Mức độ vận dụng kế toán quản trị tác động đến hiệu quả hoạt động của các trường đại học công lập tại Việt Nam

0
216

(TCKT&KT online) – Trong thời đại 4.0 hiện nay, dưới những áp lực về thể chế và cạnh tranh, các trường đại học cần phải có sự thay đổi toàn diện để nâng cao chất lượng giáo dục. Để nâng cao được chất lượng đào tạo các trường đại học, cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, trong đó phải có sự thay đổi toàn diện về hệ thống thông tin kế toán, đặc biệt là kế toán quản trị (KTQT).

Những năm sắp tới, theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021, các trường đại học công lập (ĐHCL) trong nước sẽ phải tự chủ về tài chính thì việc quản trị tài chính một cách hiệu quả lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bài báo này sẽ tìm hiểu và nghiên cứu khám phá về các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT tác động đến hiệu quả hoạt động của các trường ĐHCL, tại Việt Nam. Quy trình nghiên cứu định tính sẽ được tiến hành, bằng cách thảo luận và phỏng vấn sâu với các chuyên gia đang công tác tại các trường ĐHCL. Việc nghiên cứu này, nhằm nhận diện ra các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT trong các trường ĐHCL tại Việt Nam và từ đó xem xét mức độ tác động của nó đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường ĐHCL tại Việt Nam như thế nào?

Từ khóa: KTQT, yếu tố của mức độ vận dụng KTQT, hiệu quả hoạt động của trường ĐHCL tại Việt Nam.

ABTRACTS:

In the current 4.0 eras, under institutional and competitive pressures, universities need to make a comprehensive change to improve the quality of education. In order to improve the quality of training, universities need to improve their operational efficiency, in which there must be a comprehensive change in the accounting information system, especially in management accounting. In the coming years, according to Decree No. 60/2021/ND – CP dated June 21, 2021, public universities in the country will have to be self-financed, so that the effective financial management is more urgent than ever. This article will explore and explore the factors of the level of application of international accoun ing that affect the performance of quality universities in Vietnam. The qualitative research process will be coducted by discussing and in-depth interviews with experts working at quality universities. This study aims to identify the factors of the level of application of international accounting in quality universities in Vietnam, and from there examine its impact on improving the performance of quality universities in Vietnam.

Key words: Management accounting, factors of the level of application of management accounting, performance of public universities in Vietnam.

  1. Giới thiệu

Trong môi trường hội nhập quốc tế, giáo dục đại học luôn là một trong những lĩnh vực cần có sự quan tâm và đầu tư đúng mức của mỗi quốc gia (John Stephenson, 1998). Các trường ĐHCL tại Việt Nam cần nâng cao chất lượng đào tạo, để xây dựng thương hiệu cũng như cạnh tranh với các trường trong khu vực và trên thế giới (Khaled Hutaibat và cộng sự, 2019). Để thực hiện được việc này, các trường ĐHCL tại Việt Nam cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình (Khaled Hutaibat và cộng sự, 2019). Trong đó, công tác quản trị tài chính đóng góp một phần không nhỏ trong việc giúp cung cấp các thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời cho lãnh đạo nhà trường, trong việc ra quyết định và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường (Vuokko Kohtamäki và cộng sự, 2004).

Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Trong đó, tự chủ tài chính được coi là vấn đề quan trọng nhất đối với các trường bởi nó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường (Vuokko Kohtamäki và cộng sự, 2004). Chính phủ đã ban hà̀nh Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và xác định rõ lộ trình thực hiện cơ chế tự chủ của các đơn vị này. Thêm vào đó, để thích ứng với sự thay đổi trên và bắt kịp với sự tiến bộ của các trường đại học trên thế giới thì vấn đề đặt ra là, các trường ĐHCL ở Việt Nam cần phải vận dụng các công cụ KTQT hiện đại để cung cấp thông tin hữu ích cho các lãnh đạo, trong việc ra các quyết định điều hành hoạt động của nhà trường (Vuokko Kohtamäki và cộng sự, 2004) và (Khaled Hutaibat và cộng sự, 2019). 

Tuy nhiên thực tế, tổng quan các nghiên cứu về KTQT tại các trường ĐHCL tại Việt Nam cho thấy mức độ vận dụng KTQT của các trường chỉ ở mức sơ khai nên vẫn còn nhiều hạn chế (Lê Quốc Diễm, 2020). Hầu hết các trường ĐHCL Việt Nam chỉ quan tâm đến hệ thống kế toán tài chính, KTQT ít được quan tâm và nếu có cũng chỉ là vận dụng các công cụ kỹ thuật đơn giản nên hiệu quả đóng góp vào công tác quản trị chưa cao (Lê Quốc Diễm, 2020). Vậy nên, cần phải có một nghiên cứu nhằm khám phá ra các yếu tố tác động đến mức độ vận dụng KTQT tại các trường ĐHCL tại Việt Nam, hướng đến nâng cao hiệu quả hoạt động của trường ĐHCL tại Việt Nam. Hay nói cách khác, việc nghiên cứu nhằm nhận diện và khám phá ra các nhân tố tác động đến mức độ vận dụng KTQT trong các trường ĐHCL ở Việt Nam, là rất cần thiết. Khi đã xác định được những nhân tố này, các trường sẽ chủ động hơn trong việc triển khai kế hoạch để vận dụng có hiệu quả KTQT, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường.

  1. Các khái niệm liên quan đến KTQT và các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT trong các đơn vị công từ các nghiên cứu trước

2.1. Khái niệm KTQT

Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) thì: “KTQT là quá trình xác định, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, diễ̃n giải và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho các nhà quản trị thực hiện chức năng hoạch định, đánh giá, kiểm soát và điều hành hoạt động tổ chức, để đảm bảo rằng nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu quả và có trách nhiệm” (IFAC, 1998, trang 99). Tại Việt Nam, theo Luật Kế toán số 88/2015/QH13 Điều 3 khoản 10 thì: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.

2.2. Các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT trong các đơn vị công từ các nghiên cứu trước

2.2.1. Nhóm các yếu tố về đặc điểm của ban lãnh đạo

Thứ nhất là, nhận thức về KTQT của ban lãnh đạo: với vai trò chỉ huy, ban lãnh đạo có quyền quyết định liên quan đến việc tổ chức triển khai vận dụng KTQT, bổ sung hoặc cải tiến các công cụ KTQT mới. Do vậy, nhận thức về KTQT của ban lãnh đạo là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong tổ chức (Trần Ngọc Hùng, 2016; Phạm Ngọc Toàn và Phạm Thị Ánh Hồng, 2017). (Davis, 1989) cho rằng, nhận thức bao gồm nhận thức về mức độ hữu ích và nhận thức về việc dễ sử dụng. Nhận thức về mức độ hữu ích là mức độ mà ban lãnh đạo tin rằng, việc vận dụng KTQT sẽ mang lại lợi ích cho tổ chức. Nhận thức dễ sử dụng là mức độ mà ban lãnh đạo tin rằng, việc họ có thể vận dụng KTQT mà không tốn quá nhiều công sức hoặc nỗ lực nào cả về thể chất lẫn tinh thần.

Thứ hai là, tâm lý ngại đổi mới: tâm lý ngại đổi mới cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các tổ chức, đặc biệt là sự e ngại xuất phát từ ban lãnh đạo. Cho dù là ban lãnh đạo nhận thức được lợi ích của việc vận dụng KTQT nhưng những lo ngại như việc vận dụng KTQT có thể sẽ tốn kém nhiều chi phí, có thể sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể sẽ dẫn đến thất bại hoặc nghĩ rằng mình không đủ nguồn lực để vận dụng… thì ban lãnh đạo cũng sẽ không ủng hộ việc vận dụng KTQT trong tổ chức. (Waweru et al, 2004) kết luận rằng, thiếu nguồn lực và tâm lý sợ đổi mới là hai lý do chính cản trở sự thay đổi KTQT, trong các tổ chức ở Nam Phi. (Nguyễn Việt Hưng, 2016) kết luận rằng, tâm lý hạn chế thay đổi là một trong những nhân tố cản trở việc vận dụng thành công phương pháp phân bổ chi phí dựa trên hoạt động (ABC).

2.2.2. Nhóm các yếu tố về đặc điểm bên trong tổ chức

Một là, quy mô tổ̉ chức: quy mô tổ chức có thể được đo lường bằng nguồn lực của tổ chức như số lượng nhân viên, tổng tài sản hay đo lường bằng kết quả của tổ chức như số lượng khách hàng, doanh số hoặc doanh thu (Maleen and Michael, 2009). Tăng trưởng quy mô cho phép các tổ chức nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo cơ hội cho sự chuyên môn hóa và tăng cường khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, khi tổ chức có quy mô lớn, đặt ra yêu cầu phải phân cấp quản lý cộng với khối lượng thông tin cần phải xử lý trở nên nhiều và phức tạp hơn, do vậy cần vận dụng KTQT một cách chính thức và toàn diện hơn (Abdel-Kader and Luther, 2008). (Haldma and Laats, 2002) cũng cho rằng, mức độ phức tạp của kế toán chi phí và dự toán có xu hướng tăng theo quy mô tổ chức.

Hai là, chiến lược tổ chức: chiến lược là cách mà tổ chức với những nguồn lực nội tại của mình nắm bắt được những cơ hội của thị trường để đạt được những mục tiêu của tổ chức (Atkinson et al., 2012). Các nghiên cứu về KTQT dựa trên lý thuyết bất định, tập trung vào việc xác định các kỹ thuật KTQT phù hợp nhất cho chiến lược cụ thể của tổ chức, vì việ̣c vận dụng KTQT đã được coi là công cụ để thực hiện chiến lược tổ chức. Chẳng hạn (Chenhall and Langfield-Smith, 1998) đã kiể̉m tra mối quan hệ giữa việc vận dụng KTQT và hai chiến lược, cụ thể là dẫn đầu chi phí và sản phẩm khác biệt. Kết quả cho thấy, một số kỹ thuật KTQT như phân bổ chi phí dựa trên hoạt động (ABC) và lập kế hoạch chiến lược có lợi cho cả hai chiến lược.

Ba là, văn hóa tổ chức: kết quả nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ của (Erserim, 2012) cho thấy, ba trong bốn loại văn hóa tổ chức có tác động đến việc vận dụng KTQT đó là văn hóa hỗ trợ, văn hóa dựa trên quy tắc và văn hóa định hướng mục tiêu. (Goddard, 1997) chỉ ra mối quan hệ văn hoá tổ chức với kiểm soát ngân sách trong các chính quyền địa phương tại Anh. Ngoài ra (Chia and Koh, 2007) cũng cho rằng, có mối quan hệ giữa văn hoá tổ chức với việc vận dụng KTQT trong khu vực công ở Singapore.

Bốn là, trình độ của nhân viên kế toán: để vận dụng thành công KTQT trong tổ chức không thể không xét đến trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán (Vương Thị Nga, 2015; Trần Ngọc Hùng, 2016; Phạm Ngọc Toàn và Phạm Thị Ánh Hồng, 2017). Trong nghiên cứu của mình (Ahmad, 2012) cho rằng, bằng cấp của nhân viên kế toán như bằng trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc sau đại học phản ánh trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán. Trong một loạt các nghiên cứu về kế toán khu vực công ở (Malaysia, Saleh, 2008) kết luận rằng, trình độ nhân viên kế toán có ảnh hưởng đến công tác kế toán trong các tổ chức chính phủ.

2.2.3. Yếu tố về đặc điểm bên ngoài tổ chức

Mức độ cạnh tranh: là mức độ mà một tổ chức phải đối phó với đối thủ của mình về nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, giá cả, kênh phân phối hay sự đa dạng của sản phẩm (Đoàn Ngọc Phi Anh, 2012). Chính môi trường cạnh tranh khốc liệt đã tạo nên những áp lực, những rủi ro, sự hỗn loạn và sự bất ổn cho các tổ chức (Mia and Clarke, 1999). Trong những tình huống như vậy, các tổ chức thường sử dụng nhiều công cụ KTQT khác nhau để hỗ trợ cho việc ra quyết định, nhằm chiếm lợi thế cao hơn so với đối thủ trên thị trường. Các nhà nghiên cứu KTQT dựa trên quan điểm của lý thuyết bất định, xem mức độ cạnh tranh như là một biến thuộc môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT của tổ chức (Chenhall, 2007).

  1. Lý thuyết nền

3.1. Lý thuyết sự phù hợp ngữ cảnh (Contingency Theory)

Lý thuyết sự phù hợp ngữ cảnh là một cách tiếp cận để nghiên cứu hành vi tổ chức, trong đó đưa ra những giải thích về các yếu tố ngữ cảnh ảnh hưởng như thế nào đến thiết kế và chức năng của tổ chức (Jesmin and Hui, 2012). Trước đây, lý thuyết tổ chức truyền thống tin rằng có thể thiết kế được một cơ cấu tối ưu cho tất cả các tổ chức. Tuy nhiên, lý thuyết sự phù hợp ngữ cảnh lại cho rằng, sẽ không tồn tại một cơ cấu chung được cho là “tốt nhất” dành cho mọi tổ chức. Một tổ chức có thành công hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức với các yếu tố ngữ cảnh như môi trường, chiến lược, công nghệ, quy mô và văn hóa (Chenhall, 2007). Cơ cấu tổ chức được xem là tốt nhất, phải đảm bảo cơ cấu đó là phù hợp với các yếu tố ngữ cảnh nói trên, trong một khoảng thời gian nhất định. Khi một hoặc nhiều yếu tố ngữ cảnh thay đổi thì một cơ cấu tổ chức khác có thể sẽ phù hợp hơn, đối với tổ chức (Maleen and Michael, 2009).

3.2. Lý thuyết khuyếch tán sự đổi mới (Diffusion of Innovations Theory)

Khuyếch tán sự đổi mới là tác phẩm kinh điển về sự lan truyền những ý tưởng mới của tác giả (Rogers, 1983). Theo ông, khuyếch tán là quá trình mà cái mới được truyền đi thông qua các kênh theo thời gian giữa các thành viên trong xã hội.

(Rogers, 1983) nhận thấy rằng, quyết định của một cá nhân trong việc chấp nhận một sự đổi mới không phải là một hành động tức thời. Thay vào đó, nó là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn, ảnh hưởng đến sự sẵn sàng của họ để thông qua sự đổi mới. Quá trình này gồm 5 bước:

(1) Sự hiểu biết (Knowledge): đây là giai đoạn tiếp cận, tìm hiểu, tiếp thu hay nhận thức về những ý tưởng mới này.

(2) Sự thuyết phục (Persuasion): một khi cá nhân đã có những hiểu biết cơ bản về cái mới, họ sẽ bắt đầu cân nhắc những điểm lợi và bất lợi khi chấp nhận đổi mới.

(3) Quyết định (Decision): sau khi đã cân nhắc kỹ càng, cá nhân sẽ đưa ra quyết định ban đầu về việc chấp nhận hay từ chối sự đổi mới

(4) Thực hiện (Implementation): đây là giai đoạn triển khai thực hiện những ý́ tưởng, kế hoạch mới này.

(5) Xác nhận (Confirmation): người dùng đánh giá kết quả thực hiện sự đổi mới và đưa ra quyết định cuối cùng, về việc tiếp tục duy trì hay chấm dứt sự đổi mới.     

Mặc dù các nghiên cứu trước đều có những đóng góp nhất định về mặt lý luận cũng như thực tiễn ứng dụng. Tuy nhiên: thứ nhất, vẫn còn ít nghiên cứu được thực hiện với mục đích khám phá các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT tại Việt Nam. Đặc biệt, tác giả nhận thấy chưa có nghiên cứu nào được thực hiện, nhằm mục đích khám phá các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT các trường ĐHCL tại Việt Nam. Do vậy, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ khám phá các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT trong các trường ĐHCL tại Việt Nam; thứ hai, để khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước, nghiên cứu này sẽ dựa trên quan điểm của lý thuyết bất định và lý thuyết khuyếch tán sự đổi mới để lập luận các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT và hiệu quả hoạt động của các trường ĐHCL tại Việt Nam; thứ ba, tác giả nhận thấy chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại Việt Nam, nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ vận dụng KTQT với hiệu quả hoạt động của các tổ chức công tại Việt Nam. Do vậy, trong nghiên cứu này, ngoài việc khám phá các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT của các trường ĐHCL tại Việt Nam, tác giả còn khám phá mối quan hệ giữa mức độ vận dụng KTQT đến hiệu quả hoạt động của các trường ĐHCL tại Việt Nam.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện tại Việt Nam, cụ thể là các trường ĐHCL tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình/trường hợp được coi là thích hợp, để có thể tạo ra các kết quả theo cách phù hợp về mặt lý thuyết và thực tế đối với mô hình nghiên cứu (Yin, 2009). Nghiên cứu định tính rất phù hợp với các loại câu hỏi về yếu tố của mức độ vận dụng KTQT tạo nên hiệu quả hoạt động của các trường ĐHCL tại Việt Nam. Việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu phải phản ánh chủ đề nghiên cứu và chiến lược nghiên cứu tổng thể như phương pháp luận định hình phương pháp nào được sử dụng và cách sử dụng phù hợp cho mỗi phương pháp (Silverman, 2010).

Trong nghiên cứu này, ba trường ĐHCL được lựa chọn như các tình huống cụ thể và có chủ đích để cung cấp những hiểu biết sâu sắc hơn về yếu tố của mức độ vận dụng KTQT tại các trường ĐHCL ở Việt Nam. Để bảo vệ tính bảo mật và riêng tư của các tổ chức, sự việc sẽ không được công khai mặc dù mọi nỗ lực đều được thực hiện, để cung cấp cho người đọc sự hiểu biết sâu sắc thêm về mối quan hệ mới này. Trong nghiên cứu này, lựa chọn ba trường ĐHCL có bề dày lịch sử khá lâu đời, từ 45 năm trở lên, trải qua nhiều giai đoạn sẽ có sự thay đổi và cải tiến phù hợp trong mức độ vận dụng KTQT để đạt được hiệu quả hoạt động.

Đề tài nghiên cứu khám phá các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT tác động đến hiệu quả hoạt động của trường ĐHCL tại Việt Nam, nên những người được phỏng vấn phải là những người thực hiện công tác KTQT và những người sử dụng thông tin KTQT. Là những người có trải nghiệm về vấn đề đang được nghiên cứu (Yin, 2009). Các nhóm đối tượng tham gia phỏng vấn gồm: các kế toán phụ trách mảng KTQT và các kế toán trưởng tại trường ĐHCL, ban lãnh đạo các trường đại học. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc phù hợp với nghiên cứu này, vì người phỏng vấn có thể thay đổi thứ tự các câu hỏi khi theo dõi cuộc phỏng vấn, để tìm hiểu hành vi của người được phỏng vấn.

  1. Kết luận và hàm ý

Kết quả nghiên cứu khám phá cho thấy, các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT tại các trường ĐHCL gồm: nhận thứ́c về KTQT của ban lãnh đạo; tâm lý ngại đổi mới; quy mô tổ chức; chiến lược tổ chức; văn hóa tổ chức; trình độ của nhân viên kế toán; và mức độ cạnh tranh. Những yếu tố này có mức độ tác động một cách đáng kể đến hiệu quả hoạt động của trường ĐHCL tại Việt Nam, thông qua ba trường hợp được tác giả nghiên cứu sâu. Nghiên cứu góp phần khám phá các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT trong các trường ĐHCL tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng kiểm tra mối quan hệ của mức độ vận dụng KTQT đến hiệu quả hoạt động của các trường ĐHCL ở Việt Nam. Nghiên cứu kỳ vọng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các nghiên cứu khoa học sau này, về những vấn đề liên quan. Kết quả của nghiên cứu hàm ý lãnh đạo các trường ĐHCL Việt Nam, nhận thức mạnh mẽ hơn về sự cần thiết của việc nâng cao mức độ vận dụng KTQT vào đơn vị mình và nâng cao hiệu quả hoạt động của trường ĐHCL ở Việt Nam.

Th.S. Vũ Hải Yến – Trường Đại học Ngân hàng Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo

  1. Abdel-Kader, M., and Luther, R,(2008), The Impact of Firm Characteristics on Management Accounting Practices: A UK-Based Empirical Analysis. The British Accounting Review, Vol.40, No.1, pp.2 – 27.
  2. Atkinson, A.A., et al., (2012), Management accounting: information for decision-making and strategy executive. 6th edition. New Jersey: Pearson Prentice Hall.
  3. Chenhall, R.H., (2007), Theorizing Contingencies in Management Control Systems Research. In: Chapman, C.S., et al., eds. 2007. Handbook of Management Accounting Research. Oxford: Elsevier. Ch.6.
  4. Chenhall, R.H., and Langfield-Smith, K., (1998), The relationship between strategic priorities, management techniques and management accounting: an empirical investigation using a systems approach. Accounting, Organizations and Society, Vol.23, No.3, pp.243-264.
  5. Chia, Y.M., and Koh, H.C., (2007), Organizational culture and the adoption of management accounting practices in the public sector: A Singapore study. Financial Accountability & Management, Vol.23, No.2, pp.189-213.
  6. Davis, F.D., (1989), Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS quarterly, Vol.13, pp.319-340.
  7. Diem, L.Q., (2020), Management accountants at public universities implement the financial autonomy mechanism in Vietnam. Doctoral thesis. Financial institutions.
  8. Erserim, A., (2012), The impacts of organizational culture, firm are characteristics and external environment of firms on management accounting practices: an empirical research on industrial firms in Turkey. Procedia – Social and Behavioral Sciences, Vol 62, pp.372 – 376.
  9. Goddard, A., (1997), Organisational Culture and Budgetary Control in a UK Local Government Organisation. Accounting and Business Research, Vol.27, No.2, pp.111-123.
  10. Government. Decree 16/2015/ND-CP dated February 14, 2015 stipulating the autonomy mechanism of public non-business units. <https://thuvienphapluat.vn/>. [Date of access: May 18, 2017].
  11. Government. Decree 43/2006/ND-CP dated April 25, (2006), stipulating the autonomy and self-responsibility for implementation, organizational structure, staffing and finance of public non-business units. <https://thuvienphapluat.vn/>. [Date of access: May 18, 2017].
  12. Haldma, T., and Laats, K., (2002), Contingencies influencing the management accounting practices of Estonian manufacturing companies. Management Accounting Research, Vol.13, pp.379–400.
  13. Harrison, G.L., (1992), The cross-cultural generalizability of the relation between participation, budget emphasis and job related attitudes. Accounting Organizations and Society, Vol.17, No.1, pp.1-15.
  14. Hung, T.N., (2016), Factors affecting the application of international accounting in SMEs in Vietnam. Doctoral thesis. City University of Economics. Ho Chi Minh.
  15. Hung, N.V., (2016), Factors hindering the application of the method of cost allocation based on activity level in Vietnamese enterprises. Doctoral thesis. City University of Economics. Ho Chi Minh.
  16. Hutaibat, K., (2019), Accounting for strategic management, strategising and power structures in the Jordanian higher education sector. Journal of Accounting & Organizational Change, Vol. 15 No. 3, pp. 430-452. https://doi.org/10.1108/JAOC-06-2018-0054
  17. Jesmin, I., and Hui H., (2012), A review of literature on contingency theory in managerial accounting. Journal of Accounting. Business & Management, Vol.19, No.2, pp.44-58.
  18. Kohtamaki, V., & Lyytinen, A., (2004), Financial autonomy and challenges to being a regionally responsive higher education institution. Tertiary Education and Management 10: pp. 319–338.
  19. Maleen, Z.G., and Michael, S.C.T., (2009), Pick, Mix or Match? A Discussion of theories for Management Acounting reseach. Journal of Accounting – Business and Management, Vol.16, No.2, pp.54-66.
  20. Mia, L., and Clarke, B., (1999), Market competition, management accounting systems and business unit performance. Management Accounting Research, Vol.10, pp.137-158.
  21. National Assembly. Law on Accounting No. 88/2015/QH13 dated November 20, (2015), <https://thuvienphapluat.vn/>. [Date accessed: May 22, 2017].
  22. Nga, V.T., (2015), Research on factors affecting the application of traditional management accounting tools in SMEs in the Central Highlands. Master thesis. University of Danang.
  23. Rogers, E.M., (1983), Diffusion of innovations. Third Edition. New York: The Free Press.
  24. Saleh, Z., (2008), Factors that influence the development of governmental accounting in Malaysia. Journal of Accounting Perspectives, Vol.1, pp.57-71.
  25. Silverman, D., (2010), Doing Qualitative Research, 3rd edn., Sage Publications, London.
  26. Stephenson, J., (1998), The concept of capability and its importance in higher education. Capability and quality in higher education. books.google.com
  27. Toan, P.N., & Hong, P.T.A., (2017), Applying international accounting in public service companies in Ho Chi Minh City. <http://tapchicongthuong.vn/van-dung-ke-toan-quan-tri-tai-cac-cong-ty-dich-vu-cong-ich-tren-dia-ban-thanh-pho-ho-chi -min20170328015443822p0c488.htm>. [Date of access: June 10, 2017].
  28. Waweru, N., et al., (2004), Management accounting change in South Africa: Case studies from retail services. Accounting, Auditing and Accountability Journal, Vol.17, No.5, pp.675–704.