như một thành tố quan trọng trong các mô hình tương tác của HTTT, khi nó có thể đóng vai trò là yếu tố tiên quyết, yếu tố thúc đẩy hoặc kết quả của quá trình tương tác giữa người dùng và hệ thống. Cách tiếp cận này cho thấy sự tỉnh thức không chỉ ảnh hưởng đến cách người dùng nhận thức và đánh giá hệ thống, mà còn có khả năng định hình ý định tiếp tục sử dụng CNTT theo thời gian. Phù hợp với lập luận này, các nghiên cứu thực nghiệm của Ioannou & Papazafeiropoulou (2017), cũng như Wu & cộng sự (2022), đã xem xét sự tỉnh thức CNTT như một biến trung gian trong các mô hình nghiên cứu nhằm giải thích ý định duy trì sử dụng HTTT. Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy sự tỉnh thức góp phần chuyển hóa các tác động từ nhận thức, trải nghiệm và đặc điểm hệ thống thành động lực thúc đẩy người dùng tiếp tục sử dụng CNTT, qua đó khẳng định vai trò quan trọng của sự tỉnh thức trong việc duy trì hành vi sử dụng CNTT một cách bền vững. Từ đó cho thấy việc tích hợp ECM và ISSM trong tìm hiểu ý định sử dụng của nhiều loại HTTT khác nhau là hợp lý, nhưng việc tìm hiểu ý định duy trì sử dụng CNTT và vai trò của sự tỉnh thức còn nhiều hạn chế, đặc biệt là nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục công lập tại Việt Nam. Do đó nghiên cứu này tập trung giải quyết hai lỗ hổng sau đây: (1) Áp dụng kết hợp mô hình ECM và ISSM để hiểu rõ hơn về mối quan giữa các yếu tố đến ý định duy trì sử dụng CNTT và thành quả công việc và (2) làm rõ vai trò của sự tỉnh thức CNTT trong các mối quan hệ giữa xác nhận kỳ vọng và ý định duy trỉ sử dụng CNTT.

2. Cơ sở lý thuyết

Mô hình thành công HTTT đã được DeLone & McLean phát triển (DeLone & McLean 2003), dẫn đến "mô hình HTTT thành công cập nhật". Phiên bản mới nhất bổ sung thêm yếu tố "chất lượng dịch vụ" bên cạnh các yếu tố cơ bản "chất lượng hệ thống" và "chất lượng thông tin". Các tác giả cũng cho rằng "ý định sử dụng", như một yếu tố thái độ, có thể đóng vai trò là đại diện thay thế hợp lý cho "sử dụng" trong một số tình huống nhất định. Do đó, mô hình ISSM cập nhật không chỉ chú trọng đến việc sử dụng hệ thống mà còn đến ý định sử dụng hệ thống của người dùng, mô hình ISSM cập nhật chủ yếu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi sử dụng thực tế, được tác động bởi các cảm nhận của người dùng về các thuộc tính của hệ thống. Dựa trên mối quan hệ thực nghiệm được đề xuất bởi Delone & McLean trong mô hình ISSM, nghiên cứu của Bokhari (2005) đã xem xét những phát hiện trong quá khứ và giải quyết những mâu thuẫn hiện có, với kết quả nghiên cứu giải thích rằng tồn tại mối quan hệ tích cực đáng kể giữa sự hài lòng của người dùng hệ thống và thành quả công việc liên quan đến việc sử dụng hệ thống. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Bokhari (2005) cũng xem xét nghiêm túc những phát hiện và giải quyết những vấn đề hiện nay, kết quả nghiên cứu đã giải thích rằng tồn tại mối quan hệ đáng kể giữa sử dụng HTTT và thành quả công việc. Từ một số nhận định trên, giả thuyết dưới đây được đề xuất:

H7: Sử dụng HTTTKT có tác động đến thành quả công việc.

2.2. Mô hình xác nhận kỳ vọng

Mô hình xác nhận kỳ vọng cung cấp mô tả về hành vi duy trì sử dụng HTTT hoặc CNTT và được xem là vượt trội hơn các mô hình hiện có khác vì trong ECM bao gồm các biến như sự hài lòng và xác nhận có liên quan hơn đến phản ứng sau khi áp dụng HTTT và CNTT (Bhattacherjee, 2001; Hong & cộng sự, 2006). ECM giải thích tác động của niềm tin nhận thức của người dùng đối với ý định liên tục sử dụng HTTT và CNTT và đưa ra giả thuyết rằng ý định sử dụng liên tục HTTT của người dùng phụ thuộc vào nhận thức tính hữu ích, mức độ xác nhận của họ và sự hài lòng của họ với HTTT và CNTT (Bhattacherjee, 2001; Lee, 2010). Xác nhận kỳ vọng đề cập đến mức độ nhận thức của người dùng về sự phù hợp giữa kỳ vọng sử dụng HTTT và CNTT và hiệu suất thực tế của nó (Bhattacherjee, 2001). Bên cạnh đó, nhận thức tính hữu ích là một cấu trúc quan trọng khác của ECM. Theo Venkatesh & cộng sự (2003), nhận thức tính hữu ích được nhận thấy là biến ổn định để xem xét hành vi của người sử dụng, cả giai đoạn ban đầu và sau khi áp dụng HTTT.

Trong bối cảnh sử dụng HTTTKT, khi nhận thức về tính hữu ích trước khi chấp nhận của người dùng đối với HTTTKT bị bác bỏ trong quá trình sử dụng HTTTKT thực tế, người dùng lý trí có thể khắc phục sự bất hòa của họ thông qua việc sửa đổi nhận thức ban đầu của họ, do đó, việc xác nhận kỳ vọng của họ đối với HTTTKT có khả năng tác động đến nhận thức tính hữu ích của họ đối với HTTT (Cheng, 2019). Các nghiên cứu trước đây chỉ ra những tác động đáng kể của việc xác nhận kỳ vọng đối với nhận thức tính hữu ích (Thong & cộng sự, 2006). Người dùng sẵn sàng duy trì sử dụng HTTT vì nhận thức rằng nó có thể tăng hiệu quả sử dụng, do đó nhận thức tính hữu ích là tiền đề của ý định duy trì trong bối cảnh sử dụng CNTT (Lee, 2010), người dùng tin rằng việc sử dụng các tính năng của HTTTKT có thể cải thiện hiệu suất công việc của họ sẽ có xu hướng ý định duy trì thuận lợi hơn đối với hệ thống này, nghĩa là nhận thức tính hữu ích của người dùng về HTTTKT ảnh hưởng tích cực đến ý định duy trì sử dụng. Từ những lập luận trên, tác giả đề xuất hai giả thuyết sau:

H1: Xác nhận kỳ vọng ảnh hưởng tích cực đến nhận thức tính hữu ích

H3: Nhận thức tính hữu ích ảnh hưởng tích cực đến ý định duy trì sử dụng CNTT

Bên cạnh đó, nhận thức tính hữu ích của HTTT là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá sự chấp nhận và sử dụng HTTT tại các tổ chức. Đây là cảm nhận của người dùng về mức độ giúp đỡ của hệ thống trong việc thực hiện công việc, làm tăng năng suất và hiệu quả công việc của họ. Theo TAM của Davis (1989), nhận thức về tính hữu ích là một trong những yếu tố quyết định đến sự chấp nhận và sử dụng của người dùng đối với công nghệ. Nhận thức tính hữu ích là mức độ mà cá nhân nhận thấy lợi ích từ việc sử dụng HTTT về mặt hiệu quả (Davis, 1989). Điều này có nghĩa là khi người dùng nhận thức được các lợi ích của việc sử dụng dịch vụ hoặc hệ thống, mối quan hệ lâu dài với hệ thống sẽ được củng cố (Lee, 2010). Khi người dùng nhận thấy lợi ích từ việc sử dụng hệ thống, tần suất sử dụng của họ sẽ gia tăng và khả năng mang lại thành quả công việc tốt hơn. Từ quan điểm này, chúng tôi đề xuất giả thuyết:

H6: Nhận thức tính hữu ích ảnh hưởng tích cực đến thành quả công việc

Thành quả công việc của cá nhân là mức độ mà một cá nhân cảm nhận rằng HTTT giúp họ thực hiện công việc một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn (DeLone & McLean, 2003). Điều này cho thấy rằng cá nhân sẽ sử dụng HTTT khi họ nhận thấy hệ thống đó hữu ích đối với các hoạt động của mình (Tam & Oliveira, 2016). Thành quả cá nhân được củng cố khi hành vi duy trì sử dụng HTTT, bởi vì hệ thống này có thể được sử dụng mọi lúc, mọi nơi. Điều này không chỉ đảm bảo tính ổn định trong sử dụng công nghệ mà còn tạo ra cơ hội để người lao động khai thác sâu hơn các chức năng, từ đó ảnh hưởng tích cực đến năng suất và chất lượng công việc trong dài hạn. Việc duy trì sử dụng HTTT giúp cá nhân làm quen sâu hơn với quy trình, cải thiện kỹ năng thao tác và tăng khả năng hỗ trợ xử lý các nhiệm vụ phức tạp, góp phần nâng cao thành quả công việc ở cả cấp độ cá nhân và tổ chức. Trong mô hình đề xuất, thành quả cá nhân bị ảnh hưởng quan trọng từ ý định duy trì sử dụng CNTT.

H8. Ý định duy trì sử dụng CNTT ảnh hưởng tích cực đến thành quả công việc

2.3. Sự tỉnh thức CNTT

Như vậy từ các giả thuyết được phát triển, mô hình nghiên cứu được xây dựng như Hình 1 sau đây:

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả tự xây dựng)

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Xây dựng thang đo

Bảng câu hỏi khảo sát được sử dụng như công cụ thu thập dữ liệu chủ yếu của nghiên cứu. Hoạt động khảo sát được triển khai đối với kế toán viên, nhân viên và nhà quản lý thuộc các bộ phận khác nhau trong các cơ sở giáo dục công lập, thông qua hình thức bảng câu hỏi trực tuyến (Google Form). Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2025. Các thang đo nghiên cứu được kế thừa và điều chỉnh từ các công trình trước nhằm đảm bảo độ tin cậy và giá trị khoa học. Cụ thể, thang đo mức độ sử dụng hệ thống thông tin kế toán (US) gồm 3 biến quan sát (US1–US3), được kế thừa từ Saeed & Abdinnour-Helm (2008). Thang đo thành quả công việc (WP) được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Tseng & Huang (2011), bao gồm 6 biến quan sát (WP1–WP6). Thang đo nhận thức tính hữu ích (PU) phản ánh nhận thức của nhân viên về việc sử dụng HTTTKT, gồm 6 biến quan sát (PU1–PU6), được tham khảo từ Cheng (2020) và Jo & Bang (2023). Bên cạnh đó, thang đo xác nhận kỳ vọng (EXC) gồm 3 biến quan sát (EXC1–EXC3) được kế thừa từ Bhattacherjee (2001). Thang đo sự tỉnh thức về công nghệ thông tin (ITM) gồm 5 biến quan sát (ITM1–ITM5), dựa trên các nghiên cứu của Thatcher và cộng sự (2018) và Wu và cộng sự (2022), nhằm phản ánh quan điểm và cách nhìn nhận của nhân viên đối với CNTT. Cuối cùng, thang đo ý định duy trì sử dụng CNTT (CUI) gồm 3 biến quan sát (CUI1–CUI3), được phát triển từ Bhattacherjee (2001) và Cheng (2020). Toàn bộ các biến quan sát trong nghiên cứu được đo lường bằng thang đo Likert 7 mức, với giá trị từ 1 – Rất không đồng ý đến 7 – Rất đồng ý, phù hợp cho việc đánh giá mức độ nhận thức và thái độ của người trả lời đối với các khái niệm nghiên cứu.

3.2. Mẫu nghiên cứu

Mẫu khảo sát của nghiên cứu bao gồm 171 cá nhân đang công tác tại 50 cơ sở giáo dục công lập. Về đặc điểm giới tính, mẫu khảo sát có 51 nam (29,8%) và 120 nữ (70,2%). Xét theo trình độ chuyên môn, nhóm người trả lời có trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ cao nhất (63,2%), trong khi nhóm có trình độ đại học và cao đẳng chiếm 36,8% tổng số mẫu, cho thấy mức độ chuyên môn tương đối cao của đối tượng khảo sát. Về vị trí công tác, các đối tượng tham gia khảo sát phân bố ở nhiều vai trò khác nhau trong đơn vị. Trong đó, kế toán viên và kế toán trưởng chiếm tỷ lệ lớn nhất với 91 người (53,2%). Tiếp theo là nhân viên thuộc các bộ phận có tham gia sử dụng HTTTKT, chiếm 22,8%. Phần còn lại là các vị trí khác, chủ yếu là nhà quản lý có tham gia sử dụng HTTTKT, chiếm 24% tổng số người trả lời. Liên quan đến phần mềm kế toán đang được sử dụng tại các đơn vị, kết quả khảo sát cho thấy 92% số cơ sở sử dụng phần mềm kế toán chuyên dụng, trong đó MISA là phần mềm được sử dụng phổ biến nhất. Số còn lại sử dụng hệ thống ERP hoặc ứng dụng Excel để phục vụ công tác kế toán. Những đặc điểm này phản ánh bối cảnh ứng dụng CNTT tương đối đa dạng tại các cơ sở giáo dục công lập được khảo sát.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Kiểm định mô hình đo lường

Nghiên cứu sử dụng phần mềm SmartPLS 4.1 trong phân tích và kiểm định dữ liệu. Nghiên cứu đánh giá độ tin cậy và tính hợp lệ của các khái niệm trong mô hình đo lường bằng cách kiểm tra độ tin cậy về tính nhất quán nội tại, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.

Bảng 1 trình bày hai tiêu chí đánh giá về tính nhất quán nội tại của thang đo bao gồm độ tin cậy tổng hợp (CR) và Cronbach's alpha. Hệ số Cronbach's alpha của tất cả các biến lớn hơn 0,6. Giá trị độ tin cậy tổng hợp (CR) của tất cả các biến lớn hơn 0,7, điều đó chứng minh rằng các biến có tính nhất quán nội tại cao. Bên cạnh đó, hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,7. Giá trị phân biệt đã được đánh giá thông qua tiêu chí Fornell-Larcker và hệ số tải chéo. Bảng 2 cho thấy căn bậc hai của giá trị AVE của mỗi nhân tố cao hơn mức tương quan của nó với bất kỳ nhân tố nào khác trong mô hình (Fornell & Larcker, 1981). Hệ số tải của các biến tương ứng cao hơn hệ số tải chéo khác (Bảng 3). Các giá trị này chứng minh rằng thang đo của các biến tiềm ẩn có giá trị phân biệt.

Bảng 1: Kết quả đánh giá chất lượng thang đo

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

Bảng 2: Giá trị phân biệt (Fornell-Larcker)

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

Bảng 3: Hệ số tải chéo Cross loadings

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

4.2. Kiểm định mô hình cấu trúc

Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình đường dẫn có thể giải thích được tác động của các yếu tố đến ý định duy trì sử dụng CNTT bằng hệ số xác định (R2) là 56,7%. Sử dụng HTTTKT và ý định duy trì sử dụng CNTT có thể giải thích trung bình về sự biến thiên của thành quả công việc là 40,6% và xác nhận kỳ vọng giải thích được 56,1% sự thay đổi của nhận thức tính hữu ích HTTTKT. Đồng thời, nhận thức tính hữu ích HTTTKT và xác nhận kỳ vọng giải thích 42,5% sự thay đổi của yếu tố sự tỉnh thức CNTT.

Các đường dẫn quan hệ được trình bày trong Hình 2, kỹ thuật phân tích Bootstrap đã được sử dụng với mẫu lặp lại 5.000 lần nhằm ước lượng độ lớn và ý nghĩa của hệ số đường dẫn (β) ở mức tin cậy 95%. EXC (β = 0,749, p < 0,01) và (β = 0,327, p < 0,01) lần lượt ảnh ảnh hưởng đáng kể đến PU và ITM; PU (β = 0,398, p < 0,01) và (β = 0,369, p < 0,01) lần lượt có ảnh hưởng đáng kể đến CUI và ITM; ITM (β = 0,439, p < 0,01) có ảnh hưởng đáng kể đến CUI. Ngoài ra, CUI (β = 0,088, p < 0,05) và US (β = 0,627, p < 0,01) ảnh hưởng đáng kể đến WP. Kết quả cho thấy tất cả các giả thuyết đều được chấp nhận, ngoại trừ giả thuyết H6, PU không ảnh hưởng đến WP. (bảng 4).

Bảng 4: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

Hình 2: Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

5. Kết luận và hàm ý nghiên cứu

Xuất phát từ các nghiên cứu trước liên quan ý định duy trì sử dụng HTTT và CNTT, vận dụng kết hợp lý thuyết ISSM, mô hình ECM và sự tỉnh thức CNTT, tác giả đã xây dựng mô hình mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình ISSM và nhận thức tính hữu ích, xác nhận kỳ vọng, sự tỉnh thức CNTT và ý định duy trì sử dụng CNTT. Kết quả cho thấy, thang đo các khái niệm nghiên cứu đều đạt độ tin cậy cao và có chất lượng. Hệ số xác định R2 của các khái niệm cao chứng tỏ sự phù hợp và có giá trị trong mô hình nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ra, các mối quan hệ trong mô hình đều có ý nghĩa, cụ thể: nhận thức tính hữu ích ảnh hưởng đáng kể đến sự tỉnh thức CNTT và ý định duy trì sử dụng CNTT, xác nhận kỳ vọng cũng có tác động mạnh đến nhận thức tình hữu ích và sự tỉnh thức CNTT. Bên cạnh đó, ý định duy trì sử dụng CNTT chịu sự tác động mạnh từ nhận thức tính hữu ích và sự tỉnh thức CNTT. Và không kém phần quan trọng đó là ý định duy trì sử dụng CNTT cùng với sử dụng HTTTKT có tác động đến thành quả công việc của nhân viên. Nghiên cứu cũng cho thấy vai trò quan trọng của sự tỉnh thức CNTT trong mối quan hệ với ý định duy trì sử dụng CNTT. Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh giá trị hợp lý và phù hợp với một số nghiên cứu trước trong bối cảnh kết hợp lý thuyết ISSM và mô hình ECM trong sử dụng HTTTKT.

5.1. Hàm ý lý thuyết

Thứ nhất, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm củng cố và mở rộng giá trị của mô hình ECM trong việc giải thích hành vi duy trì sử dụng CNTT. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố cốt lõi của ECM như xác nhận kỳ vọng và nhận thức tính hữu ích tiếp tục giữ vai trò quan trọng không chỉ trong giai đoạn hậu chấp nhận ngắn hạn mà còn trong bối cảnh người dùng có kinh nghiệm sử dụng lâu năm. Điều này góp phần khẳng định tính ổn định và khả năng ứng dụng dài hạn của mô hình ECM trong nghiên cứu HTTTKT.

Thứ hai, bằng việc tích hợp mô hình ECM với mô hình ISSM, nghiên cứu mở rộng phạm vi phân tích từ ý định và hành vi sử dụng sang kết quả đầu ra của việc sử dụng hệ thống, cụ thể là thành quả công việc. Cách tiếp cận này đã góp phần làm rõ chuỗi quan hệ từ nhận thức đến thái độ đến hành vi và khẳng định thành kết quả, qua đó bổ sung khung lý thuyết toàn diện hơn để đánh giá sự thành công của HTTT trong tổ chức.

Thứ ba, nghiên cứu làm nổi bật vai trò của sự tỉnh thức CNTT như một biến tác động quan trọng đến ý định duy trì sử dụng CNTT. Việc đưa yếu tố sự tỉnh thức vào mô hình ECM–ISSM giúp làm nổi bật thêm nền tảng lý thuyết về hành vi người dùng HTTT, đặc biệt trong các hệ thống đòi hỏi độ chính xác, bảo mật và độ tin cậy cao như HTTTKT.

5.2. Hàm ý quản trị

Kết quả nghiên cứu cũng gợi ý rằng các nhà quản lý cần chuyển trọng tâm từ triển khai kỹ thuật sang quản lý trải nghiệm người dùng sau triển khai. Việc đảm bảo HTTTKT đáp ứng đúng kỳ vọng ban đầu và liên tục được cải tiến để phù hợp với nhu cầu công việc thực tế là yếu tố then chốt giúp duy trì nhận thức tích cực và ý định tiếp tục sử dụng của người dùng.

Do nhận thức tính hữu ích có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ý định duy trì sử dụng CNTT, các tổ chức cần tập trung vào việc liên kết rõ ràng giữa HTTTKT và hiệu quả công việc cá nhân. Điều này có thể được thực hiện thông qua đào tạo theo vị trí công việc, hướng dẫn sử dụng theo tình huống thực tế và truyền thông nội bộ nhấn mạnh lợi ích cụ thể mà hệ thống mang lại cho người dùng.

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho thấy sự tỉnh thức CNTT là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi duy trì sử dụng CNTT. Do đó, các nhà quản lý và nhà cung cấp phần mềm cần chú trọng đến độ ổn định, tính chính xác của dữ liệu, mức độ bảo mật và khả năng hỗ trợ kỹ thuật. Việc xây dựng niềm tin của người dùng đối với hệ thống sẽ góp phần gia tăng mức độ sử dụng bền vững trong dài hạn.

Ngoài ra, mối quan hệ giữa việc sử dụng HTTTKT và thành quả công việc hàm ý rằng các tổ chức nên đưa tiêu chí sử dụng hiệu quả HTTTKT vào đánh giá hiệu suất làm việc của cá nhân và bộ phận. Cách tiếp cận này không chỉ khuyến khích người dùng khai thác hệ thống tốt hơn mà còn giúp tổ chức đo lường rõ ràng hơn giá trị thực tiễn của các khoản đầu tư vào HTTT. Nghiên cứu cũng gợi ý rằng các tổ chức cần xây dựng chiến lược quản lý HTTTKT theo hướng dài hạn, trong đó việc duy trì sự hài lòng, niềm tin và ý định sử dụng của người dùng được xem là mục tiêu cốt lõi. Điều này giúp hạn chế tình trạng sử dụng hình thức, bỏ phí hệ thống sau triển khai và góp phần tối ưu hóa hiệu quả đầu tư CNTT trong tổ chức.

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu đã thành công trong việc đạt được các mục tiêu là tìm hiểu và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định duy trì sử dụng CNTT, tuy nhiên cũng còn tồn tại một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, quá trình khảo sát về HTTTKT tại khu vực công cũng gặp nhiều khó khăn nên tính tổng quát của nghiên cứu có thể chưa được như kỳ vọng. Vì vậy, các nghiên cứu tương lai sẽ thực hiện trên phạm vi và thời gian khảo sát nhiều hơn để có thể thấy được tổng thể về ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định duy trì sử dụng CNTT.

Thứ hai, mặc dù nghiên cứu có xem xét yếu tố thời gian thông qua hành vi duy trì sử dụng, thiết kế nghiên cứu vẫn mang tính cắt ngang tại từng thời điểm khảo sát, chưa phản ánh đầy đủ sự thay đổi động của niềm tin, nhận thức và hành vi sử dụng CNTT của người dùng trong suốt vòng đời sử dụng hệ thống.

Thứ ba, nghiên cứu này chưa xem xét các yếu tố có thể kiểm soát ý định duy trì sử dụng CNTT. Do đó nghiên cứu duy trì sẽ có thể nghiên cứu thêm vai trò kiểm soát của các yếu tố như tuổi, giới tính và trình độ đến ý định duy trì sử dụng CNTT tại các đơn vị này.

Lương Đức Thuận - Trương Thị Thu Hương

URL: https://tapchiketoankiemtoan.vn/su-dung-cac-dang-mo-hinh-cong-nghe-thong-tin-trong-ke-toan-d6240.html

© tapchiketoankiemtoan.vn

Hotline: 098 1696069

  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới

Thông tin hiệp hội

Cơ quan chủ quản

Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin tạp chí

Giấy phép hoạt động báo điện tử: QĐ số: 540/GP-BTTTT của Bộ thông Tin và Truyền Thông cấp ngày 23/08/2021; Số: 05/TTKHCN-ISSN của Cục thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cấp ngày 14/02/2023

Tổng Biên Tập: ThS.Tạ Đức Toàn

Thư ký tòa soạn: Nguyễn Huyền Thương

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin liên hệ

Email nhận bài Tạp chí in: banbientapvaa@gmail.com

Liên hệ truyền thông: truyenthongaav@gmail.com

Hotline: 098 169 6069
Cấm sao chép dưới mọi hình thức trên TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN, nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.
Coppyright © 2022 TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN. All rights reserved.