Nhân tố tác động đến quyết định chấp nhận kế toán đám mây của nhà quản lý doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán
PGS. TS. Trịnh Hiệp Thiện - ThS. Phan Hoàng Nhật
Thứ sáu, 10/07/2026 11:38 (GMT+7)
Các nghiên cứu trước đây đã xem xét các yếu tố công nghệ, tổ chức và môi trường dẫn đến ý định áp dụng công nghệ mới. Nghiên cứu này khác biệt vì thiết kế góc nhìn khác về vai trò trung gian của chất lượng dịch vụ kế toán (DVKT), giá phí DVKT trong mối quan hệ giữa áp lực cạnh tranh và quyết định chấp nhận kế toán đám mây (KTĐM).
1. Giới thiệu
Trước yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi
và trong quá trình toàn cầu hóa, hiện đại hóa, hoạt động kế toán tại Việt Nam
được phát triển cùng với sự tạo lập, hoàn chỉnh khung pháp lý, tăng cường hoạt
động của các tổ chức nghề nghiệp. Trong bối cảnh ấy, Kế toán đám mây (KTĐM)
đang nổi lên như một giải pháp công nghệ tất yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh. Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán (DVKT), việc ứng dụng
KTĐM mang lại những ưu thế vượt trội như: xử lý giao dịch trực tuyến tiết kiệm
thời gian, kết nối dữ liệu từ xa, giảm thiểu chi phí hạ tầng và khai thác hiệu
quả sức mạnh của dữ liệu lớn (Marand và cộng sự, 2013; Tahmina Khanom, 2017;
Laudien & Pesch, 2019).
Mặc dù các
nghiên cứu trước đây đã khẳng định vai trò của công nghệ thông tin đối với sự
thay đổi của ngành kế toán (Cleary, 2016), nhưng phần lớn các nghiên cứu này chỉ
tập trung phân tích lợi ích chung của KTĐM hoặc nghiên cứu ở góc độ các doanh
nghiệp thông thường trong việc áp dụng KTĐM. Hiện nay, vẫn còn thiếu vắng những
nghiên cứu đi sâu vào phân tích các nhân tố tác động đến quyết định chấp nhận
KTĐM ở các doanh nghiệp đặc thù, nhất là doanh nghiệp cung cấp DVKT – nhóm đối
tượng chịu áp lực rất lớn về việc phải liên tục đổi mới công nghệ để phục vụ đa
dạng khách hàng.
Nhằm lấp đầy
khoảng trống này, nghiên cứu đi sâu phân tích các nhân tố tác động đến quyết định
chấp nhận KTĐM tại các doanh nghiệp cung cấp DVKT trên địa bàn TP. HCM – đầu
tàu kinh tế của Việt Nam. Điểm đóng góp mới của nghiên cứu này so với các công
trình trước đây thể hiện ở hai khía cạnh: (1) Khám phá cơ chế tác động phức tạp
thông qua vai trò trung gian của chất lượng DVKT và giá phí DVKT; (2) Cung cấp
một khung tham chiếu thực tiễn giúp các nhà quản trị doanh nghiệp DVKT đánh giá
toàn diện các rào cản và động lực trước khi triển khai KTĐM.
2. Cơ sở
lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
KTĐM lần đầu tiên được đề cập trong
nghiên cứu của (Ping & Xuefeng, 2011). KTĐM đã được xác định như việc sử dụng
điện toán đám mây thông qua nền tảng internet để xây dựng hệ thống thông tin kế
toán ảo. KTĐM được xây dựng dựa trên sự phát triển của điện toán đám mây (ĐTĐM)
và lưu trữ trên các máy chủ của trung tâm dữ liệu. Đây là nền tảng để đưa dữ liệu
vào phần mềm để xử lý công việc online mọi lúc, mọi nơi trên mọi thiết bị.
Trong KTĐM, dữ liệu được gửi vào “đám mây”, nơi dữ liệu được xử lý và trả lại
cho người dùng (Khanom, 2017).
Với mục đích tổng quan nghiên cứu về
KTĐM trên thế giới, tác giả đã khảo sát các nghiên cứu trên 2 cơ sở dữ liệu:
Google Scholar, và EBSCO với từ khoá tìm kiếm “Cloud accounting” hoặc “Cloud
technology in accounting” hoặc “Cloud-based accounting”. Có 3 nhóm chủ đề
nghiên cứu chính: (1) “Khái niệm, ưu và nhược điểm của KTĐM”; (2) “Nhân tố tác
động đến xu hướng chấp nhận KTĐM” và (3) “Chiến lược tổ chức, quản trị rủi ro
liên quan KTĐM”. Các nghiên cứu tìm hiểu về công nghệ đám mây đối với kế toán
dưới góc độ tìm hiểu khái niệm và lợi ích của KTĐM chủ yếu được thực hiện bằng
cách tổng hợp, phân tích tài liệu nghiên cứu một cách có hệ thống, như nghiên cứu
của Christauskas & Miseviciene (2012); Ðorðević và cộng sự (2018). Các
nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận KTĐM sử dụng khá đa dạng
về phương pháp nghiên cứu. Đối với phương pháp định tính, Kamal và cộng sự (2023)
sử dụng phương pháp “case-study”, Soni và cộng sự (2018) sử dụng phương pháp thống
kê mô tả, kiểm định chi bình phương, phân tích nhân tố và kiểm định ANOVA. Về
phương pháp định lượng, các nghiên cứu trước đây phần lớn được thực hiện dựa
trên dữ liệu sơ cấp, thu thập dữ liệu theo hình thức khảo sát thông qua các
kênh trực tuyến, phỏng vấn chuyên gia …, như nghiên cứu của Hsu & Lin
(2014); Yusuf và cộng sự (2020), khá ít các nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp.
Về chủ đề chiến lược tổ chức, quản trị rủi ro liên quan KTĐM, tất cả nghiên cứu
đều sử dụng phương pháp định tính như Asatiani & Penttinen (2016) sử dụng kỹ
thuật phân tích, so sánh và tổng hợp để phân tích rủi ro và cơ hội của hệ thống
KTĐM. Tại Việt Nam, nghiên cứu KTĐM còn khá hạn chế. Một số tài liệu trên
Internet giới thiệu đơn giản về khái niệm KTĐM cũng như một số công ty triển
khai phần mềm kế toán sử dụng công nghệ đám mây giới thiệu hệ thống này trên
trang web của họ có đề cập đến lợi ích của KTĐM. Điều này nhằm mục đích giúp
khách hàng hiểu rõ hơn về dịch vụ KTĐM mà họ cung cấp. Trong quá trình nghiên cứu,
tác giả đã tham khảo các nghiên cứu của Hoa (2020) và của Thuận (2022) để hiểu
thêm về chủ đề này. Từ việc đánh giá tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam, tác
giả nhận thấy khoảng trống trong nghiên cứu về áp dụng KTĐM cho các DN Việt Nam
và các nhân tố ảnh hưởng đến việc này, đặc biệt là trong các ngành nghề kinh
doanh đặc thù. Chính vì thế, tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu này nhằm
xác định tầm quan trọng của KTĐM trong ngành DVKT và gợi ý một số hàm ý quản trị
cho các NQL DN trong lĩnh vực này.
3. Giả
thuyết nghiên cứu
Tác giả đưa ra
mô hình nghiên cứu dự kiến như Hình 1. Các giả thuyết H1 đến H4
được tác giả kế thừa từ các nghiên cứu trước (các nghiên cứu tại Việt Nam và thế
giới). Giả thuyết H7 thể hiện vai trò trung gian của chất lượng DVKT
ảnh hưởng đến quan hệ giữa áp lực cạnh tranh và quyết định chấp nhận KTĐM. Giả
thuyết H9 thể hệ vai trò điều tiết của nhận thức lợi ích tương đối của
KTĐM đến quan hệ giữa sự quan tâm của NQL cấp cao và quyết định chấp nhận KTĐM.
Tác giả xây dựng giả thuyết H5, H6, H7 thể hiện
đặc trưng của lĩnh vực kinh doanh DVKT và phù hợp với bối cảnh cạnh tranh trong
lĩnh vực kinh doanh này tại Việt Nam.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu dự kiến
(Nguồn: Tác giả tổng hợp và phát triển)
Sự sẵn sàng về CNTT là một thành phần trong yếu tố tổ chức (O) của mô hình TOE. Sự sẵn sàng về CNTT được hiểu là nhận thức và đánh giá của NQL về khả năng DN của họ có đủ nhận thức, nguồn lực, sự cam kết cũng như khả năng quản lý để triển khai CNTT (Gangwar và cộng sự, 2015). Sự quan tâm của NQL cấp cao là một thành phần trong yếu tố tổ chức (O) của mô hình TOE. Tương tự như trong các khía cạnh quản lý khác, lý thuyết về triển khai CNTT cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò hỗ trợ từ các NQL cấp cao trong việc đề xuất, triển khai và áp dụng các kỹ thuật CNTT mới (Jang, 2010; Wang và cộng sự, 2010). Dựa trên quan điểm này, giả thuyết sau được đề xuất:
H1: Sự sẵn sàng về CNTT tác động thuận chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM.
H2: Sự quan tâm của NQL cấp cao tác động thuận chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM.
Quy mô DN là một thành phần trong yếu tố tổ chức (O) của mô hình TOE. Theo Oliveira và cộng sự (2014), quy mô DN là yếu tố tổ chức có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng điện toán đám mây. Các công ty lớn có lợi thế hơn những công ty nhỏ vì chúng có nguồn lực tài chính tốt hơn, cơ sở vật chất hiện đại hơn và có thể có rủi ro cao hơn liên quan đến việc áp dụng đổi mới CNTT. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các công ty nhỏ, mặc dù linh hoạt hơn nhưng sẽ không sẵn sàng áp dụng các công nghệ mới hơn so với các công ty có quy mô lớn. Do đó, quy mô DN là một nhân tố quan trọng mang tính quyết định trong việc áp dụng KTĐM. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
H3: Quy mô DN tác động thuận chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM.
Theo lý thuyết DOI và khía cạnh môi trường (E) của mô hình TOE, áp lực cạnh tranh là động lực cốt lõi thúc đẩy doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ mới. Để ứng phó với áp lực này, việc ứng dụng kế toán đám mây giúp doanh nghiệp tối ưu hiệu quả vận hành và thu thập dữ liệu chính xác (Misra & Mondal, 2011), làm nền tảng cho việc phân tích dữ liệu cũng như phục vụ cho quá trình xây dựng chiến lược để có thể cạnh tranh trong ngành. Từ đó, giả thuyết H4 được đề xuất như sau:
H4: Áp lực cạnh tranh tác động thuận chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM.
Vì ngành DVKT có đặc điểm là không có nhiều rào cản bước vào ngành, vì vậy, theo lý thuyết 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter, các đối thủ cạnh tranh sẽ dễ dàng bước vào ngành và ngành này sẽ có áp lực cạnh tranh cao. Theo các nghiên cứu của Inhofe Rapert & Wren (1998); Mazzeo (2003), các DN hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao phải thường xuyên nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp để có thể cạnh tranh trong ngành. Từ đó, tác giả xây dựng giả thuyết:
H5: Áp lực cạnh tranh tác động thuận chiều đến chất lượng DVKT.
Để nâng cao chất lượng dịch vụ, các doanh nghiệp cung cấp DVKT buộc phải đổi mới công nghệ. Theo lý thuyết DOI, chính định hướng cải thiện chất lượng này là động lực thúc đẩy doanh nghiệp chấp nhận Kế toán đám mây (KTĐM). Việc ứng dụng KTĐM giúp số hóa quy trình luân chuyển chứng từ và cung cấp nền tảng để khách hàng theo dõi tiến độ kế toán theo thời gian thực. Từ lập luận này, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất:
H6: Chất lượng DVKT tác động thuận chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM.
Từ giả thuyết H5 về áp lực cạnh tranh tác động thuận chiều đến chất lượng DVKT, được kết nối với giả thuyết H6 về chất lượng DVKT tác động cùng chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM, nghiên cứu này xây dựng chất lượng DVKT đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa áp lực cạnh tranh và quyết định chấp nhận KTĐM. Điều này có ý nghĩa là đề tài mong đợi chứng minh được môi trường cạnh tranh cao sẽ thúc đẩy DN nâng cao chất lượng DVKT, từ đó dẫn đến quyết định chấp nhận KTĐM để tăng cường thêm chất lượng DVKT cung cấp. Từ đó đề xuất giả thuyết H7 như sau:
H7: Áp lực cạnh tranh có ảnh hưởng gián tiếp đến quyết định chấp nhận KTĐM thông qua chất lượng DVKT.
Nghiên cứu của Al-Jabri & Sohail (2012) chứng minh lợi ích tương đối của thực hiện giao dịch ngân hàng qua điện thoại đã tác động rất lớn đến quyết định sử dụng của người dùng. Trong môi trường kinh doanh ngày nay với sự cạnh tranh khá lớn, khi các DN đều có quyền truy cập vào các công nghệ và kỹ thuật hiện đại, nhân tố lợi ích tương đối có thể là điểm khác biệt quan trọng ảnh hưởng đến việc họ quyết định áp dụng KTĐM. Do đó, giả thuyết sau đây được đưa ra:
H8: Nhận thức lợi ích tương đối tác động thuận chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM.
Giả thuyết H2 cho rằng sự quan tâm của NQL cấp cao có tác động thuận chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM. Ngoài ra, Rogers (2010) cho rằng trước khi chấp nhận áp dụng một sự đổi mới, những chủ DN tiềm năng thường có xu hướng phân tích lợi ích tương đối có liên quan đến chúng. Nghiên cứu của Thuận (2022) cho rằng các NQL cấp cao khi nhận thấy các lợi ích của KTĐM sẽ có xu hướng chấp nhận việc áp dụng loại hình công nghệ này cho DN. Do đó, có thể suy luận rằng nhận thức về lợi ích tương đối của KTĐM có vai trò điều tiết tích cực cho mối quan hệ giữa sự quan tâm của các quản lý cấp cao và quyết định áp dụng KTĐM. Giả thuyết H9 từ đó được phát biểu như sau:
H9: Nhận thức lợi ích tương đối điều tiết tích cực cho mối quan hệ giữa sự quan tâm của NQL cấp cao và quyết định chấp nhận KTĐM.
Sau khi xây dựng mô hình nghiên cứu dự kiến, cùng với thang đo nháp từ quá trình tổng quan các nghiên cứu trước đây và phân tích lý thuyết nền, tác giả sẽ tiếp tục thực hiện phỏng vấn, thảo luận với các chuyên gia nhằm mục đích điều chỉnh mô hình nghiên cứu dự kiến và thang đo cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam (Hoque, 2018). Các chuyên gia tham gia phỏng vấn chuyên sâu, với câu hỏi mở, là NQL có kinh nghiệm làm việc tối thiểu 2 năm trong các DN cung cấp DVKT, bởi lẽ theo Evangelista (2009) khách mời tham gia phỏng vấn cần có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực mà đề tài đề cập đến. Tác giả thực hiện phương pháp chọn mẫu có mục đích với nghiên cứu định tính, vì vậy, những NQL được chọn tham gia phỏng vấn chuyên sâu đều được tác giả chắc chắn có hiểu biết cơ bản về khái niệm KTĐM. Khi thảo luận đến chuyên gia thứ 8, tác giả không thu được ý kiến đóng góp gì mới. Dữ liệu phỏng vấn được tải vào MAXQDA 2023, được đọc nhiều lần và mã hoá ban đầu. Các mã tương tự được sắp xếp thành các thư mục có cùng tên và được gán cho cùng các danh mục liên quan. Khi được hỏi về “Nhân tố nào đặc thù liên quan lĩnh vực DVKT có tác động thúc đẩy xu hướng chấp nhận KTĐM?”, các chuyên gia đề xuất một số nhân tố đặc thù như sau:
Hình 2: Kết quả phân tích định tính theo nhân tố
(Nguồn: Phân tích dữ liệu bằng MAXQDA 2023)
Sau quá trình mã hoá dữ liệu để
phân tích định tính, hình 2 cho thấy nhân tố “Giá phí DVKT” được các chuyên gia
nhắc đến nhiều lần nhất. Ngoài ra, một vài nhân tố mới như “tính bảo mật”,
“tính dễ sử dụng”, “quy định pháp lý kế toán”, “sự sẵn sàng về nhân sự” không
có trong mô hình nghiên cứu dự kiến ban đầu nhưng được nhắc đến trong nội dung
phỏng vấn các chuyên gia, tuy nhiên tần suất xuất hiện không nhiều. Vì vậy, tác
giả không bổ sung các nhân tố này vào mô hình nghiên cứu. Tác giả chỉ chọn bổ
sung thêm biến “giá phí DVKT” vào mô hình nghiên cứu dự kiến để xây dựng nên mô
hình nghiên cứu chính thức (Xem hình 3).
Kết quả phỏng vấn chuyên gia (CG)
cho thấy họ nhận định áp lực cạnh tranh ảnh hưởng ngược chiều với giá phí DVKT.
Cụ thể, một số chuyên gia đã phát biểu như sau:
[…] Vì cạnh tranh, các đối thủ cạnh
tranh giảm giá rất mạnh cho các công ty FDI mới vào thị trường Việt Nam, chưa
có nhiều giao dịch, điều này buộc lòng công ty tôi phải giảm giá phí DVKT của
công ty. (CG4)
[…] Số lượng công ty kế toán, kiểm
toán thành lập ngày càng nhiều thêm, do đó để cạnh tranh, các công ty kiểm toán
cũng phải giảm giá phí dịch vụ kiểm toán và kế toán.(CG6)
Trên cơ sở ý kiến phỏng vấn chuyên gia và tham khảo các nghiên cứu Llewellyn & Drake (2010), Becerra và cộng sự (2013), tác giả đề xuất giả thuyết nếu áp lực cạnh tranh cao thì giá phí DVKT sẽ có xu hướng giảm, cụ thể giả thuyết H10 như sau:
H10: Áp lực cạnh tranh tác động ngược chiều với giá phí DVKT.
Kết quả phỏng vấn chuyên gia cũng
cho thấy, giá
phí DVKT có quan hệ cùng chiều với quyết định chấp nhận KTĐM. Mặc dù áp lực cạnh
tranh làm giảm giá phí DVKT nhưng vẫn đảm bảo tăng xu hướng các NQL chấp nhận sử
dụng KTĐM. Cụ thể, một số chuyên gia đã phát biểu như sau:
[…] Công ty tôi vẫn sử dụng các phần
mềm KTĐM mặc dù giá phí dịch vụ có xu hướng giảm trước áp lực cạnh tranh […] vì
nó thuận tiện cho khách hàng. (CG2)
[…] Khách hàng sẵn sàng chi nhiều
tiền để được phục vụ tốt hơn bằng phần mềm KTĐM. (CG6)
[…] Hoá đơn điện tử, sao kê ngân
hàng có thể đổ dữ liệu tự động vào phần mềm kế toán thì bắt buộc DN nên làm kế
toán trên nền tảng điện toán đám mây… […] DN nên chọn KTĐM như là một giải pháp
cạnh tranh, tốt hơn là chọn chiến lược giảm phí như là giải pháp cạnh tranh. (CG8)
Từ những ý kiến phỏng vấn này, tác
giả đề xuất 2 giả thuyết như sau:
H11: Giá phí DVKT tác động cùng chiều đến quyết định chấp nhận
KTĐM.
H12: Áp lực cạnh tranh có ảnh hưởng gián tiếp đến quyết định
chấp nhận KTĐM thông qua giá phí DVKT.
Sau khi bổ sung thêm giả thuyết H10,
H11 và H12, tác giả điều chỉnh lại mô hình nghiên cứu để
trở thành mô hình nghiên cứu chính thức như sau:
Hình 3:Mô hình nghiên cứu chính thức
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
4. Kết quả nghiên cứu
4.1.
Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong nghiên cứu này, tác giả
sử dụng phần mềm tính toán thống kê (G-power) để xác định cỡ mẫu nghiên cứu, được
sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học y tế xã hội, hành vi và sinh học
(Faul và cộng sự, 2007). Từ kết quả tính toán cho thấy cần thu thập tối thiểu
107 mẫu. Để đạt đủ cỡ mẫu, 250 bảng câu hỏi đã được phân phát và 120 bảng câu hỏi
khảo sát được trả lại, nhưng chỉ có 117 phiếu khảo sát hợp lệ sau khi sàng lọc
và làm sạch, mang lại tỷ lệ phản hồi 46,17%. Như vậy, cỡ mẫu đã đủ theo tiêu
chí số lượng mẫu tối thiểu 107. 117 phiếu khảo sát đến từ 117 DN cung cấp DVKT,
với 70 (59,8%) DN DVKT được cấp phép của Bộ Tài chính, 36 (30,8%) DN DVKT không
nằm trong danh sách của Bộ Tài chính và 11 (9,4%) công ty kiểm toán có cung cấp
DVKT. Tất cả đối tượng tham gia khảo sát đều được sàng lọc qua câu hỏi “Anh/ Chị
có biết về KTĐM không?” trước khi thực hiện các câu trả lời tiếp theo.
4.2.
Kết quả đánh giá mô hình đo lường
Độ tin cậy tổng hợp (CR) của các biến đều cao hơn 0,70 và nhỏ hơn 0,95 (nằm trong khoảng 0,880 – 0,924). Hệ số Cronbach’s Alpha (CA) đều lớn hơn 0,70 và nhỏ hơn 0,95 (nằm trong khoảng 0,857 – 0,929). Điều này cho thấy thang đo sử dụng trong nghiên cứu có độ tin cậy cao (Hair và cộng sự, 2017). Bên cạnh đó, hệ số tải của các biến quan sát đều lớn hơn ngưỡng 0,7, nằm trong khoảng 0,752 – 0,922 (Hair và cộng sự, 2019). Giá trị phương sai trích bình quân (AVE) cao hơn ngưỡng tối thiểu 0,50 (nằm trong khoảng 0,745 – 0,839) (Chin, 2010; Hair và cộng sự, 2017). Vì vậy, kết luận rằng thang đo trong nghiên cứu có đầy đủ giá trị hội tụ. Giá trị căn bậc hai phương sai trích bình quân của các biến nằm trong khoảng 0,822 – 0,916, và đều lớn hơn hệ số tương quan của các biến. Ngoài ra, giá trị hệ số tương quan giữa các biến đều nhỏ hơn độ tin cậy tổng hợp (dao động từ 0,880 – 0,924) (Fornell & Larcker, 1981). Điều đó cho thấy thang đo của nghiên cứu thể hiện được giá trị phân biệt đáp ứng các tiêu chí của Fornell-Lacker. Cuối cùng, tác giả sử dụng hệ số HTMT để đánh giá giá trị phân biệt, kết quả là các hệ số HTMT dao động trong khoảng 0,144 – 0,767, nhỏ hơn ngưỡng 0,90 (Hair và cộng sự, 2019; Henseler và cộng sự, 2015).
4.3.
Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Nhân tố sự sẵn sàng về CNTT (β = 0,497, p-value <0,01), có ảnh hưởng cùng chiều với xu hướng mạnh đến quyết định chấp nhận KTĐM, ủng hộ giả thuyết H1, tương đồng với kết quả của các nghiên cứu trước Tweel (2016); Powelson (2017); Sastararuji và cộng sự (2022). Kết quả nghiên cứu cho thấy những DN có sự chuẩn bị tốt về mặt công nghệ thường sẵn sàng hơn trong việc triển khai KTĐM. Các nhân tố sự quan tâm của NQL cấp cao (β = 0,185, p-value < 0,01), áp lực cạnh tranh (ALCT) (β = 0,145, p-value < 0,05), chất lượng DVKT (CLDV) (β = 0,131, p-value < 0,05) đều có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM nhưng mức độ ảnh hưởng trung bình, ủng hộ giả thuyết H2, H4, và H6.
Các nhân tố quy mô DN (QM) (β = 0,064, p-value < 0,01), lợi ích tương đối (LITD) (β = 0,038, p-value < 0,10), giá phí DVKT (GP) (β = 0,038, p-value < 0,10) đều có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định chấp nhận KTĐM nhưng mức độ ảnh hưởng yếu, tuy nhiên cũng thể hiện ủng hộ giả thuyết H3, H8 và H11. Kết quả nghiên cứu giả thuyết H8, tương đồng với các nghiên cứu của Bhardwaj và cộng sự (2010); Hsu & Lin (2014), cho thấy khi các DN có quyền truy cập thuận tiện đến các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, thì lợi ích tương đối mà một công nghệ mang lại sẽ là yếu tố quyết định trong việc ảnh hưởng đến sự lựa chọn áp dụng công nghệ mới, cụ thể ở đây đang đề cập đến ứng dụng công nghệ điện toán trong kế toán. Bên cạnh đó, kết quả kiểm định giả thuyết H11 cho thấy khi giá phí DVKT cao thì DN cung cấp DVKT sẵn sàng chấp nhận ứng dụng công nghệ mới KTĐM vào quá trình cung cấp DVKT để đảm bảo tương xứng với mức phí dịch vụ cao. Kết quả chấp nhận giả thuyết H5 cho thấy có sự thống nhất trong kết luận về mối quan hệ cùng chiều giữa áp lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ, như những nghiên cứu khác trên thế giới (Inhofe Rapert & Wren, 1998; Mazzeo, 2003). Cuối cùng, chỉ có một quan hệ nghịch chiều, đó là nhân tố áp lực cạnh tranh có tác động nghịch chiều rất mạnh đến giá phí DVKT với hệ số β = -0,836, p-value < 0,01, cũng cho thấy ủng hộ giả thuyết nghiên cứu H10.
Hình 4: Kết quả phân tích mô hình nghiên cứu
(Nguồn: Phân tích dữ liệu bằng SmartPLS
4.0)
Hình 5: Kết quả phân tích điều tiết của
biến LITD
(Nguồn: Phân tích dữ liệu bằng SmartPLS
4.0)
5. Kết luận và Thảo luận kết quả
nghiên cứu
5.1. Kết luận
Nghiên
cứu đã xây dựng và kiểm định thành công mô hình các nhân tố tác động đến quyết
định chấp nhận KTĐM tại các doanh nghiệp cung cấp DVKT. Với giá trị R² điều chỉnh
đạt 0,684 cho thấy mô hình nghiên cứu có khả năng giải thích đáng kể sự biến
thiên trong quyết định của các doanh nghiệp. Kết quả đã làm sáng tỏ không chỉ
các tác động trực tiếp mà còn phác họa rõ nét các cơ chế trung gian và điều tiết
phức tạp trong quá trình đưa ra quyết định chuyển đổi số, đặc biệt dưới sức ép
của Cách mạng công nghiệp 4.0.
5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, về cơ chế trung gian của
Chất lượng DVKT và Giá phí DVKT, nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm
quan trọng về vai trò trung gian của Chất lượng DVKT (CLDV) và Giá phí DVKT
(GP) trong mối quan hệ giữa Áp lực cạnh tranh (ALCT) và Quyết định chấp nhận
KTĐM (chấp nhận giả thuyết H7 và H12).
- Tác động trái chiều nhưng mang tính
chiến lược: Cụ thể, ALCT tác động đến quyết định chấp nhận KTĐM thông qua CLDV
với hệ số dương (beta = 0,122, p-value < 0,1) và thông qua GP với hệ số âm
(beta = -0,032, p-value < 0,1). Điều này cho thấy, trong môi trường cạnh
tranh cao, các doanh nghiệp cung cấp DVKT bị cuốn vào cuộc chiến giảm giá phí sẽ
có xu hướng e ngại và giảm ý định áp dụng KTĐM. Ngược lại, nếu chọn chiến lược
cạnh tranh bằng chất lượng cao, ý định áp dụng KTĐM lại có sự gia tăng mạnh mẽ.
- Tổng tác động tích cực: Điểm đáng chú
ý là khi xét tổng thể, hệ số tác động tổng hợp của ALCT lên quyết định chấp nhận
KTĐM vẫn mang giá trị dương (beta = 0,113, p-value < 0,01). Điều này cho thấy
nếu xét về mặt tổng thể, dù giá phí DVKT có khả năng giảm, nhưng không làm giảm
xu hướng chấp nhận sử dụng KTĐM. Nguyên nhân cốt lõi là các nhà quản lý (NQL) vẫn
đặt chất lượng dịch vụ lên hàng đầu và họ hiểu rằng chi phí triển khai KTĐM là
khoản đầu tư chiến lược dài hạn, không nhất thiết phải bù đắp ngay lập tức
thông qua việc tăng giá phí dịch vụ.
Thứ hai, về vai trò điều tiết của
Nhận thức lợi ích tương đối (LITD), nghiên cứu đã khẳng định giả thuyết H8
(beta = 0,038, p-value < 0,1), chứng minh sự điều tiết tích cực của biến
LITD. Phân tích độ dốc đơn giản chỉ ra rằng, khi NQL có nhận thức tích cực và
rõ ràng về lợi ích tương đối của KTĐM (LITD ở mức +1SD), tác động của “sự ủng hộ
từ NQL cấp cao” đến “ý định áp dụng” sẽ được khuếch đại và mở rộng hơn rất nhiều
so với nhóm có nhận thức tiêu cực (LITD ở mức -1SD). Điều này cho thấy muốn
thúc đẩy chuyển đổi thành công, tổ chức trước hết phải làm rõ được giá trị ưu
việt của KTĐM so với hệ thống cũ.
6. Đóng góp của nghiên cứu và Hàm ý quản trị
Từ những thảo luận định lượng ở trên, nghiên cứu rút ra các đóng góp cốt
lõi trên hai phương diện:
6.1. Đóng góp về mặt học thuật
Nghiên cứu làm phong phú thêm hệ
thống lý thuyết về hành vi chấp nhận công nghệ trong lĩnh vực kế toán, đặc biệt
tại các doanh nghiệp cung cấp DVKT. Điểm sáng lớn nhất của nghiên cứu là việc
khám phá sự tác động phức tạp thông qua vai trò trung gian của Chất lượng DVKT
và Giá phí DVKT. Phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng, bổ
sung cho các lý thuyết trước đây (Cleary & Quinn, 2016; Gill, 2011) bằng
cách khẳng định: Sức ép cạnh tranh về giá không phải là rào cản tuyệt đối cản
trở đổi mới công nghệ, miễn là công nghệ đó (KTĐM) được chứng minh là nhân tố cốt
lõi giúp nâng cao chất lượng dịch vụ.
6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn và hàm ý quản trị
Từ các
kết quả thực nghiệm, nghiên cứu cung cấp những định hướng mang tính chiến lược
cho các NLQ tại các doanh nghiệp cung cấp DVKT:
- Chiến
lược đầu tư và định giá dịch vụ: NQL không nhất thiết phải dùng việc tăng giá
phí dịch vụ để bù đắp chi phí triển khai KTĐM. Ngay cả khi phải cạnh tranh bằng
cách giảm giá phí DVKT, việc đầu tư vào KTĐM vẫn là quyết định đúng đắn để giữ
chân khách hàng bằng chất lượng vượt trội so với mô hình truyền thống, từ đó
duy trì thị phần và tối ưu hóa lợi nhuận trong dài hạn.
- Chuyển
đổi nhận thức chiến lược: NQL cần nhìn nhận KTĐM không chỉ là công cụ hỗ trợ xử
lý nghiệp vụ đơn thuần như các phần mềm kế toán đóng gói thông thường, mà là một
tài sản công nghệ chiến lược. Hệ thống này giúp chuyển hóa các dữ liệu kế toán
- tài chính rời rạc thành nguồn thông tin phân tích có giá trị theo thời gian
thực, làm cơ sở vững chắc giúp ban lãnh đạo đưa ra các quyết định kinh doanh
nhanh chóng và chuẩn xác.
- Đánh
giá sự sẵn sàng của tổ chức: Trước khi áp dụng KTĐM, tổ chức cần chủ động rà
soát tính tương thích của cơ sở hạ tầng CNTT hiện tại, mức độ sẵn sàng của nhân
sự và tính toàn vẹn của dữ liệu để đảm bảo quá trình chuyển đổi diễn ra suôn sẻ
từ đó đảm báo tính kịp thời trong việc cung cấp thông tin cho NQL để họ đưa ra
quyết định kinh doanh.
7. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai
Mặc dù
mang lại những đóng góp nhất định, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế từ đó
có thể mở ra định hướng cho các nghiên cứu trong tương lai:
- Giới
hạn về không gian và mẫu khảo sát: Nghiên cứu chỉ tập trung vào các doanh nghiệp
cung cấp DVKT trên địa bàn TP. HCM. Mặc dù đây là trung tâm kinh tế lớn, nhưng
đặc thù văn hóa kinh doanh có thể khác biệt so với các khu vực khác. Các nghiên
cứu tương lai nên mở rộng phạm vi khảo sát ra quy mô quốc gia hoặc so sánh giữa
các khu vực kinh tế trọng điểm.
- Giới
hạn về phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập tại một
thời điểm nhất định. Do công nghệ KTĐM phát triển liên tục, các nghiên cứu tiếp
theo có thể cân nhắc sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian để đánh giá sự thay đổi
trong quyết định chấp nhận công nghệ của doanh nghiệp cung cấp DVKT qua các
giai đoạn khác nhau.
- Giới
hạn về các biến số trong mô hình: Mô hình tập trung vào áp lực cạnh tranh, nhận
thức lợi ích và sự sẵn sàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh thực tế, các yếu tố như
rủi ro bảo mật dữ liệu, chính sách hỗ trợ chuyển đổi số của nhà nước cũng đóng
vai trò rất quan trọng. Các nghiên cứu sau có thể mở rộng mô hình bằng cách đưa
các biến số này vào kiểm định để tăng sức mạnh giải thích.
Trong bối cảnh định hướng bãi bỏ điều kiện kinh doanh và điều kiện hành nghề dịch vụ kế toán, việc xây dựng Chương trình chuẩn nghề nghiệp của VICA không nhằm tạo ra một “giấy phép” mới, mà hướng tới hình thành một cơ chế nghề nghiệp tự nguyện, minh bạch, giúp thị trường nhận diện tốt hơn chất lượng dịch vụ kế toán.
Đối với lĩnh vực kế toán và kiểm toán, Al có thể thay thế con người không? Sử dụng Al như một con người hay như một công cụ? Khi Al tham gia sâu vào nghề, giá trị của người làm kế toán và kiểm toán là gì?... Đó là những nội dung được các chuyên gia thảo luận chuyên sâu tại Hội thảo " Xu thế và tác động của Al đến nghề Kế toán và kiểm toán" tổ chức tại Hà nội sáng ngày 8/7/2026.
Ngày 02/7/2026, tại Hà Nội, Bộ Tài chính tổ chức Hội thảo trao đổi, lấy ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập. Hội thảo do Lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán - Bộ Tài chính chủ trì, với sự tham dự của đại diện các cơ quan của Quốc hội, các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, tổ chức nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ kế toán, kiểm toán và các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán.
Việc định hướng bãi bỏ điều kiện kinh doanh, điều kiện hành nghề dịch vụ kế toán là một bước chuyển đáng chú ý trong cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh.
Ngày 27/6/2026, Hội nghị Ban Thường vụ lần 10, Ban chấp hành lần thứ 5 khoá VII Hiệp hội Kế toán và kiểm toán Việt Nam (VAA) vừa sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 và phương hướng nhiệm vụ nửa cuối năm.
Luật Kế toán năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho hoạt động kế toán trong gần một thập kỷ qua, góp phần đưa công tác kế toán ở cả khu vực công và khu vực doanh nghiệp đi vào nền nếp; đồng thời đặt cơ sở cho việc lập Báo cáo tài chính nhà nước, hoàn thiện chuẩn mực kế toán và hình thành thị trường dịch vụ kế toán. Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã có nhiều thay đổi. Chuyển đổi số, hóa đơn điện tử, giao dịch điện tử, phần mềm kế toán, dữ liệu thuế, kho bạc số và các cơ sở dữ liệu chuyên n