Hiệp hội Kế toán vả Kiểm toán Việt Nam (VAA) mới đây gửi công văn 76/CV-HKT ngày 2/4/2026 tới Cục Quản lý, Giám sát Kế toán, Kiểm toán - Bộ Tài chính về việc tham gia ý kiến về Đề án "Xây dựng và áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam".
Trả lời Công văn số 404/QLKT-DN ngày 23/3/2026, sau khi nghiên cứu
Dự thảo Đề án xây dựng và áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam
(VFRS) (Lần 2), VAA có nhiều ý kiến góp ý nhằm hoàn thiện Đề án "Xây dựng và áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam". Tạp chí Kế toán và Kiểm toán đăng tải các ý kiến của VAA như sau:
1.Về sự cần thiết xây dựng Để án
Hiệp hội tiếp tục thể hiện nhất trí với sự cần thiết nghiên cứu, xây dựng và áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam (VFRS) nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, báo cáo tài chính, nâng cao tính minh bạch, khả năng so sánh và chất lượng của thông tin tài chính, qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản trị doanh nghiệp, yêu cầu của nhà đầu tư và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc xây dựng Đề án là phù hợp với định hướng đã được nêu tại Quyết định số 345/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về phê duyệt Đề án áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam. Theo tinh thần đó, cùng với việc nghiên cứu lộ trình áp dụng IFRS đối với một số đối tượng phù hợp, việc xây dựng hệ thống VFRS để thay thế, cập nhật hệ thống chuẩn mực kế toán hiện hành là cần thiết, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Hiệp hội cơ bản thống nhất với định hướng xây dựng VFRS trên cơ sở tham khảo, tiếp cận các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế và có điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của môi trường pháp lý, trình độ phát triển và khả năng tổ chức thực hiện tại Việt Nam. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm mục tiêu hội nhập, vừa góp phần nâng cao tính khả thi trong quá trình triển khai áp dụng.
Thực tiễn cho thấy hệ thống chuẩn mực kế toán hiện hành đã được ban hành từ nhiều năm trước, trong khi môi trường kinh doanh, thị trường vốn, các giao dịch kinh tế và yêu cầu về công khai, minh bạch thông tin tài chính đã có nhiều thay đổi. Vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành hệ thống VFRS là cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, đồng thời tạo cơ sở cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính theo hướng hiện đại, đồng bộ và tiệm cận thông lệ quốc tế.
Tuy nhiên, để Đề án có thể triển khai hiệu quả trong thực tiễn, đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện thêm một số nội dung về định hướng xây dựng chuẩn mực, lộ trình thực hiện, cơ chế tổ chức triển khai và các điều kiện bảo đảm áp dụng, nhằm bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

2. Một số ý kiến cụ thể để hoàn thiện Đề án
2.1. Về vị trí của VFRS và phạm vi áp dụng trong việc lập, trình bày báo cáo tài chính
- Đề nghị Đề án làm rõ hơn vị trí của VFRS là khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tài chính vì mục đích chung đối với các đối tượng thuộc phạm vi áp dụng.
- Đồng thời, cần quy định rõ mối quan hệ giữa các nhóm đối tượng sau: doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng IFRS theo Quyết định số 345/QĐ-BTC hoặc văn bản sửa đổi, bổ sung có liên quan; doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng VFRS; và các đối tượng tiếp tục áp dụng chế độ kế toán riêng theo quy định của pháp luật. Trong đó, cần xác định rõ các doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng VFRS để lập và trình bày báo cáo tài chính, bao gồm cả trường hợp doanh nghiệp thuộc đổi tượng áp dụng chế độ kế toán khác nhưng được lựa chọn áp dụng VFRS theo quy định của pháp luật.
- Đồng thời, cần làm rõ nguyên tắc xử lý đối với các trường hợp được áp dụng hoặc được lựa chọn áp dụng chế độ kế toán riêng, chế độ kế toán ở mức cao hơn để bảo đảm thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện.
- Nội dung này cần được thể hiện minh bạch để tránh chồng chéo, tránh cách hiểu không thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp xác định đúng khuôn khổ báo cáo tài chính áp dụng đối với mình.
- Bên cạnh đó, đối với các trường hợp chuyển đổi giữa các khuôn khổ áp dụng, như từ chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành sang VFRS hoặc từ VFRS sang IFRS theo nhu cầu và điều kiện áp dụng, đề nghị làm rõ lộ trình, nguyên tắc và cơ chế chuyển tiếp, đồng thời xác định trách nhiệm hướng dẫn thực hiện để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình triển khai.
2.2. Về việc quy định rõ quan hệ giữa VFRS với pháp luật thuế và cơ chế tài chính chuyên ngành
Đây là nội dung quan trọng và cần được thể hiện rõ hơn trong Đề án. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy báo cáo tài chính của doanh nghiệp hiện chịu tác động đồng thời của nhiều nhóm quy định, bao gồm chuẩn mực kế toán, pháp luật thuế, cơ chế tài chính và một số quy định chuyên ngành. Tuy nhiên, ranh giới điều chỉnh giữa các nhóm quy định này chưa thật sự rõ, dẫn đến trong một số trường hợp, yêu cầu của pháp luật thuế hoặc cơ chế tài chính chuyên ngành ảnh hưởng trực tiếp đến số liệu kế toán và thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. Vì vậy, đề nghị Đề án làm rõ hơn một số nguyên tắc sau:
- VFRS là cơ sở để ghi nhận, đo lường, phân loại, trình bày và thuyết minh báo cáo tài chính vì mục đích chung.
- Các yêu cầu riêng của pháp thuế hoặc cơ chế tài chính chuyên ngành không nên làm thay đổi bản chất thông tin tài chính được xác định theo VFRS.
- Trường hợp có khác biệt giữa VFRS với pháp luật thuế hoặc cơ chế tài chính chuyên ngành, cần có nguyên tắc xác định, phân loại và hướng dẫn xử lý phù hợp để bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong áp dụng. Cách tiếp cận này sẽ góp phần làm rõ vai trò của VFRS với tư cách là khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tài chính, đồng thời hỗ trợ tốt hơn cho công tác quản lý, kiểm tra, đối chiếu và sử dụng thông tin của các cơ quan có liên quan. Đồng thời, đề nghị rà soát, điều chỉnh một số cách diễn đạt trong phân lợi ích và đánh giá tác động của Đề án để bảo đảm phản ánh đúng bản chất của VFRS là khuôn khổ nâng cao chất lượng, tính trung thực, hợp lý và tính hữu ích của thông tin tài chính; tránh thể hiện theo hướng đồng nhất giữa cơ sở kế toán theo VFRS với cơ sở xác định nghĩa vụ thuế hoặc căn cứ thu ngân sách. Lợi ích của VFRS đối với công tác quản lý thuế, quản lý tài chính và ngân sách là rất quan trọng, nhưng chủ yếu được phát huy thông qua việc nâng cao chất lượng, tính minh bạch và khả năng so sánh của thông tin tài chính.
2.3. Về nguyên tắc xây dựng và xử lý khác biệt giữa VFRS với IFRS, Hiệp hội cơ bản đồng tình với định hướng tiếp thu tối đa IFRS và có điều chỉnh phù hợp với điều kiện Việt Nam. Tuy nhiên, để bảo đảm tính nhất quán với định hướng chung và thuận lợi cho công tác soạn thảo, đề nghị Đề án làm rõ hơn nguyên tắc xử lý khác biệt giữa VFRS với IFRS theo hướng sau:
a) IFRS nên được sử dụng làm cơ sở tham chiếu chủ đạo đối với các nội dung về ghi nhận, đo lường, phân loại, trình bày và thuyết minh, trừ trường hợp có căn cứ rõ ràng để điều chỉnh.
b) Đồng thời, đề nghị làm rõ hơn nguyên tắc đơn giản hóa yêu cầu thuyết minh trong VFRS so với IFRS. Việc đơn giản hóa này chỉ nên được thực hiện có chọn lọc, trên cở sở tiêu chí rõ ràng, minh bạch và phù hợp với điều kiện áp dụng tại Việt Nam, nhưng không làm suy giảm thông tin trọng yếu, không ảnh hưởng đáng kể đến tính minh bạch, khả năng so sánh và tính hữu ích của báo cáo tài chính đối với nhà đầu tư và các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính.
c) Việc điều chỉnh khác với IFRS có thể xem xét trên cơ sở các tiêu chí như sau:
- Có xung đột với quy định pháp luật hiện hành có hiệu lực pháp lý cao hơn;
- Thị trường, dữ liệu, điều kiện đo lường hoặc hạ tầng thực thi tại Việt Nam chưa đủ để áp dụng đầy đủ ngay theo IFRS;
- Cần có lộ trình chuyển tiếp đối với một số nội dung kỹ thuật phức tạp, nhạy cảm hoặc có tác động lớn.
d) Đối với các khác biệt trọng yếu so với IFRS, cần thống nhất về lý do điều chỉnh, phạm vi áp dụng, tác động dự kiến và định hướng rà soát lại trong tương lai để từng bước thu hẹp khoảng cách khi điều kiện cho phép.
d) Đề nghị xem xét việc nghiên cứu xây dựng tài liệu định hướng hoặc tài liệu giải thích về chuyển đổi từ VAS và chế độ kế toán hiện hành sang VFRS để hỗ trợ người áp dụng, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp dịch vụ và cơ quan quản lý trong quá trình triển khai.
2.4. Về tổ chức soạn thảo và tính độc lập của Hội đồng tư vấn chuyên môn
Hiệp hội ghi nhận dự thảo Đề án đã tiếp thu theo hướng Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định thành lập Tổ soạn thảo VFRS và Hội đồng tư vấn chuyên môn. Đây là bước hoàn thiện phù hợp hơn so với dự thảo trước. Tuy nhiên, để bảo đảm tính chặt chẽ và khả thi trong tổ chức thực hiện, đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ thêm một số nội dung sau:
a) Cần quy định rõ hơn cơ chế hoạt động, trách nhiệm và mối quan hệ công tác giữa bộ phận thường trực, Tổ soạn thảo, các nhóm soạn thảo chuẩn mực và Hội đồng tư vấn chuyên môn, bảo đảm phân định rõ nhiệm vụ soạn thảo với phản biện, cho ý kiến chuyên môn.
b) Đối với cùng một đợt chuẩn mực hoặc cùng một chuẩn mực cụ thể, cần hạn chế tối đa việc người trực tiếp chủ trì soạn thảo đồng thời tham gia Hội đồng tư vấn chuyên môn để phản biện, cho ý kiến đối với chính dự thảo đó, nhằm bảo đảm tính khách quan trong quá trình xây dựng chuẩn mực.
c) Các ý kiến phản biện, góp ý chuyên môn cần được ghi nhận bằng văn bản; đồng thời, cần có cơ chế tiếp thu, giải trình rõ ràng đổi với từng nhóm ý kiến, nhất là đối với những nội dung còn có ý kiến khác nhau giữa Tổ soạn thảo và Hội đồng tư vấn.
d) Cần làm rõ hơn phạm vi nhiệm vụ của Hội đồng tư vấn chuyên môn, bao gồm việc Hội đồng chỉ tham gia trong giai đoạn nghiên cứu, soạn thảo chuẩn mực hay còn tiếp tục tham gia trong giai đoạn chuẩn bị áp dụng, thử nghiệm, tổng kết và cập nhật VFRS sau này.
e) Bên cạnh đó, đề nghị Đề án nghiên cứu xác định định hướng về cơ chế cập nhật VFRS trong dài hạn sau khi Đê án hoàn thành. Theo đó, cần có đầu mối chuyên môn ôn định, thường trực để thực hiện việc rà soát, cập nhật, giải thích trong qua trinh áp dụng và từng bước thu hẹp khoảng cách với IFRS phù hợp với điêu kiện thực tiễn của Việt Nam.
2.5. Về bố trí kinh phí và cơ chế tổ chức thực hiện
Hiệp hội thống nhất với sự cần thiết phải có cơ chế kinh phí đủ mạnh và đủ linh hoạt để huy động chuyên gia có trình độ chuyên môn sâu tham gia xây dựng hệ thống VFRS. Tuy nhiên, bên cạnh Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị, đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ thêm một số nội dung sau:
- Căn cứ pháp lý cụ thể đối với từng nguồn kinh phí dự kiến sử dụng;
- Cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng, ký hợp đồng, thanh toán và quyết toán;
- Trường hợp sử dụng nguồn hỗ trợ, tài trợ thì cần xác định rõ phạm vi, nguyên tắc tiếp nhận, quản lý và sử dụng, bảo đảm công khai, minh bạch và không ảnh hưởng đến tính độc lập chuyên môn của chuẩn mực;
- Trách nhiệm phối hợp giữa các đơn vị thuộc Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan trong việc triển khai các thủ tục tài chính, pháp lý và chuyên môn. Đây là nội dung dễ phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện nếu không được quy định rõ ngay từ đầu.
2.6. Về lộ trình nghiên cứu, xây dựng, công bố và áp dụng VFRS Hiệp hội cơ bản thống nhất với định hướng nghiên cứu, xây dựng và công bố hệ thông VFRS trong giai đoạn 2026-2029. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện, đề nghị tiếp tục làm rõ hơn cơ sở phân nhóm và tiêu chí ưu tiên soạn thảo chuẩn mực theo từng đợt.
Việc phân nhóm chuẩn mực không nên chỉ căn cứ vào số lượng chuẩn mực hiện hành của Việt Nam hoặc mức độ khác biệt về hình thức so với VAS, mà cần được xem xét trên cơ sở 3 nhóm tiêu chí chủ yếu.
Thứ nhất, là nhóm tiêu chí về tính chất kỹ thuật và mức độ liên thông của chuẩn mực, bao gồm mức độ phức tạp về kỹ thuật của từng chuẩn mực và mức độ phụ thuộc, liên thông giữa các chuẩn mực trong toàn hệ thống.
Thứ hai, là nhóm tiêu chí về mức độ tác động, bao gồm mức độ ảnh hưởng của chuẩn mực đối với doanh nghiệp, thị trường và các chủ thể có liên quan.
Thứ ba, là nhóm tiêu chí về điều kiện thực hiện và tính đặc thù trong áp dụng, bao gồm mức độ sẵn sàng của hệ thống pháp luật, hạ tầng dữ liệu, công nghệ thông tin, nguồn nhân lực, cũng như tính đặc thù theo ngành, lĩnh vực, nhất là đối với các nội dung như công cụ tài chính, hợp đồng bảo hiểm, suy giảm giá trị tài sản, hợp đồng thuê, nông nghiệp và các vấn đề chuyên môn có độ phức tạp cao.
Trên cơ sở các tiêu chí nêu trên, có thể ưu tiên nghiên cứu, soạn thảo và công bố trước đối với các chuẩn mực có nội dung tương đối ổn định, ít phức tạp, ít khác biệt so với khuôn khổ hiện hành và có mức độ sẵn sàng cao, nhưng vẫn cần bảo đảm tính liên thông và đồng bộ của toàn bộ hệ thông VFRS.
Đồng thời, đề nghị rà soát để bảo đảm tính thống nhất trong toàn bộ Đề án về số lượng chuẩn mực dự kiến công bố. Hiện nay, có chỗ thể hiện theo hướng "khoảng 40-44 chuẩn mực", trong khi có chỗ xác định cụ thể là "44 chuẩn mực". Nội dung này cần được thể hiện nhất quán hoặc cần có giải thích rõ để tránh cách hiểu khác nhau trong quá trình tổ chức thực hiện.
Ngoài ra, đề nghị tiếp tục rà soát cách sử dụng các thuật ngữ như "công bố", "ban hành", "áp dụng", cùng như làm rõ mối quan hệ giữa việc công bố chuẩn mực theo từng đợt bằng quyết định và việc ban hành thông tư quy định hiệu lực áp dụng, nhằm bảo đảm tính logic về mặt pháp lý và thuận lợi cho việc theo dõi, triển khai sau này.
2.7. Về giai đoạn chuẩn bị, thử nghiệm và hiệu lực dự kiến của VFRS, Hiệp hội đồng tình với việc cần có thời gian để doanh nghiệp nghiên cứu, chuẩn bị nguồn lực trước khi áp dụng chính thức VFRS. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện, đề nghị làm rõ hơn một số nội dung sau:
a) Cần xác định rõ giai đoạn 1-2 năm sau khi công bố toàn bộ hệ thống VFRS là giai đoạn nghiên cứu, chuẩn bị trên cơ sở tự nguyện hay bao gồm cả việc áp dụng thử nghiệm có giám sát; trường hợp có áp dụng thử nghiệm thì cần quy định rõ tiêu chí lựa chọn đơn vị tham gia.
b) Cần làm rõ đối tượng, loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động và phương thức tổ chức thử nghiệm. Đồng thời, cần xác định cụ thể việc đơn vị thử nghiệm có phải lập song song báo cáo theo chế độ hiện hành và theo VFRS hay không; nếu có thì phạm vi thực hiện song song đến đâu; cơ quan nào chịu trách nhiệm giám sát, tổng hợp và đánh giá kết quả.
c) Cần bổ sung các tiêu chí đánh giá kết quả thử nghiệm và điều kiện chuyên sang giai đoạn áp dụng chính thức, nhằm bảo đảm việc triển khai được thực hiện trên cơ sở có đánh giá đây đủ vê mức độ săn sàng, tính khả thi và tác động thực tế.
d) Trong giai đoạn từ năm 2026 đến thời điểm áp dụng chính thức, IFRS quốc tế có thể tiếp tục được sửa đổi, bổ sung. Vì vậy, đề nghị Đề án nêu rõ định hướng xử lý đối với các thay đổi phát sinh của IFRS trong quá trình soạn thảo, công bố và thử nghiệm VFRS, bảo đảm hệ thống VFRS khi đưa vào áp dụng không bị chậm quá so với chuẩn mực quốc tế.
2.8. Về điều kiện triển khai sau khi ban hành chuẩn mực
Đề nghị Đề án nhấn mạnh hơn các điều kiện bảo đảm triển khai sau khi ban hành chuẩn mực, không chỉ về kinh phí mà còn bao gồm các yếu tố hỗ trợ thực hiện trên thực tế. Cụ thế, cần quan tâm đồng bộ đến các nội dung sau:
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp dịch vụ;
- Tài liệu giải thích, tài liệu hướng dẫn chuyển đổi và các ví dụ minh họa phục vụ quá trình áp dụng;
- Việc chuẩn bị hạ tầng công nghệ thông tin, dữ liệu và hệ thống quản trị nội bộ của doanh nghiệp;
- Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan như cơ quan thuê, cơ quan chứng khoán, cơ quan bảo hiểm, ngân hàng, tổ chức kiểm toán, cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước và các đơn vị khác có liên quan;
- Cơ chế cập nhật định kỳ hệ thống VFRS sau khi được ban hành để bảo đảm tính phù hợp với thực tiễn và mức độ tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Việc xác định rõ các điều kiện triển khai nêu trên sẽ góp phân nâng cao tính khả thi của Đề án, hỗ trợ quá trình áp dụng thống nhất và hạn chế các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
2.9. Về rà soát kỹ thuật, tính thống nhất và văn phong của Đề án Ngoài các góp ý về nội dung, đề nghị tiếp tục rà soát kỹ về kỹ thuật trình bày, tính thống nhất và văn phong của Đề án. Trong đó, cần lưu ý một số nội dung sau:
- Rà soát, bảo đảm tính logic và thống nhất giữa mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể; mục tiêu cụ thể cần thể hiện rõ các kết quả đầu ra trực tiếp của Đề án, tránh lẫn với nguyên tắc xây dựng chuẩn mực và nội dung tổ chức thực hiện.
- Rà soát lại cách xác định và cách gọi tên các nhóm đối tượng áp dụng; đối với doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, cần diễn đạt phù hợp hơn, tránh gọi chung là nhóm "đặc thù" khi đây chủ yếu là các đối tượng áp dụng chế độ kế toán riêng theo quy định của pháp luật.
- Rà soát, thống nhất cách thể hiện về số lượng chuẩn mực dự kiến xây dựng, công bố; thời gian nghiên cứu, xây dựng, công bố và ban hành, bảo đảm không có chênh lệch giữa các phần của Đề án.
- Rà soát lại cách diễn đạt về thời gian chuẩn bị, nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng VFRS theo hướng phù hợp hơn với văn phong của Đề án, đồng thời bảo đảm thống nhất với lộ trình và các bước triển khai được nêu tại các phần khác.
- Rà soát, chuẩn hóa cách sử dụng thuật ngữ và trình tự pháp lý như thẩm định, phê duyệt, công bố, ban hành, ký ban hành và áp dụng, bảo đảm rõ thẩm quyền, đúng hình thức văn bản và thống nhất trong toàn bộ Đề án.
- Làm rõ hơn, ở mức cần thiết, nhiệm vụ, vai trò và mối quan hệ công tác giữa Tổ soạn thảo và Hội đồng tư vân chuyên môn, bảo đảm phù hợp với tính chất của Đề án và thống nhất với các quyết định tổ chức thực hiện sau này của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
- Rà soát lại cách diễn đạt về lộ trình nghiên cứu, xây dựng và áp dụng VFRS để bảo đảm phù hợp với văn phong của một Để án, tránh thể hiện theo cách quá thiên về báo cáo tiến độ hoặc mô tả điều hành.
- Tiếp tục rà soát cách diễn đạt về vai trò của VFRS đôi với quản lý nhà nước, thuê và ngân sách, báo đảm phản ánh đúng bán chất của chuẩn mực báo cáo tài chính là khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tài chính vì mục đích chung.
- Rà soát chung về văn phong, thuật ngữ và kỹ thuật trình bày để bảo đảm Đề án có cách thể hiện chặt chẽ, nhất quán và phù hợp hơn với nội dung của một văn bản quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Với những góp ý về vị trí của VFRS và phạm vi áp dụng trong việc lập, trình bày báo cáo tài chính, việc quy định rõ quan hệ giữa VFRS với pháp luật thuế và cơ chế tài chính chuyên ngành, bố trí kinh phí và cơ chế tổ chức thực hiện... VAA hy vọng được tiếp nhận, đánh giá tính khả thi và đưa vào Đề án "Xây dựng và áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam".
© tapchiketoankiemtoan.vn