• Thứ Hai, ngày 15 tháng 06 năm 2026, 10:43:18
  • Thông tin tòa soạn
  • Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Nhận, phản biện bài trực tuyến
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
    • Tin thời sự
    • Tin hiệp hội
  • Nghiên cứu trao đổi
    • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
    • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
    • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
    • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
    • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
    • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
    • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
    • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
    • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
    • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
    • Tạp Chí Số 12 / Volume 12
  • Diễn đàn kế toán
    • Nhịp sống doanh nghiệp
    • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
    • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
    • Thuế
    • Tài chính
    • Ngân hàng
    • Chứng khoán
    • Bất động sản
    • Kế toán
    • Kiểm toán
  • Tạp Chí
    • Tạp chí 2024
    • Tạp chí 2023
    • Tạp chí 2022
    • Quản lý tạp chí
    • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
    • Hội đồng biên tập
    • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
    • Cơ cấu tổ chức
    • Ban biên tập
    • Quy định bài viết
    • Quy trình phản biện
    • Thể lệ đăng bài
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
    • Tin tức
    • Thảo luận chuyên sâu
    • Tài chính xanh và Doanh nghiệp

Tin hiệp hội

Tin trong nước

  • Tin thời sự
  • Tin hiệp hội

Nghiên cứu trao đổi

  • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
  • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
  • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
  • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
  • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
  • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
  • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
  • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
  • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
  • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
  • Tạp Chí Số 12 / Volume 12

Diễn đàn kế toán

  • Nhịp sống doanh nghiệp
  • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
  • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp

Nghiệp vụ

Tin Quốc tế

Chính sách mới

  • Thuế
  • Tài chính
  • Ngân hàng
  • Chứng khoán
  • Bất động sản
  • Kế toán
  • Kiểm toán

Tạp Chí

  • Tạp chí 2024
  • Tạp chí 2023
  • Tạp chí 2022
  • Quản lý tạp chí
  • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
  • Hội đồng biên tập
  • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
  • Cơ cấu tổ chức
  • Ban biên tập
  • Quy định bài viết
  • Quy trình phản biện
  • Thể lệ đăng bài

Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE

  • Tin tức
  • Thảo luận chuyên sâu
  • Tài chính xanh và Doanh nghiệp
Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
  • Nhận,phản biện bài trực tuyến

Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực tài chính của các công ty kinh doanh dịch vụ Logistics niêm yết tại Việt Nam

09:32 |  15/06/2026

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các công ty kinh doanh dịch vụ Logistics niêm yết tại Việt Nam. Thông qua phương pháp khảo sát với 154 phản hồi từ các nhà quản lý và chuyên gia, kết hợp với các kiểm định thống kê chuyên sâu (Cronbach’s Alpha và EFA), nghiên cứu đã xác lập mô hình gồm 27 biến quan sát thuộc 6 nhóm nhân tố chính: (1) Môi trường vĩ mô, (2) Chính sách nhà nước, (3) Sự phát triển của ngành, (4) Chất lượng nguồn nhân

1. Giới thiệu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, ngành Logistics đóng vai trò là "mạch máu" của nền kinh tế, quyết định đến hiệu quả của chuỗi cung ứng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại Việt Nam, sự bùng nổ của thương mại điện tử và các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở ra cơ hội vàng nhưng cũng đặt ra những áp lực lớn về vốn và hạ tầng đối với các DN trong ngành.

Năng lực tài chính của doanh nghiệp phản ánh khả năng gây dựng và quản lý nguồn lực của doanh nghiệp thông qua chính sách huy động nguồn tài chính, chính sách sử dụng các nguồn tài chính và khả năng đảm bảo an toàn nguồn tài chính của doanh nghiệp hướng tới việc duy trì và phát triển doanh nghiệp trong dài hạn.

Năng lực tài chính không chỉ là điều kiện cần để DN duy trì hoạt động mà còn là yếu tố đủ để thực hiện các chiến lược mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ và đối phó với các cú sốc thị trường (như đại dịch Covid-19 hay biến động địa chính trị). Tuy nhiên, thực tế cho thấy các DN Logistics niêm yết tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức: chi phí vận hành cao, hạ tầng chưa đồng bộ, và năng lực quản trị tài chính còn hạn chế.

Trong phạm vi nghiên cứu này, năng lực tài chính được sử dụng như một biến tổng hợp mang tính định tính, phản ánh đánh giá chung về khả năng tài chính của doanh nghiệp, qua đó phục vụ cho việc phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu liên quan đến khả năng duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp.

Bài báo này được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: Những nhân tố nào thực sự ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các DN Logistics niêm yết? Qua việc phân tích từ các yếu tố vĩ mô đến đặc trưng nội tại, nghiên cứu mong muốn cung cấp một cái nhìn toàn diện và các hàm ý chính sách thiết thực nhằm nâng cao sức mạnh tài chính cho ngành Logistics Việt Nam.

2. Tổng quan nghiên cứu

Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, năng lực tài chính của DN không chỉ đơn thuần là các chỉ số định lượng trên báo cáo kế toán mà là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa khả năng quản trị nội tại và các biến số môi trường kinh doanh. Để thiết lập một khung lý thuyết vững chắc cho nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các nhân tố ảnh hưởng theo ba trụ cột chính mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN Logistics: khả năng huy động vốn, hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực quản trị rủi ro tài chính.

Trong các nghiên cứu về nguồn lực đầu vào, khả năng huy động vốn được coi là tiền đề tiên quyết hình thành nên sức mạnh tài chính. Ở cấp độ vĩ mô, Kim (1988) đã đặt nền móng khi khẳng định các quyết định về chính sách tài khóa và tiền tệ của Chính phủ có khả năng điều tiết trực tiếp dòng vốn chảy vào khu vực DN. Đi sâu vào cơ chế thị trường, các nghiên cứu hiện đại của Oluwasegun (2021) và Hao-Wen Chang cùng cộng sự (2023) đã chứng minh rằng sự phát triển của thị trường vốn, đặc biệt là tính hiệu quả của công cụ tài chính như trái phiếu và cổ phiếu, quyết định mức độ đa dạng hóa cấu trúc tài chính.

Khi nguồn lực tài chính đã được hình thành, hiệu quả khai thác và sử dụng vốn lại trở thành nhân tố quyết định sự bền vững của DN, nhất là trong lĩnh vực thâm dụng tài sản như Logistics. Môi trường kinh tế vĩ mô, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng GDP, được Maciej và cộng sự (2019) xác định là biến số ngoại vi quan trọng nhất thúc đẩy hiệu suất sử dụng vốn. Ở góc độ nội tại, các đặc trưng như quy mô tổng tài sản và bề dày kinh nghiệm hoạt động đóng vai trò là bệ phóng giúp DN tối ưu hóa chi phí cố định và gia tăng sức mạnh thương hiệu (Hakan và cộng sự 2022). Bên cạnh đó, các yếu tố về hàm lượng công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực chuyên ngành cũng được Mindy Owen (2006) nhấn mạnh như những tài sản vô hình nhưng có khả năng khuếch đại hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính một cách đáng kể.

Cuối cùng, một khía cạnh không thể tách rời khi xem xét năng lực tài chính chính là bản lĩnh quản trị rủi ro trước các biến số bất lợi của thị trường toàn cầu. Các nghiên cứu của Wilfred & Łukasz (2020) và John McMurtry (1997) chỉ ra rằng sự bất ổn của nền kinh tế trong và ngoài nước luôn tiềm ẩn những cú sốc có thể làm xói mòn dòng tiền của DN Logistics. Đặc biệt, trong những giai đoạn thị trường biến động mạnh, kinh nghiệm thực chiến và khả năng dự báo của đội ngũ lãnh đạo (Tsung-Chih và cộng sự, 2010) mới là yếu tố sau cùng quyết định khả năng bảo toàn nguồn vốn.

Từ các hướng tiếp cận trên có thể thấy rằng năng lực tài chính của doanh nghiệp không phải là kết quả của một yếu tố đơn lẻ mà được hình thành từ sự ảnh hưởng đồng thời của nhiều điều kiện kinh tế và quản trị. Trong đó, các yếu tố môi trường vĩ mô và chính sách nhà nước tạo ra khuôn khổ thể chế và điều kiện thị trường cho hoạt động huy động và phân bổ vốn của doanh nghiệp; trong khi đó các yếu tố nội tại như đặc trưng công ty, năng lực quản trị và khả năng kiểm soát rủi ro tài chính quyết định hiệu quả khai thác và bảo toàn nguồn lực tài chính. Do vậy, để đánh giá một cách toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của doanh nghiệp logistics, nghiên cứu này lựa chọn tiếp cận thông qua việc phân tích các nhóm nhân tố phản ánh cả điều kiện bên ngoài và năng lực nội tại của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống biến quan sát và mô hình thực nghiệm trong phần tiếp theo.

Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã thiết lập nền tảng lý thuyết về năng lực tài chính, song vẫn tồn tại khoảng trống đáng kể khi chưa đánh giá đúng mức các yếu tố đặc thù của ngành Logistics Việt Nam như hạ tầng giao thông, quy hoạch kỹ thuật và năng lực tự chủ công nghệ. Bên cạnh đó, việc thiếu vắng các phân tích về sự khác biệt trong khả năng tiếp cận vốn giữa các loại hình sở hữu DN (nhà nước và tư nhân) trong bối cảnh chuyển đổi số đã tạo ra sự đứt gãy giữa lý thuyết và thực tiễn. Nghiên cứu này hướng tới lấp đầy những thiếu hụt đó bằng cách xây dựng mô hình thực nghiệm chuyên biệt, kết hợp các chỉ số tài chính truyền thống với các biến số đặc thù ngành nhằm cung cấp giải pháp tối ưu hóa năng lực tài chính cho các DN Logistics niêm yết hiện nay.

3. Dữ liệu và phương pháp

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu câu hỏi hướng đến hai nhóm đối tượng: cán bộ quản lý cấp trung, cấp cao tại các DN logistics niêm yết và các chuyên gia tài chính từ các viện nghiên cứu, trường đại học. Nội dung khảo sát đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực tài chính theo thang đo Likert 5 bậc, từ mức 1 (ít ảnh hưởng) đến mức 5 (ảnh hưởng cực kỳ lớn).

Trong số 200 phiếu phát ra, tác giả thu về 154 phản hồi hợp lệ (tỷ lệ 77%), bao gồm 104 nhà quản lý và 50 chuyên gia tài chính. Mẫu khảo sát bao gồm hai nhóm đối tượng chính: 104 nhà quản lý đang công tác tại các doanh nghiệp logistics niêm yết và 50 chuyên gia tài chính đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức tư vấn tài chính. Các phản hồi từ nhóm nhà quản lý được thu thập từ nhiều doanh nghiệp logistics niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó mỗi doanh nghiệp có từ 3–6 người tham gia khảo sát, chủ yếu giữ các vị trí quản lý cấp trung và cấp cao như trưởng phòng tài chính – kế toán, quản lý vận hành, quản lý chiến lược hoặc thành viên ban điều hành. Việc phân bổ số lượng người trả lời giữa các doanh nghiệp nhằm đảm bảo phản ánh được góc nhìn đa chiều về hoạt động tài chính trong ngành logistics. Tiêu chí lựa chọn người tham gia khảo sát được xác định dựa trên mức độ am hiểu về hoạt động tài chính và quản trị doanh nghiệp. Đối với nhóm nhà quản lý, người trả lời cần có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực logistics và tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các quyết định liên quan đến tài chính, đầu tư hoặc quản trị rủi ro của doanh nghiệp. Đối với nhóm chuyên gia tài chính, đối tượng khảo sát bao gồm các nhà nghiên cứu, giảng viên hoặc chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm nghiên cứu và phân tích tài chính doanh nghiệp. Cách lựa chọn này nhằm đảm bảo rằng các đánh giá trong bảng hỏi phản ánh đúng thực tiễn hoạt động tài chính của các doanh nghiệp logistics niêm yết tại Việt Nam.

Với 28 biến quan sát, quy mô 154 mẫu đạt tỷ lệ 5,5:1, đáp ứng tốt tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2010) về ngưỡng tối thiểu 5:1 cho phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy. Sau khi thu thập, toàn bộ dữ liệu được tiền xử lý qua Excel và chuyển sang phần mềm SPSS để thực hiện các kiểm định thống kê chuyên sâu. Quy trình này đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy và giá trị khoa học cho các kết luận về nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của DN logistics Việt Nam.

4. Kết quả nghiên cứu

Trong lần kiểm định thứ nhất với đầy đủ 28 biến quan sát ban đầu, kết quả đánh giá độ tin cậy qua hệ số Cronbach’s Alpha cho thấy tính nhất quán nội bộ rất cao. Tất cả 6 nhóm nhân tố dự kiến đều có hệ số đạt trên 0,6 và hệ số toàn mẫu lên tới 0,819. Khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA, các chỉ số kỹ thuật đều thỏa mãn điều kiện cần thiết với hệ số KMO đạt 0,801 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê tại mức Sig bằng 0,000. Tại mức Eigenvalue lớn hơn 1, mô hình đã trích được 6 nhân tố với tổng phương sai trích đạt 83,724%. Tuy nhiên, kết quả từ ma trận xoay cho thấy biến DT1 (về loại hình sở hữu nhà nước) gặp hiện tượng tải kép khi cùng xuất hiện ở nhóm nhân tố số 2 và số 4. Với chênh lệch hệ số tải chỉ đạt 0,104, nhỏ hơn ngưỡng tiêu chuẩn 0,2 theo lý thuyết của Matt C Howard (2015), biến này được xác định là gây nhiễu và cần loại bỏ để đảm bảo tính đơn hướng của thang đo.

Bước sang lần kiểm định thứ hai với 27 biến quan sát còn lại, các chỉ số thống kê tiếp tục duy trì ở mức lý tưởng và cho thấy sự cải thiện về chất lượng mô hình. Hệ số Cronbach’s Alpha cho toàn mẫu đạt 0,815, trong đó các nhóm như Đặc trưng công ty đạt 0,820 và Năng lực quản trị đạt 0,763, thể hiện độ tin cậy từ tốt đến rất tốt. Kết quả phân tích EFA lần hai với hệ số KMO đạt 0,798 và mức ý nghĩa Sig bằng 0,000, tiếp tục khẳng định tập dữ liệu hoàn toàn phù hợp. Đặc biệt, tổng phương sai trích sau khi loại biến nhiễu đã tăng lên mức 84,4%, cho thấy 6 nhân tố được giữ lại có khả năng giải thích hiệu quả hơn sự biến thiên của dữ liệu gốc. Ma trận xoay nhân tố cuối cùng ghi nhận các biến quan sát tập trung rõ rệt vào từng nhóm tương ứng mà không còn hiện tượng tải kép phức tạp.

Kết quả cuối cùng đã xác lập 6 nhóm nhân tố có ảnh hưởng đến năng lực tài chính, bao gồm: Môi trường vĩ mô, Chính sách nhà nước, Sử dụng nợ, Năng lực quản trị, Đặc trưng công ty và Quản trị rủi ro. Hệ số được thể hiện trong ma trận ở Bảng 1.

Bảng 1. Ma trận xoay nhân tố (Rotated Component Matrix)

(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ phần mềm SPSS)

Kết quả khảo sát cho thấy, năng lực tài chính của các DN logistics chịu ảnh hưởng đan xen từ các yếu tố vĩ mô bên ngoài đến những đặc trưng nội tại của DN.

Trước hết, trong nhóm nhân tố môi trường, hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế được xem là nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động. Với đặc thù di chuyển liên tục, một hệ thống giao thông còn nhiều bất cập không chỉ làm gia tăng chi phí vận hành mà còn trực tiếp bào mòn biên lợi nhuận. Bên cạnh đó, dù tăng trưởng GDP và thương mại tự do mở ra cơ hội lớn, nhưng đây cũng là thách thức khi các DN nội địa phải đối mặt với sức ép cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn đa quốc gia vốn có quy trình tối ưu hơn.

Về phương diện chính sách, các quy định đặc thù và gói hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ đóng vai trò là điểm tựa vững chắc, đặc biệt trong những giai đoạn khủng hoảng như đại dịch Covid-19. Những ưu đãi về thuế, phí và trợ giá xăng dầu không chỉ là giải pháp tình thế mà còn là động lực để DN duy trì dòng tiền và tái cấu trúc năng lực tài chính.

Đáng chú ý, ở giai đoạn hiện tại, sự phát triển của ngành logistics Việt Nam vẫn đang dựa nhiều vào quy mô tài sản thay vì tối ưu hóa công nghệ. Các chuyên gia tin rằng việc gia tăng tài sản cố định và phương tiện vận tải vẫn là cách thức trực diện nhất để nâng cao năng lực phục vụ thị trường. Để vận hành khối tài sản đó hiệu quả, yếu tố con người không nằm ở số lượng nhân sự sẵn có mà tập trung ở tầm nhìn dài hạn thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu, giúp đội ngũ bắt kịp tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ logistics toàn cầu.

Đi sâu vào nội tại DN, chỉ số sinh lời được khẳng định là thước đo sức mạnh tài chính quan trọng nhất. Đây là minh chứng cho khả năng tự tài trợ và sức sinh lời bền vững trên nguồn vốn chủ sở hữu. Dù các DN xuất thân từ nhà nước có lợi thế về quy mô và uy tín lâu đời, nhưng các đơn vị tư nhân đang dần bứt phá nhờ sự linh hoạt và khả năng ứng dụng công nghệ để tối ưu hóa chi phí vận hành.

Cuối cùng, bản lĩnh trong quản trị rủi ro được coi là lá chắn cuối cùng bảo vệ năng lực tài chính. Thay vì chỉ phụ thuộc vào các khoản dự phòng hay bảo hiểm, kinh nghiệm thực chiến của đội ngũ lãnh đạo trong việc dự báo và ứng phó biến động thị trường mới là yếu tố quyết định để bảo toàn nguồn vốn và đảm bảo sự phát triển ổn định trong một môi trường kinh doanh đầy biến số.

5. Kết luận

Nghiên cứu đã xác lập cơ sở khoa học và kiểm chứng thực nghiệm thành công các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của DN Logistics niêm yết tại Việt Nam. Qua quy trình kiểm định khắt khe, mô hình cuối cùng gồm 27 biến quan sát thuộc 6 nhóm nhân tố đã đạt độ tin cậy cao, giải thích được 84,4% sự biến thiên của dữ liệu.

Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng, hạ tầng kỹ thuật và chính sách đặc thù là những tác nhân ngoại vi trọng yếu điều tiết chi phí vận hành và dòng tiền của DN. Ở phương diện nội tại, chỉ số sinh lời khẳng định vị thế thước đo sức mạnh tài chính cốt lõi. Đồng thời, nghiên cứu ghi nhận xu hướng chuyển dịch động lực tăng trưởng từ việc mở rộng tài sản thuần túy sang chú trọng hàm lượng công nghệ và năng lực quản trị rủi ro của đội ngũ lãnh đạo.

Tóm lại, nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt lý luận mà còn là căn cứ thực tiễn quan trọng. Đây là cơ sở để các DN tái cấu trúc nguồn lực ưu tiên cho công nghệ và nhân sự chuyên sâu, đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện khung pháp lý, thúc đẩy sự phát triển bền vững cho ngành Logistics Việt Nam.

NCS.ThS. Hoàng Thuý Hằng

URL: https://tapchiketoankiemtoan.vn/cac-nhan-to-anh-huong-toi-nang-luc-tai-chinh-cua-cac-cong-ty-kinh-doanh-dich-vu-logistics-niem-yet-tai-viet-nam-d6385.html

© tapchiketoankiemtoan.vn

Hotline: 098 1696069

  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới

Thông tin hiệp hội

Cơ quan chủ quản

Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin tạp chí

Giấy phép hoạt động báo điện tử: QĐ số: 540/GP-BTTTT của Bộ thông Tin và Truyền Thông cấp ngày 23/08/2021; Số: 05/TTKHCN-ISSN của Cục thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cấp ngày 14/02/2023

Tổng Biên Tập: ThS.Tạ Đức Toàn

Thư ký tòa soạn: Nguyễn Huyền Thương

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin liên hệ

Email nhận bài Tạp chí in: banbientapvaa@gmail.com

Liên hệ truyền thông: truyenthongaav@gmail.com

Hotline: 098 169 6069
Cấm sao chép dưới mọi hình thức trên TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN, nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.
Coppyright © 2022 TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN. All rights reserved. CMS by Explus