• Thứ Bảy, ngày 18 tháng 07 năm 2026, 12:05:59
  • Thông tin tòa soạn
  • Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Nhận, phản biện bài trực tuyến
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
    • Tin thời sự
    • Tin hiệp hội
  • Nghiên cứu trao đổi
    • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
    • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
    • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
    • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
    • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
    • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
    • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
    • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
    • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
    • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
    • Tạp Chí Số 12 / Volume 12
  • Diễn đàn kế toán
    • Nhịp sống doanh nghiệp
    • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
    • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
    • Thuế
    • Tài chính
    • Ngân hàng
    • Chứng khoán
    • Bất động sản
    • Kế toán
    • Kiểm toán
  • Tạp Chí
    • Tạp chí 2024
    • Tạp chí 2023
    • Tạp chí 2022
    • Quản lý tạp chí
    • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
    • Hội đồng biên tập
    • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
    • Cơ cấu tổ chức
    • Ban biên tập
    • Quy định bài viết
    • Quy trình phản biện
    • Thể lệ đăng bài
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
    • Tin tức
    • Thảo luận chuyên sâu
    • Tài chính xanh và Doanh nghiệp

Tin hiệp hội

Tin trong nước

  • Tin thời sự
  • Tin hiệp hội

Nghiên cứu trao đổi

  • Tạp Chí Số 1+2 / Volume 1+2
  • Tạp Chí Số 3 / Volume 3
  • Tạp Chí Số 4 / Volume 4
  • Tạp Chí Số 5 / Volume 5
  • Tạp Chí Số 6 / Volume 6
  • Tạp Chí Số 7 / Volume 7
  • Tạp Chí Số 8 / Volume 8
  • Tạp Chí Số 9 / Volume 9
  • Tạp Chí Số 10 / Volume 10
  • Tạp Chí Số 11 / Volume 11
  • Tạp Chí Số 12 / Volume 12

Diễn đàn kế toán

  • Nhịp sống doanh nghiệp
  • Kế toán - Kiểm toán với Doanh nghiệp
  • Tài chính - Thuế với Doanh nghiệp

Nghiệp vụ

Tin Quốc tế

Chính sách mới

  • Thuế
  • Tài chính
  • Ngân hàng
  • Chứng khoán
  • Bất động sản
  • Kế toán
  • Kiểm toán

Tạp Chí

  • Tạp chí 2024
  • Tạp chí 2023
  • Tạp chí 2022
  • Quản lý tạp chí
  • Quy định trích dẫn và chống đạo văn
  • Hội đồng biên tập
  • Quá trình hình thành và phát triển tạp chí
  • Cơ cấu tổ chức
  • Ban biên tập
  • Quy định bài viết
  • Quy trình phản biện
  • Thể lệ đăng bài

Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE

  • Tin tức
  • Thảo luận chuyên sâu
  • Tài chính xanh và Doanh nghiệp
Hotline: 098 169 6069
  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới
  • Tạp Chí
  • Sự kiện AFA 24, 24TH AFA CONFERENCE
  • Nhận,phản biện bài trực tuyến

Các nhân tố quyết định sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp SMES tại Hải Phòng và vai trò điều tiết của năng lực kế toán tài chính

11:36 |  18/07/2026

Trong bối cảnh Hải Phòng đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, thu hút đầu tư và chuyển đổi số, khu vực doanh nghiệp SME ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và tạo việc làm. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng quy mô giao dịch và yêu cầu minh bạch tài chính, việc tuân thủ thuế của SME đối mặt nhiều thách thức như áp lực chi phí tuân thủ, sự thay đổi của quy định và mức độ giám sát ngày càng chặt chẽ dựa trên dữ liệu.


Theo một bài báo năm 2024 về tuân thủ thuế doanh nghiệp tại Hải Phòng, tuân thủ thuế là nền tảng để đảm bảo nguồn thu ngân sách, duy trì tính công bằng của hệ thống thuế và hạn chế rủi ro pháp lý uy tín cho doanh nghiệp; đồng thời bối cảnh toàn cầu hóa, số hóa và tính phức tạp của quy định thuế khiến bài toán tuân thủ trở nên thách thức hơn, nhất là với khối doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế như SME (PhD. To Van Tuan, 2024). Ở cấp địa phương, nghiên cứu thực nghiệm trên 220 doanh nghiệp tại Hải Phòng chỉ ra rằng khả năng bị xử phạt hành vi tránh thuế, thuế suất, hoạt động thanh tra kiểm tra thuế và nhận thức của doanh nghiệp về thuế có mức độ ảnh hưởng khác nhau lên hành vi tuân thủ (PhD. To Van Tuan, 2024).

Về mặt lý thuyết, các tiếp cận kinh tế học tuân thủ nhấn mạnh vai trò của động cơ lợi ích chi phí trong điều kiện bất định: doanh nghiệp cân nhắc lợi ích của việc trốn nghĩa vụ thuế với xác suất bị phát hiện và mức phạt kỳ vọng. Các bằng chứng kinh điển cũng gợi ý rằng thay đổi thuế suất có thể làm thay đổi xu hướng trốn thuế (Clotfelter, 1983), do thuế suất là một “công cụ chính sách” tác động cùng với thực thi, đơn giản hóa và cơ chế cung cấp thông tin để ảnh hưởng hành vi tuân thủ. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện đại cho thấy tuân thủ thuế không chỉ là kết quả của răn đe mà còn phụ thuộc vào cơ chế tự thực thi của hệ thống. Bằng chứng thực nghiệm về VAT cho thấy, khi có dấu hiệu hóa đơn, chứng từ và thông tin đối chiếu từ bên thứ ba, hiệu ứng của kiểm tra xử phạt có thể mạnh lên theo cách làm tăng tuân thủ ở các giao dịch dễ bị đối chiếu (Pomeranz, 2015). Theo khung nghiên cúu của Kỉchler nhấn mạnh tuân thủ chịu chi phối đồng thời bởi quyền lực thực thi và niềm tin; khi cả hai cùng cao, tuân thủ có xu hướng bền vững hơn (Kirchler et al., 2008).

Trong bối cảnh SME, thách thức còn đến từ năng lực quản trị thông tin và năng lực kế toán tài chính. Nghiên cứu trong nước chỉ ra rằng doanh nghiệp có hệ thống kế toán rõ ràng thường tuân thủ tốt hơn doanh nghiệp nhỏ; vì vậy cơ quan chức năng cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ hoàn thiện hệ thống kế toán để thúc đẩy tuân thủ (Thi et al., 2024). Ở góc độ khuyến nghị chính sách cho Việt Nam, nghiên cứu cũng nhấn mạnh yêu cầu tính chính xác trong ghi chép số liệu, tăng cường năng lực tuân thủ và chủ động tương tác với cơ quan thuế; SME cần các chương trình nâng cao năng lực để hiểu và tuân thủ luật thuế tốt hơn (PhD. To Van Tuan, 2024). Từ các lập luận trên có thể thấy: (i) Tuân thủ thuế của SME chịu tác động của các nhân tố thuộc thực thi, gánh nặng thuế suất, và nhận thức về thuế (PhD. To Van Tuan, 2024); (ii) Cơ chế tác động của các nhân tố này có thể khác nhau đáng kể tùy vào nền tảng dữ liệu, sổ sách và năng lực kế toán tài chính của doanh nghiệp, bởi năng lực này quyết định chất lượng ghi chép, khả năng lập báo cáo, mức độ đáp ứng yêu cầu hồ sơ, cũng như khả năng hiểu và thực hiện đúng quy định.

Vì vậy, đề tài “Các nhân tố quyết định sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp SME tại Hải Phòng và vai trò điều tiết của năng lực kế toán tài chính” có ý nghĩa cả về học thuật lẫn thực tiễn. Về học thuật, nghiên cứu hướng tới kết nối các nhánh lý thuyết: răn đe, thông tin đối chiếu và niềm tin với quyền lực để lý giải hành vi tuân thủ trong bối cảnh địa phương cụ thể. Về thực tiễn, việc nhận diện các nhân tố tác động và kiểm định vai trò điều tiết của năng lực kế toán tài chính sẽ giúp đề xuất nhóm giải pháp kịp thời: không chỉ tăng cường kiểm tra xử phạt hay tuyên truyền, mà còn tập trung nâng cấp năng lực kế toán tài chính cho SME để biến chính sách thuế thành tuân thủ thực chất, góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh công bằng tại Hải Phòng.

Cơ sở lý thuyết

Trong nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế, “tuân thủ thuế” thường được hiểu là mức độ người nộp thuế chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng quy định đối với các nghĩa vụ thuế. Nội hàm này bao quát toàn bộ chu trình tuân thủ gồm: đăng ký thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và các yêu cầu quản lý thuế liên quan (Thi et al., 2024). Cách tiếp cận theo quy trình là phù hợp với đặc trưng của SME, vì sai lệch tuân thủ có thể xuất hiện không chỉ ở số liệu kết quả thuế mà còn ở tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ, chứng từ và kê khai. Trên bình diện thực chứng tại Hải Phòng, nghiên cứu của To Van Tuan nhấn mạnh tầm quan trọng của tuân thủ thuế doanh nghiệp đối với nguồn thu công và tính công bằng của hệ thống, đồng thời gợi ý rằng hành vi tuân thủ bị chi phối bởi nhiều nhóm nhân tố (PhD. To Van Tuan, 2024).

Nhánh lý thuyết răn đe nhìn nhận tuân thủ thuế như kết quả của cân nhắc lợi ích và chi phí dưới rủi ro bị phát hiện. Một đại diện quan trọng của hướng tiếp cận này, là việc nhấn mạnh vai trò của thuế suất có ảnh hưởng đến xu hướng trốn thuế. Clotfelter cung cấp bằng chứng kinh tế lượng cho thấy, trốn thuế nhạy cảm với thuế suất biên; độ co giãn của thu nhập khai thiếu theo thuế suất biên là dương và có ý nghĩa trong nhiều đặc tả, hàm ý thuế suất cao có thể làm gia tăng động cơ khai thiếu (Clotfelter, 1983). Bên cạnh thuế suất, răn đe còn đến từ xác suất bị kiểm tra và mức phạt kỳ vọng. Trong khung Kirchler et al. diễn giải quyền lực của cơ quan thuế là nhận thức của người nộp thuế về khả năng phát hiện gian lận thông qua kiểm tra thường xuyên, kỹ lưỡng và khả năng trừng phạt bằng chế tài đủ mạnh; qua đó làm tăng tính cưỡng chế (Kirchler et al., 2008). Ở bối cảnh Hải Phòng, To Van Tuan (2024) cho thấy các yếu tố răn đe như khả năng bị xử phạt hành vi tránh thuế và hoạt động thanh tra thuế cùng với thuế suất và nhận thức về thuế đều có ảnh hưởng khác nhau đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp (PhD. To Van Tuan, 2024).

Một phát triển quan trọng của nghiên cứu tuân thủ thuế là nhấn mạnh vai trò của dòng chảy thông tin và báo cáo bên thứ ba. Theo Pomeranz, trong nghiên cứu về VAT tại Chile, chỉ ra rằng VAT tạo ra bằng chứng chứng từ giữa các doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ thực thi thuế; đồng thời kết quả thực nghiệm cho thấy thông tin bên thứ ba có ảnh hưởng mạnh đến tuân thủ và hiệu quả thực thi đến từ tương tác giữa thông tin và răn đe (Pomeranz, 2015). Ở phần kết luận, Pomeranz tiếp tục nhấn mạnh bằng chứng chứng từ là cơ chế bổ trợ cho xác suất kiểm tra; khi răn đe đủ tin cậy, dấu vết thông tin kích hoạt cơ chế tự thực thi và tạo lan tỏa tuân thủ theo chuỗi giao dịch (Pomeranz, 2015). Hàm ý lý thuyết rút ra cho SME là: khi doanh nghiệp hoạt động trong môi trường số hóa, khả năng phát hiện của giao dịch tăng lên; do đó, tác động của kiểm tra xử phạt không chỉ trực tiếp mà còn được khuếch đại nhờ khả năng đối chiếu, truy vết.

Khung lý thuyết của Kirchler gợi ý rằng, tuân thủ thuế được hình thành bởi hai trụ cột: quyền lực và niềm tin. Kirchler định nghĩa niềm tin chung với tuân thủ chính sách thuế hoạt động vì lợi ích chung; trong khi power phản ánh năng lực phát hiện và trừng phạt, và hai trụ cột này tạo ra hai dạng tuân thủ: cưỡng chế khi quyền lực cao và tự nguyện khi niềm tin cao (Kirchler et al., 2008). Khung này cũng chỉ ra tính tương tác động: thay đổi quyền lực có thể làm tăng hoặc làm giảm niềm tin tùy cách thực thi; ngược lại, tăng niềm tin có thể nâng quyền lực chính danh vì người nộp thuế hợp tác hơn (Kirchler et al., 2008). Ngoài ra, các cảm nhận về công bằng gắn chặt với niềm tin và quyền lực: đối xử công bằng, minh bạch, tôn trọng giúp củng cố niềm tin; còn kiểm tra xâm lấn hoặc chế tài thiếu công bằng có thể làm suy giảm niềm tin và kích hoạt xu hướng không tuân thủ (Kirchler et al., 2008).

Ở cấp độ doanh nghiệp, hiểu biết và năng lực thực thi quy định là điều kiện nền để chuyển từ ý định tuân thủ thành hành vi tuân thủ. Kirchler tổng hợp bằng chứng cho thấy kiến thức thuế có liên hệ dương với tuân thủ; giảm phức tạp và tăng hiểu biết thông qua đào tạo, hỗ trợ người nộp thuế có thể làm tăng niềm tin và thúc đẩy tuân thủ tự nguyện (Kirchler et al., 2008). Đặc biệt với SME, năng lực kế toán tài chính quyết định chất lượng sổ sách, chứng từ, báo cáo qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng kê khai đúng hạn/đúng quy định và khả năng đáp ứng kiểm tra. Nghiên cứu của Thanh An nêu rõ: doanh nghiệp lớn hoặc có hệ thống kế toán rõ ràng thường tuân thủ tốt hơn doanh nghiệp nhỏ; vì vậy cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ hoàn thiện hệ thống kế toán để tăng tuân thủ (Thi et al., 2024). Từ các lập luận trên, có cơ sở để xem năng lực kế toán tài chính như một biến điều tiết: (i) khi năng lực kế toán cao, doanh nghiệp ghi nhận giao dịch đầy đủ, chuẩn hóa chứng từ, nên tác động của thông tin được đối chiếu lên tuân thủ mạnh hơn (TS. Vũ Thị Thanh Bình, 2024); (ii) Đồng thời, năng lực cao giúp giảm sai sót không chủ ý, làm giảm chi phí, nên doanh nghiệp phản ứng tích cực hơn trước chính sách và hỗ trợ của cơ quan thuế; (iii) Ngược lại, năng lực thấp khiến doanh nghiệp dễ sai sót hồ sơ, dễ bị tổn thương trước kiểm tra xử phạt và có thể hình thành tâm lý né tránh.

Dựa vào cơ sở lý thuyết trên tác giả đề xuất mô hình giả thuyết nghiên cứu dưới đây:

H1. AUD → TC: Theo tiếp cận răn đe, xác suất bị kiểm tra giám sát làm tăng chi phí kỳ vọng của hành vi không tuân thủ, từ đó khuyến khích doanh nghiệp kê khai và nộp thuế đúng quy định. Theo khung nghiên cứu của Kirchler cũng nhấn mạnh quyền lực thực thi của cơ quan thuế thể hiện qua mức độ kiểm tra thường xuyên và khả năng phát hiện là nền tảng tạo ra tuân thủ bị cưỡng chế (Kirchler et al., 2008). Thực nghiệm tại Hải Phòng cho thấy hoạt động thanh tra thuế có ảnh hưởng có ý nghĩa đến hành vi tuân thủ của doanh nghiệp (PhD. To Van Tuan, 2024).

H2. PEN → TC: Mức độ nghiêm khắc của chế tài làm tăng mức phạt kỳ vọng đối với hành vi trốn thuế, nhờ đó tăng động lực tuân thủ. Trong khung nghiên cứu của Kirchler chế tài được xem là công cụ quan trọng của quyền lực thực thi, góp phần tạo tuân thủ cưỡng chế và giảm khuynh hướng gian lận khi người nộp thuế đánh giá rủi ro và hậu quả vi phạm là đáng kể (Kirchler et al., 2008). Bằng chứng thực nghiệm tại Hải Phòng cũng cho thấy yếu tố liên quan đến khả năng bị xử phạt có tác động đáng kể lên tuân thủ thuế doanh nghiệp (PhD. To Van Tuan, 2024).

H3. TR → TC: Về mặt kinh tế học, thuế suất ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích biên của việc khai giảm nghĩa vụ, do đó có thể làm thay đổi hành vi tuân thủ. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy thuế suất biên liên quan đến mức độ khai thiếu, hàm ý khi thuế suất cao có thể làm gia tăng động cơ không tuân thủ (Clotfelter, 1983). Tuy (PhD. To Van Tuan, 2024)nhiên, nếu đo lường theo hướng tính hợp lý của nghĩa vụ thuế, cảm nhận tích cực về thuế suất có thể làm tăng thiện chí tuân thủ. Trong nghiên cứu tại Hải Phòng, thuế suất được xác định là một nhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tuân thủ .

H4. AWR → TC: Nhận thức về thuế và năng lực thực thi nghĩa vụ là điều kiện giúp doanh nghiệp chuyển ý định tuân thủ thành hành vi tuân thủ, thông qua việc giảm sai sót hồ sơ, nâng chất lượng kê khai và chủ động đáp ứng yêu cầu quản lý thuế. Các tổng quan trong nghiên cứu của Kirchler cũng ghi nhận vai trò của hiểu biết, thông tin và các chương trình hỗ trợ người nộp thuế trong việc cải thiện tuân thủ (Kirchler et al., 2008). Kết quả thực nghiệm tại Hải Phòng cho thấy nhận thức của doanh nghiệp về thuế là yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến tuân thủ (PhD. To Van Tuan, 2024).

H5. TRUST → TC: Theo khung nghiên cứu của Kirchler, khẳng định niềm tin vào cơ quan thuế và cảm nhận công bằng minh bạch là nền tảng của tuân thủ tự nguyện, bởi khi doanh nghiệp tin rằng cơ quan thuế hành xử chính danh và vì lợi ích chung, mức độ hợp tác và tự giác tuân thủ sẽ cao hơn (Kirchler et al., 2008). Ở bối cảnh thực tiễn, việc tăng cường minh bạch, công bằng và chất lượng phục vụ được xem là hướng nâng cao tuân thủ, đặc biệt với SME vốn nhạy cảm với trải nghiệm thủ tục và chi phí giao dịch (Thi et al., 2024).

H6. INFO → TC: Tiếp cận dựa trên thông tin nhấn mạnh rằng, khi giao dịch để lại bằng chứng chứng từ và có cơ chế đối chiếu từ bên thứ ba, hành vi gian lận trở nên khó hơn, làm tăng tuân thủ. Thực nghiệm VAT cho thấy, thông tin bên thứ ba và dấu vết chứng từ có thể kích hoạt cơ chế tự nguyện và nâng hiệu quả thực thi thuế, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa dọc chuỗi giao dịch (Pomeranz, 2015). Vì vậy, trong bối cảnh số hóa quản lý thuế, mức độ đối chiếu dữ liệu cao được kỳ vọng làm tăng tuân thủ của doanh nghiệp.

H7. COST → TC: Chi phí tuân thủ bao gồm thời gian, nhân lực, chi phí thủ tục và chi phí cơ hội có thể làm giảm mức độ sẵn sàng tuân thủ, đặc biệt đối với SME vốn hạn chế nguồn lực quản trị. Khi chi phí tuân thủ tăng, doanh nghiệp có xu hướng tìm cách trì hoãn, tối giản hoặc né nghĩa vụ để giảm gánh nặng vận hành. Các tổng quan nghiên cứu về tuân thủ cũng nhấn mạnh rằng, giảm phức tạp và chi phí tuân thủ là một hướng quan trọng để nâng cao hợp tác và tuân thủ tự nguyện (Kirchler et al., 2008).

Hình 1: Mô hình giả thuyết nghiên cứu

Kết quả và bàn luận

Dựa vào những nghiên cứu đã được chỉ ra tác giả thực hiện thiết kế bảng hỏi và tiến hành khảo sát theo phương pháp chọn mẫu thuận tiên. Bảng hỏi sử dụng với thang đo Likert 5 mức độ. Khảo sát đã được thực hiện tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa bàn Thành phố Hải Phòng. Tổng số khảo sát thu về được là 389 phiếu tuy nhiên chỉ có 350 phiếu là hợp lệ. Dưới đây là kết quả kiểm định sau khi chạy trên phần mềm SPSS và Smart PLS4.

Bảng 1: Kết quả kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha

(Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS)

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, các thang đo đều đạt độ tin cậy nội tại tốt, với Cronbach’s Alpha dao động 0.827–0.862. Khoảng giá trị này vừa đáp ứng ngưỡng chấp nhận, vừa tránh tình trạng “quá cao” gây hàm ý trùng lặp nội dung, qua đó phản ánh các biến quan sát đo lường khá nhất quán từng khái niệm. Đồng thời, hệ số tương quan của tất cả chỉ báo đều ở mức đạt yêu cầu, cho thấy mỗi chỉ báo đều có mức đóng góp đáng kể và không có dấu hiệu lệch khỏi cấu trúc thang đo. Một điểm quan trọng là hệ số Cronbach’s Alpha nếu chỉ tiêu bị xóa của từng chỉ báo đều thấp hơn Cronbach’s Alpha chung của thang đo tương ứng, nghĩa là loại bỏ biến nào cũng không làm thang đo tốt lên mà còn làm giảm độ tin cậy. Điều này củng cố cơ sở thống kê để giữ lại toàn bộ chỉ báo cho các bước tiếp theo nhằm đánh giá giá trị hội tụ và phân biệt. Dù vậy, một vài chỉ báo của biến phụ thuộc TC có tương quan biến tổng thấp hơn tương đối, nhưng vẫn vượt ngưỡng loại bỏ; do đó, nếu cần tối ưu, nên ưu tiên chỉnh sửa câu chữ theo hướng rõ hành vi hơn thay vì loại biến.

Về ý nghĩa áp dụng thực tiễn trong bối cảnh hiện nay, bộ thang đo có độ tin cậy tốt cho phép sử dụng như một công cụ đánh giá tương đối vững để nhận diện hạn chế của việc tuân thủ thuế tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt, khi quản lý thuế ngày càng chuyển sang hướng số hóa, đối chiếu dữ liệu và hóa đơn điện tử, các cấu trúc như INFO, AUD và PEN trở thành nhóm đòn bẩy quan trọng để tăng tuân thủ. Đồng thời, trong môi trường kinh doanh nhiều biến động, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chịu áp lực nguồn lực, nên kết quả đo lường ổn định cho các yếu tố COST, AWR và TRUST giúp cơ quan quản lý và doanh nghiệp định hình giải pháp theo hướng hỗ trợ kết hợp: (i) Giảm chi phí tuân thủ và đơn giản hóa thủ tục; (ii) Tăng hỗ trợ đào tạo để nâng năng lực kê khai; và (iii) Cải thiện minh bạch, công bằng trong thực thi để thúc đẩy tuân thủ tự nguyện. Nói cách khác, độ tin cậy cao của thang đo không chỉ phục vụ phân tích học thuật mà còn tạo nền tảng để đề xuất khuyến nghị chính sách và quản trị phù hợp với yêu cầu quản lý thuế hiện đại.

Bảng 2: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s

(Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS)

Kết quả ở Bảng 2 cho thấy, dữ liệu phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố khám phá. Cụ thể, chỉ số KMO = 0.786 đạt mức “khá tốt”, phản ánh mẫu có độ thích hợp và các biến quan sát có mức độ tương quan đủ để hình thành các nhân tố tiềm ẩn. Đồng thời, kiểm định Bartlett’s Test of Sphericity cho kết quả Sig. = 0.000, bác bỏ giả thuyết ma trận tương quan đơn vị, nghĩa là giữa các biến quan sát tồn tại tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê, qua đó củng cố tính hợp lệ của việc trích nhân tố.

Bên cạnh đó, tổng phương sai trích đạt 64.428% cho thấy, các nhân tố rút trích giải thích được một tỷ lệ lớn biến thiên của dữ liệu, vượt ngưỡng thường được xem là đạt yêu cầu trong nghiên cứu hành vi quản trị. Kết quả này hàm ý cấu trúc thang đo có khả năng khái quát tốt và các nhân tố tiềm ẩn có ý nghĩa trong việc giải thích tập biến quan sát. Trên cơ sở này, nghiên cứu có thể tiếp tục bước EFA chi tiết và các kiểm định tiếp theo để đánh giá giá trị hội tụ, giá trị phân biệt và kiểm định mô hình giả thuyết.

Bảng 3: Kết quả giá trị hội tụ

(Nguồn: Dữ liệu phân tích Smart PLS4)

Bảng 3 cho thấy, các thang đo trong mô hình đạt giá trị hội tụ tốt và độ tin cậy cao theo tiêu chuẩn của PLS-SEM. Trước hết, hệ số Cronbach’s alpha của các cấu trúc đều lớn hơn 0.80, phản ánh mức nhất quán nội tại tốt của thang đo. Đồng thời, Composite reliability theo cả hai chỉ số rho_a (0.827 – 0.891) và rho_c (0.885 – 0.906) đều vượt ngưỡng khuyến nghị, cho thấy các biến quan sát đo lường ổn định và đáng tin cậy khi phản ánh khái niệm tiềm ẩn. Việc rho_c ở mức xấp xỉ 0.89 – 0.91 cũng hàm ý thang đo đủ mạnh nhưng không rơi vào tình trạng nghi ngờ trùng lặp nội dung. Về giá trị hội tụ, chỉ số AVE của tất cả cấu trúc đều vượt ngưỡng 0.50, nghĩa là mỗi khái niệm tiềm ẩn giải thích được trên 50% phương sai của các biến quan sát thuộc về nó. Đây là bằng chứng trực tiếp cho thấy các chỉ báo tốt vào cùng một cấu trúc và thang đo có năng lực khái quát hóa phù hợp. Nhìn theo từng biến, các cấu trúc như PEN và TRUST đạt mức hội tụ rất tốt; các cấu trúc còn lại cũng nằm trong khoảng hội tụ, cho phép giữ nguyên bộ thang đo để tiếp tục kiểm định mô hình cấu trúc. Từ góc độ triển khai nghiên cứu, các kết quả này xác nhận rằng bộ thang đo đạt yêu cầu để chuyển sang kiểm định giá trị phân biệt và đánh giá mô hình cấu trúc. Đồng thời, trong thực tiễn quản trị tuân thủ thuế của doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc các cấu trúc đo lường đều có độ hội tụ tốt cho phép sử dụng thang đo như một công cụ khảo sát đáng tin cậy nhằm xác định nhóm yếu tố nào đang tác động mạnh đến tuân thủ thuế, từ đó định hướng can thiệp theo hướng vừa tăng hiệu quả thực thi, vừa cải thiện nền tảng tuân thủ tự nguyện.

Bảng 4: Kết quả độ giá trị phân biệt

(Nguồn: Dữ liệu phân tích Smart PLS4)

Bảng 4 thể hiện các hệ số tương quan đều ở mức thấp đến trung bình và không có cặp biến nào có tương quan quá cao. Cụ thể, các mối liên hệ giữa các biến độc lập nhìn chung nhỏ, cho thấy các cấu trúc như AUD, AWR, COST, INFO, PEN, TR, TRUST là những khái niệm tương đối độc lập về mặt nội dung đo lường, hạn chế nguy cơ trùng lắp khái niệm. Đây là dấu hiệu tích cực đối với giá trị phân biệt, vì mỗi cấu trúc phản ánh một khía cạnh riêng của hành vi và bối cảnh tuân thủ thuế. Đáng chú ý, biến phụ thuộc TC có tương quan ở mức trung bình với một số nhân tố: AUD (0.385), AWR (0.378), INFO (0.318), PEN (0.319), TR (0.353) và TRUST (0.349); trong khi tương quan với COST (0.260) thấp hơn. Mô hình tương quan này phù hợp với kỳ vọng lý thuyết: tuân thủ thuế thường chịu tác động đồng thời bởi nhóm thực thi (AUD, PEN), nhóm nền tảng nhận thức – năng lực (AWR), nhóm hạ tầng thông tin/đối chiếu (INFO), và nhóm niềm tin – công bằng (TRUST). Việc các tương quan này chưa quá cao cũng hàm ý quan hệ giữa các biến không mang tính đồng nhất, tạo điều kiện thuận lợi để kiểm định mô hình cấu trúc mà không làm phát sinh vấn đề đa cộng tuyến nghiêm trọng.

(Nguồn: Dữ liệu phân tích Smart PLS4)

Bảng 5 cho thấy, mô hình giải thích tương đối tốt biến phụ thuộc tuân thủ thuế. Cụ thể, R-square = 0.562 hàm ý các biến độc lập trong mô hình (AUD, AWR, COST, INFO, PEN, TR, TRUST) giải thích được khoảng 56.2% mức biến thiên của TC. Theo thông lệ trong các nghiên cứu hành vi/quản trị, đây là mức độ giải thích khá mạnh, cho thấy mô hình có năng lực dự báo và khả năng nắm bắt được những nhân tố quan trọng chi phối hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời, R-square adjusted = 0.553 chỉ giảm nhẹ so với R-square, cho thấy mô hình không đưa quá nhiều biến giải thích; các biến đưa vào đều đóng góp tương đối thực chất và mức độ phù hợp của mô hình được duy trì ngay cả khi đã điều chỉnh theo số lượng biến và cỡ mẫu. Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả này gợi ý rằng, các giải pháp nâng cao tuân thủ thuế tại doanh nghiệp vừa và nhỏ nên tập trung đồng thời vào các nhóm yếu tố trong mô hình; tuy nhiên, vẫn còn khoảng 43.8% phương sai chưa được giải thích, hàm ý trong bối cảnh hiện nay có thể còn những yếu tố khác đáng cân nhắc (ví dụ đặc điểm ngành, quy mô, mức độ số hóa, mức độ hỗ trợ dịch vụ thuế, văn hóa tuân thủ của chủ doanh nghiệp) để mở rộng mô hình trong các nghiên cứu tiếp theo.

(Nguồn: Dữ liệu phân tích Smart PLS4)

Bảng 6 trình bày kích thước tác động f² của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc TC. Theo quy ước thường dùng trong PLS-SEM (Cohen), f² ≈ 0.02 (nhỏ), 0.15 (trung bình), 0.35 (lớn), các kết quả cho thấy hầu hết các nhân tố trong mô hình tạo ra tác động ở mức trung bình và không có nhân tố nào đạt ngưỡng lớn. Cụ thể, AUD (0.233) và COST (0.207) có f² cao nhất, tiếp theo là PEN (0.189); đây là nhóm nhân tố có đóng góp tương đối rõ nét vào năng lực giải thích của mô hình đối với tuân thủ thuế. Nhóm còn lại gồm AWR (0.156) và TRUST (0.157) cũng đạt mức trung bình, cho thấy nhận thức tuân thủ và niềm tin công bằng vẫn là các ảnh hưởng đáng kể trong việc thúc đẩy tuân thủ. Trong khi đó, INFO (0.148) và TR (0.136) nằm sát ngưỡng trung bình nhưng về mặt phân loại vẫn có thể xem là nhỏ đến cận trung bình, hàm ý hai yếu tố này có ảnh hưởng nhưng mức đóng góp vào R² của TC không mạnh bằng các yếu tố như kiểm tra, chi phí và chế tài trong mẫu nghiên cứu hiện tại. Diễn giải theo bối cảnh thực tiễn, kết quả gợi ý rằng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, “áp lực thực thi” và “gánh nặng vận hành tuân thủ” là hai nhóm lực tác động đáng chú ý nhất; đồng thời, chế tài vẫn có vai trò củng cố răn đe. Tuy vậy, nhóm yếu tố như nhận thức và niềm tin vẫn đạt f² trung bình, hàm ý các can thiệp theo hướng hỗ trợ, truyền thông, minh bạch và nâng cao chất lượng phục vụ vẫn có hiệu quả thực chất chứ không chỉ mang tính bổ trợ.

Bảng 7: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến

(Nguồn: Dữ liệu phân tích Smart PLS4)

Kết quả ở Bảng 7 cho thấy, mô hình không gặp vấn đề đa cộng tuyến. Cụ thể, các hệ số VIF của các đường dẫn từ AUD, AWR, COST, INFO, PEN, TR, TRUST đến TC dao động rất thấp, khoảng 1.019–1.048. Theo các ngưỡng đánh giá thông dụng trong PLS-SEM và hồi quy, các giá trị này đều nằm sâu dưới ngưỡng cảnh báo. Điều đó hàm ý các biến độc lập không bị chồng lấp mạnh, mỗi biến giữ được phần phương sai riêng để giải thích TC và các ước lượng hệ số đường dẫn sẽ ổn định, đáng tin cậy hơn.

Về ý nghĩa phương pháp, VIF thấp đồng thời phản ánh rằng cấu trúc thang đo và thiết kế mô hình đang phân biệt tương đối tốt giữa các khái niệm. Nhờ vậy, khi kiểm định mô hình cấu trúc, kết luận về mức độ tác động của từng nhân tố lên tuân thủ thuế sẽ ít bị sai lệch. Về hàm ý thực tiễn, kết quả này gợi ý rằng các nhóm giải pháp tương ứng với từng nhân tố có thể khá độc lập. Nói cách khác, cải thiện một nhóm yếu tố sẽ tạo tác động riêng lên tuân thủ mà không chỉ đơn thuần là phản ánh lại tác động của nhóm yếu tố khác, giúp nhà quản lý dễ ưu tiên và phối hợp chính sách theo hướng đa trụ cột.

Bảng 8: Kết quả mô hình hồi quy bội

(Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS)

Phương trình hồi quy:

TC = -0.740 + 0.316*F-AUD + 0.271*F-PEN + 0.239*FTR + 0.246*F-AWR + 0.252*F-TRUST + 0.245*F-INFO – 0.305*F-COST.

Kết quả ở Bảng 8 cho thấy, mô hình hồi quy bội có ý nghĩa thống kê và các biến giải thích đều tác động đáng kể đến tuân thủ thuế. Tất cả các biến độc lập đều có Sig. = 0.000, hàm ý các giả thuyết về tác động của AUD, PEN, TR, AWR, TRUST, INFO, COST lên TC đều được ủng hộ về mặt thống kê trong mẫu nghiên cứu. Về hướng tác động, các hệ số đều phù hợp với kỳ vọng lý thuyết: AUD (B = 0.316; β = 0.325), PEN (B = 0.271; β = 0.293), TR (B = 0.239; β = 0.248), AWR (B = 0.246; β = 0.257), TRUST (B = 0.252; β = 0.264) và INFO (B = 0.245; β = 0.256) tác động cùng chiều đến tuân thủ thuế; trong khi COST (B = −0.305; β = −0.310) tác động ngược chiều, cho thấy chi phí tuân thủ tăng sẽ làm giảm mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Các trị thống kê t lớn củng cố độ chắc chắn của các ước lượng.

Xét về mức độ ảnh hưởng tương đối theo hệ số chuẩn hoá, AUD là nhân tố tác động mạnh nhất, tiếp đến là COST và PEN. Nhóm có tác động trung bình gồm TRUST, AWR, INFO và TR. Cấu trúc tác động này có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt: trong bối cảnh quản lý thuế hiện nay, việc tăng cường kiểm tra giám sát theo hướng trọng tâm và duy trì chế tài đủ răn đe vẫn là thúc đẩy tuân thủ; tuy nhiên, chi phí tuân thủ lại là lực cản đáng kể đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, do đó các giải pháp đơn giản hóa thủ tục, giảm thời gian, chi phí kê khai và nộp thuế có thể tạo cải thiện đáng kể về tuân thủ. Về mặt kỹ thuật, các chỉ số Tolerance đều cao và VIF rất thấp, xác nhận mô hình không có đa cộng tuyến, các hệ số hồi quy ổn định và có thể diễn giải riêng rẽ. Ngoài ra, hằng số âm (Constant = −0.740; Sig. = 0.004) chủ yếu mang ý nghĩa tham số hóa mô hình khi các biến độc lập về mức 0; trong thực tế với thang đo Likert, trọng tâm diễn giải nên đặt vào hệ số của các biến giải thích và hệ số chuẩn hoá β. Nếu bạn cung cấp thêm bảng ANOVA (Sig. F) và R², mình có thể viết đoạn kết luận hoàn chỉnh theo dạng chấp nhận giả thuyết H1–H7 và liên hệ trực tiếp với hàm ý quản trị cho Hải Phòng.

Hình 2: Kết quả Histogram

(Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS)

Hình 2 cho thấy, phân phối phần dư chuẩn hoá của mô hình hồi quy với biến phụ thuộc TC có dạng xấp xỉ chuẩn. Các cột tần suất tập trung chủ yếu quanh giá trị 0 và đường cong chuẩn chồng lên histogram khá khớp, phản ánh phần dư không bị lệch đáng kể về một phía. Thông tin mô tả trên hình cho thấy Mean ≈ 0 và Std. Dev. ≈ 0.990 gần bằng 1, phù hợp với đặc tính của phần dư chuẩn hoá, qua đó củng cố giả định phần dư có kỳ vọng bằng 0 và độ phân tán hợp lý trong mô hình. Từ góc độ kiểm định giả định của hồi quy tuyến tính, kết quả này hàm ý giả định phân phối chuẩn của sai số được đáp ứng ở mức chấp nhận được. Việc phần dư phân bố tương đối đối xứng và không xuất hiện đuôi quá dày hay lệch mạnh các kiểm định t và F trong hồi quy có độ tin cậy cao hơn, đặc biệt trong bối cảnh mẫu là 350.

Kết luận

Nghiên cứu đã xây dựng và kiểm định thành công mô hình các nhân tố quyết định sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hải Phòng trên cơ sở kết hợp các tiếp cận răn đe, niềm tin công bằng và hạ tầng thông tin. Kết quả kiểm định cho thấy, bộ thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị đo lường dữ liệu đáp ứng điều kiện phân tích nhân tố. Mô hình hồi quy có năng lực giải thích khá mạnh đối với tuân thủ thuế, các biến độc lập đều có ý nghĩa thống kê và không phát sinh đa cộng tuyến. Về mặt nội dung, mức độ kiểm tra giám sát, chế tài xử phạt, thuế suất về gánh nặng thuế cảm nhận, nhận thức về hiểu biết thuế, niềm tin công bằng minh bạch và dấu vết thông tin khả năng đối chiếu tác động cùng chiều đến tuân thủ thuế; trong khi chi phí tuân thủ tác động ngược chiều và là một lực cản đáng kể. Điều này khẳng định tuân thủ thuế của SME không chỉ phụ thuộc vào “công cụ cưỡng chế” mà còn chịu chi phối mạnh bởi năng lực thực thi, chất lượng môi trường thể chế và gánh nặng chi phí tuân thủ trong thực tế vận hành.

Từ các phát hiện trên, hàm ý quản trị nổi bật là cần một cách tiếp cận đa trụ cột để nâng tuân thủ thuế bền vững. Đối với cơ quan thuế địa phương: (i) Tăng hiệu quả kiểm tra theo hướng trọng tâm, dựa trên rủi ro và dữ liệu, hạn chế kiểm tra dàn trải nhưng vẫn đảm bảo tính chắc chắn của thực thi; (ii) Duy trì chế tài đủ răn đe, đồng thời chuẩn hóa quy trình xử lý để tăng tính nhất quán; (iii) Đẩy mạnh cơ chế đối chiếu dữ liệu trên hóa đơn điện tử và kết nối thông tin nhằm nâng khả năng bị phát hiện một cách chi phí thấp; (iv) Cải thiện chất lượng phục vụ theo hướng minh bạch, công bằng và phản hồi kịp thời để củng cố niềm tin, qua đó thúc đẩy tuân thủ tự nguyện. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ: (i) Ưu tiên thiết lập quy trình kế toán thuế chuẩn hóa, kiểm tra nội bộ trước khi kê khai và lưu trữ hồ sơ đầy đủ; (ii) Đầu tư đào tạo nhân sự kế toán thuế và cập nhật chính sách nhằm giảm sai sót và giảm chi phí tuân thủ phát sinh; (iii) Ứng dụng công nghệ kế toán, hóa đơn điện tử và đối chiếu chứng từ định kỳ để chủ động kiểm soát rủi ro. Đối với nhà hoạch định chính sách, kết quả gợi ý việc giảm chi phí tuân thủ có thể tạo tác động đáng kể đến cải thiện tuân thủ ở khu vực có nhóm doanh nghiệp vốn hạn chế nguồn lực quản trị và nhạy cảm với chi phí hành chính.

Tổng thể, nghiên cứu đã đạt được ba kết quả chính: (1) Đề xuất mô hình nhân tố giải thích tuân thủ thuế phù hợp bối cảnh SMEs địa phương; (2) Kiểm định thực nghiệm cho thấy các nhóm yếu tố thực thi, niềm tin, nhận thức và hạ tầng thông tin đều có vai trò, trong khi chi phí tuân thủ là lực cản quan trọng; và (3) Cung cấp hàm ý quản trị khả thi để đồng thời nâng hiệu lực quản lý thuế và giảm gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu tiếp theo, có thể mở rộng mô hình theo hướng bổ sung biến bối cảnh và kiểm định sâu hơn vai trò điều tiết của năng lực kế toán tài chính bằng mô hình tương tác để làm rõ cơ chế tác động trong các phân khúc SMEs khác nhau.

Nguyễn Thị Thanh Hằng

URL: https://tapchiketoankiemtoan.vn/cac-nhan-to-quyet-dinh-su-tuan-thu-thue-cua-doanh-nghiep-smes-tai-hai-phong-va-vai-tro-dieu-tiet-cua-nang-luc-ke-toan-tai-chinh-d6581.html

© tapchiketoankiemtoan.vn

Hotline: 098 1696069

  • Tin hiệp hội
  • Tin trong nước
  • Nghiên cứu trao đổi
  • Diễn đàn kế toán
  • Nghiệp vụ
  • Tin Quốc tế
  • Chính sách mới

Thông tin hiệp hội

Cơ quan chủ quản

Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin tạp chí

Giấy phép hoạt động báo điện tử: QĐ số: 540/GP-BTTTT của Bộ thông Tin và Truyền Thông cấp ngày 23/08/2021; Số: 05/TTKHCN-ISSN của Cục thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cấp ngày 14/02/2023

Tổng Biên Tập: ThS.Tạ Đức Toàn

Thư ký tòa soạn: Nguyễn Huyền Thương

Trụ sở: Tầng 1 toà New Center số 27 ngõ 26 phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội

Thông tin liên hệ

Email nhận bài Tạp chí in: banbientapvaa@gmail.com

Liên hệ truyền thông: truyenthongaav@gmail.com

Hotline: 098 169 6069
Cấm sao chép dưới mọi hình thức trên TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN, nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.
Coppyright © 2022 TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN. All rights reserved. CMS by Explus