Trong dòng chảy chuyển đổi tư duy phát triển quốc gia, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam được xem là một dấu mốc đặc biệt quan trọng khi lần đầu tiên đặt văn hóa vào vị trí một nguồn lực tăng trưởng chiến lược.
Với những địa phương lấy di sản và bản sắc làm nền tảng phát triển như Huế, nghị quyết này không chỉ mở ra cơ hội bứt phá cho công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số di sản, mà còn tạo tiền đề để tái định vị mô hình tăng trưởng theo hướng nhanh hơn, bền vững hơn và giàu bản sắc hơn trong giai đoạn mới.
Ngày 24/4/2026, tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá XVI đã thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam. Có thể nói đây là một bước đi hết sức quan trọng nhằm thể chế hoá Nghị quyết số 80 – NQ/TW của Bộ Chính trị (ban hành ngày 07/1/2026) về phát triển văn hoá Việt Nam trong giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đối với các đô thị dựa trên nền tảng của văn hoá, di sản để phát triển như thành phố Huế, đây là một cơ hội đặc biệt để có thể phát triển nhanh và bền vững, đạt mục tiêu tăng trưởng trên hai con số…

Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam có thể xem là một dấu mốc rất quan trọng trong tư duy phát triển văn hóa của Việt Nam thời kỳ mới. Nếu trước đây văn hóa thường được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ bảo tồn, gìn giữ, phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội, thì Nghị quyết 28 đã thể hiện rõ một bước chuyển mạnh sang tư duy “văn hóa là nguồn lực phát triển”, “công nghiệp văn hóa là động lực tăng trưởng mới”, đồng thời bắt đầu hình thành khung thể chế cho kinh tế văn hóa, kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số văn hóa.
Đây là lần đầu tiên Quốc hội ban hành một nghị quyết chuyên đề với quy mô lớn, tương đối toàn diện về phát triển văn hóa, bao trùm từ nguồn lực đầu tư, công nghiệp văn hóa, nhân lực sáng tạo, chuyển đổi số, bảo tồn di sản cho đến quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Đặc biệt, nhiều cơ chế trong Nghị quyết mang tính “đột phá thể chế”, thậm chí có thể xem là vượt ra ngoài tư duy quản lý văn hóa truyền thống lâu nay.
Điểm đáng chú ý đầu tiên là Nghị quyết đã xác lập rõ vai trò chiến lược của văn hóa trong phát triển quốc gia. Quy định Nhà nước bảo đảm chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu phát triển là một cam kết rất mạnh về mặt chính sách.
Nếu được thực hiện nghiêm túc, đây sẽ là cú hích rất lớn cho các địa phương, bởi nhiều năm qua văn hóa thường là lĩnh vực “được nhắc nhiều nhưng đầu tư chưa tương xứng”. Với các đô thị di sản như Huế, đây chính là cơ hội để đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng văn hóa, thiết chế văn hóa, số hóa di sản, công nghiệp sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn, bảo tồn nghề truyền thống…
Quan trọng hơn, Nghị quyết đã chính thức đưa khái niệm “cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa”, “tổ hợp sáng tạo văn hóa”, “trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa” vào hệ thống chính sách quốc gia. Đây là thay đổi rất lớn về nhận thức.
Trước đây, văn hóa thường được quản lý theo kiểu “thiết chế hành chính”, còn nay bắt đầu chuyển sang mô hình hệ sinh thái sáng tạo, nơi văn hóa gắn với công nghệ, thị trường, khởi nghiệp, du lịch, giải trí, truyền thông số, game, điện ảnh, thiết kế, nghệ thuật trình diễn…
Đây chính là nền tảng để hình thành “kinh tế di sản”, “kinh tế sáng tạo” và “kinh tế nội dung số” tại Việt Nam.
Nghị quyết số 28/2026/QH16 tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt ở ba nhóm lớn.
Thứ nhất là, hình thành thị trường và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Lần đầu tiên, Quốc hội cho phép hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa với các ưu đãi về đất đai, thuế, hạ tầng.
Điều này mở đường cho sự phát triển của các ngành công nghiệp điện ảnh; nghệ thuật biểu diễn; thiết kế sáng tạo; mỹ thuật; thời trang; nội dung số; game; truyền thông văn hóa; không gian sáng tạo; tổ hợp văn hóa – giải trí – du lịch..vv.
Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh các ngành như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử mang nội dung lịch sử - văn hóa Việt Nam. Đây là định hướng rất đúng trong bối cảnh “sức mạnh mềm văn hóa” ngày càng quan trọng.
Nếu tận dụng tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng các sản phẩm văn hóa mang bản sắc riêng thay vì chỉ nhập khẩu mô hình giải trí nước ngoài.
Thứ hai là, chính sách ưu đãi tài chính – thuế rất mạnh
Nghị quyết đưa ra hàng loạt ưu đãi hiếm thấy như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm; giảm 50% trong 4 năm tiếp theo; miễn thuế với chuyển nhượng vốn đầu tư vào doanh nghiệp văn hóa; ưu đãi thuế cho chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực văn hóa; giảm VAT xuống 5% cho nhiều hoạt động văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật..vv.
Đây là bước đi rất đáng chú ý vì lâu nay công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển chậm không chỉ vì thiếu ý tưởng mà còn do thiếu cơ chế tài chính phù hợp.
Thứ ba là, chuyển đổi số văn hóa
Nghị quyết dành hẳn một điều về hạ tầng văn hóa số và chuyển đổi số.
Đây là một hướng đi cực kỳ quan trọng trong thời đại AI và kinh tế số.
Các mô hình như bảo tàng số; nhà hát số; thư viện số; số hóa di sản; nền tảng sáng tạo nội dung số; công nghệ thực tế ảo cho di sản; game lịch sử; du lịch thông minh…sẽ có điều kiện phát triển mạnh.
Đối với các đô thị giàu di sản như Huế, đây là cơ hội đặc biệt lớn, bởi Huế sở hữu kho di sản đồ sộ nhưng nhiều giá trị vẫn còn nằm “tĩnh” trong bảo tàng, di tích hay thư viện. Nếu được số hóa tốt, Huế có thể trở thành một trung tâm nội dung số văn hóa hàng đầu Việt Nam.
Có thể nói, ít địa phương nào phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 28/2026/QH16 như Huế.
Bởi toàn bộ định hướng phát triển của Huế hiện nay, “đô thị di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh”, gần như trùng khớp với triết lý phát triển mà Nghị quyết đang hướng tới.
Đặc biệt, Điều 5 của Nghị quyết cho phép thí điểm mô hình “đô thị di sản” với các cơ chế ưu đãi riêng về đất đai, phí, lệ phí nhằm khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa.
Đây gần như là “cơ chế dành riêng” cho các địa phương như Huế.
Nếu được triển khai hiệu quả, Huế có thể phát triển các khu sáng tạo văn hóa gắn với di sản; hình thành các tổ hợp nghệ thuật – trình diễn – ẩm thực – thủ công truyền thống; phát triển kinh tế đêm mang bản sắc di sản; phát triển điện ảnh, lễ hội, nghệ thuật biểu diễn; khai thác mạnh các không gian di sản cho công nghiệp sáng tạo; phát triển hệ sinh thái “kinh tế áo dài”, “kinh tế ẩm thực”, “kinh tế lễ hội”.
Huế có lợi thế mà rất ít nơi có, đó là hệ thống di sản UNESCO; chiều sâu văn hóa cung đình; cảnh quan đặc sắc; nghệ thuật truyền thống; ẩm thực; áo dài; làng nghề; âm nhạc; hệ thống lễ hội; kho tư liệu lịch sử đồ sộ…Tất cả những điều đó đều là “nguyên liệu đầu vào” cực kỳ quý cho công nghiệp văn hóa.
Dù rất tiến bộ, Nghị quyết vẫn còn một số điểm cần tiếp tục cụ thể hóa.
Thứ nhất là, chưa thật rõ về cơ chế phân cấp: Nghị quyết cho phép địa phương thực hiện nhiều cơ chế mới, nhưng vẫn còn phụ thuộc khá lớn vào quy định chi tiết của Chính phủ. Nếu không có hướng dẫn thông thoáng, nguy cơ “thể chế hóa chậm” sẽ xảy ra, khiến nhiều chính sách khó đi vào thực tế.
Thứ hai là, chưa thật mạnh về cơ chế PPP cho di sản. Đây là điểm rất quan trọng với Huế.
Hiện nay, nhiều di tích cần nguồn lực xã hội hóa lớn nhưng cơ chế hợp tác công tư cho di sản vẫn còn thiếu rõ ràng. Nghị quyết đã mở hướng nhưng chưa thật cụ thể về khai thác thương mại di sản; chia sẻ lợi ích; quyền khai thác không gian di sản; cơ chế thuê – vận hành – đầu tư dài hạn…
Nếu không tháo những gỡ điểm này, việc biến di sản thành động lực kinh tế sẽ còn khó khăn.
Thứ ba là, nhân lực sáng tạo còn là điểm nghẽn lớn.
Nghị quyết đã đề cập đào tạo nhân lực chất lượng cao. Nhưng thực tế Việt Nam vẫn thiếu nghiêm trọng các nhà sản xuất văn hóa; các chuyên gia công nghiệp sáng tạo; các giám tuyển; các chuyên gia di sản số; các chuyên gia truyền thông văn hóa quốc tế; và đội ngũ quản trị công nghiệp văn hóa.
Đây sẽ là thách thức rất lớn với các địa phương.
Đối với Huế, đây không chỉ là một nghị quyết về văn hóa, mà thực chất là cơ hội để tái định vị mô hình phát triển của thành phố trong giai đoạn mới.
Thiết nghĩ, Huế cần nhanh chóng xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa cấp thành phố; xây dựng đề án “đô thị di sản” thí điểm; quy hoạch các không gian sáng tạo; đẩy mạnh phát triển mạnh kinh tế đêm gắn với di sản; nỗ lực số hóa toàn diện di sản; xây dựng hệ sinh thái sáng tạo về áo dài, ẩm thực, âm nhạc, lễ hội; phát triển điện ảnh và du lịch văn hóa; hình thành quỹ sáng tạo văn hóa địa phương; thu hút doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp sáng tạo đầu tư vào lĩnh vực văn hóa.
Đặc biệt, Huế cần chuyển mạnh từ tư duy “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn để phát triển”, biến di sản thành nguồn lực nội sinh cho tăng trưởng bền vững.
Nếu làm tốt, Huế hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu quốc gia về phát triển đô thị di sản và công nghiệp văn hóa trong thập niên tới, đúng với tinh thần của Nghị quyết 28 và định hướng phát triển thành phố trực thuộc Trung ương trên nền tảng văn hóa, di sản và bản sắc riêng.
URL: https://tapchiketoankiemtoan.vn/nghi-quyet-so-28-2026-qh16-va-co-hoi-cua-hue-d6269.html
© tapchiketoankiemtoan.vn