Sự hình thành và phát triển của báo cáo phát triển bền vững trên thế giới

0
435

(TCKT&KT online) – {Bài viết đăng trên Tạp chí Kế toán và Kiểm toán (ISSN 1859 – 1914), số 214, Tháng 7/2021 của TS. Trịnh Quý Trọng – Viện Kế toán, Kiểm toán – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân}

Nghiên cứu này sẽ giúp giải thích rõ hơn ý nghĩa của báo cáo phát triển bền vững cũng như quá trình phát triển và hình thành của báo cáo phi tài chính. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng giúp cho người đọc hiểu được tại sao các công ty tham gia vào việc thực hiện báo cáo phát triển bền vững và việc áp dụng loại báo cáo này tại các nước trên thế giới hiện nay.



Báo cáo phát triển bền vững và quá trình phát triển của báo cáo phi tài chính
Cụm từ “phát triển bền vững” được nhắc đến chính thức lần đầu tiên trong Báo cáo Brundtland năm 1987 của Liên hợp quốc. Theo đó, phát triển bền vững được định nghĩa là “sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của chính họ”.

Có rất nhiều khía cạnh của phát triển bền vững nhưng thường được nhắc đến nhiều nhất là ba yếu tố: kinh tế bền vững, xã hội bền vững và môi trường bền vững. Báo cáo phát triển bền vững ra đời là sự bổ sung cho các báo cáo tài chính truyền thống trên các khía cạnh thông tin về chính sách và thực hành các vấn đề liên quan đến xã hội và môi trường của doanh nghiệp (DN). Hiện nay, đa số các công ty đại chúng lớn trên thế giới đều thực hiện một dạng nào đó của báo cáo phát triển bền vững. Thông thường, những công ty này sẽ công bố một báo cáo phát triển bền vững riêng biệt song song với báo cáo thường niên của công ty. Năm 2020, 90% các công ty trong danh sách S&P 500 (Mỹ) đã công bố báo cáo phát triển bền vững riêng biệt. Một dạng khác để các công ty truyền đạt các thông tin về phát triển bền vững là thông qua các báo cáo tích hợp, trong đó thông tin về chính sách và hoạt động xã hội, môi trường của DN được đưa chung vào trong báo cáo thường niên.

Báo cáo phát triển bền vững xuất hiện từ cuối những năm 1990, gắn liền với sự ra đời của sáng kiến báo cáo toàn cầu (Global Reporting Initiative, gọi tắt là GRI), một tổ chức tiêu chuẩn độc lập quốc tế giúp các DN, chính phủ và các tổ chức khác hiểu và truyền đạt tác động của họ đối với các vấn đề về phát triển bền vững như biến đổi khí hậu, nhân quyền và tham nhũng. Tuy nhiên, sự hình thành của báo cáo phát triển bền vững nằm trong một quá trình phát triển lâu dài hơn của các báo cáo phi tài chính (non-financial reporting). Từ những năm 1970, tại các nước Âu – Mỹ đã xuất hiện các báo cáo xã hội bổ sung thông tin cho các báo cáo tài chính truyền thống. Những báo cáo này thể hiện các thông tin về trách nhiệm xã hội của DN. Đến những năm 1980, mối quan tâm về các yếu tố phi tài chính của DN chuyển dịch sang các vấn đề liên quan đến môi trường như là lượng khí thải hay xử lý rác thải của DN. Trong giai đoạn này, các báo cáo môi trường xuất hiện thay thế cho báo cáo xã hội. Đến cuối những năm 1990, những người nghiên cứu và thực hành báo cáo DN bắt đầu xem xét các yếu tố tác động đến xã hội và môi trường một cách đồng thời và công bố các thông tin này trong một báo cáo chung song song với các báo cáo tài chính truyền thống, từ đó hình thành báo cáo phát triển bền vững như chúng ta biết hiện nay.

Vậy những thông tin nào có thể tìm thấy trong báo cáo phát triển bền vững? Bảng 1 trình bày và phân loại các chủ đề người đọc có thể tìm thấy trên báo cáo phát triển bền vững. Nhìn vào Bảng 1, chúng ta có thể thấy rất nhiều các chủ đề được đề cập đến trong báo cáo phát triển bền vững như khí thải nhà kính, lao động trẻ em, bình đẳng giới và phân biệt chủng tộc, phúc lợi động vật, độ an toàn của sản phẩm,… Khác với báo cáo tài chính truyền thống chủ yếu chỉ cung cấp các thông tin tài chính phục vụ cho nhà đầu tư, các chủ đề trong báo cáo phát triển bền vững có phạm vi rộng hơn nhiều và có tầm quan trọng đối với nhiều bên liên quan của DN như nhà đầu tư, chủ nợ, nhân viên, khách hàng, Chính phủ, và cộng đồng.

Ngoài phạm vi rộng lớn các lĩnh vực được đề cập đến trong báo cáo phát triển bền vững, tính không nhất quán trong cấu trúc và thuật ngữ sử dụng trong báo cáo cũng là các khó khăn cho người lần đầu tiếp xúc với loại báo cáo này. Nguyên nhân của vấn đề này là do báo cáo phát triển bền vững hiện nay, chủ yếu vẫn dựa trên nguyên tắc tự nguyện và chưa được quy định bắt buộc bởi hệ thống kế toán của các quốc gia. Ngay tên gọi của báo cáo phát triển bền vững cũng có sự không nhất quán.

“Báo cáo phát triển bền vững” là tên gọi phổ biến nhất cho loại báo cáo này bên ngoài Mỹ. Các công ty tại Mỹ thường nhắc đến báo cáo này như là báo cáo trách nhiệm xã hội. Trong giai đoạn những năm 1990, báo cáo này lại thường được biết đến như là báo cáo ba dòng cuối (triple-bottom-line report, gọi tắt là TBL), hàm ý nhắc đến ba yếu tố được quan tâm trong các báo này bao gồm kinh tế, xã hội, và môi trường.

Báo cáo ESG (Environment – môi trường, Social – xã hội, Governance – quản trị) cũng là một tên gọi thường được nhắc đến của loại báo cáo này, hàm ý về mối quan hệ chặt chẽ giữa trách nhiệm xã hội và cách thức một tổ chức được quản lý.

Tại sao các công ty tham gia vào báo cáo phát triển bền vững?
Báo cáo phát triển bền vững đã trải qua một sự tăng trưởng bùng nổ trong những năm đầu của thiên niên kỷ. Theo số liệu của GRI, nếu như năm 2000 mới chỉ có dưới 100 công ty công bố báo cáo phát triển bền vững dựa trên nền tảng của GRI thì đến năm 2010, con số này đã là hơn 2.000 công ty. Một số lý thuyết đã được đưa ra để giải thích cho sự phát triển nhanh chóng của báo cáo phát triển bền vững, trong đó lý thuyết các bên liên quan (stakeholder theory) và lý thuyết hợp pháp (legitimacy theory) là những lý thuyết được biết đến nhiều nhất.

Lý thuyết các bên liên quan được Freeman phát triển ban đầu vào năm 1984, trong đó ông định nghĩa các bên liên quan là “bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Khái niệm đó đã mở rộng tầm nhìn của ban giám đốc DN về vai trò và trách nhiệm của họ. Theo đó, lý thuyết các bên liên quan cho rằng, nhiệm vụ của ban giám đốc không nên chỉ tập trung vào lợi ích của các cổ đông mà phải bao gồm lợi ích của tất cả các bên liên quan với DN hay tổ chức đó.

Xét về khía cạnh báo cáo phát triển bền vững, lý thuyết các bên liên quan cho rằng, DN tạo ra các báo cáo về xã hội và môi trường là để đáp ứng lại yêu cầu của các bên liên quan đối với các thông tin này. Ban giám đốc trả lời lại các áp lực công khai của các bên liên quan, bằng cách tự nguyện công bố các thông tin về xã hội và môi trường. Ở đây, cần lưu ý rằng, lý thuyết các bên liên quan nhấn mạnh đến vai trò và yêu cầu của tất cả các nhóm và cá nhân liên quan đến tổ chức (stakeholder) chứ không chỉ quan tâm riêng đến các đòi hỏi từ phía cổ đông (shareholder) – đối tượng thường được đánh giá là bên liên quan quan trọng nhất của công ty. Một vấn đề chính của lý thuyết này là nó không lý giải được tại sao các công ty từ những ngành tương tự nhau, hoạt động trên cùng một phạm vi lãnh thổ địa lý lại cung cấp các báo cáo về xã hội và môi trường ở các mức độ khác nhau (trong khi áp lực từ các bên liên quan đối với thông tin này là tương tự nhau).