Kỳ vọng của người sử dụng lao động và nhận thức của người học về kỹ năng, kiến thức sinh viên ngành Kế toán, Kiểm toán

0
161

(TCKT&KT online) – Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nói riêng, trong đó lĩnh vực kế toán cũng không nằm ngoài xu hướng. Số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, đồng nghĩa với nhu cầu nhân lực kế toán ngày càng lớn. Việc nhận diện các yếu tố về kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành kế toán sẽ là yếu tố cần thiết để đánh giá việc đáp ứng yêu cầu, trong cả khía cạnh đào tạo và tuyển dụng từ các doanh nghiệp. Chính vì vậy, bài viết trình bày nghiên cứu tổng quan về kỳ vọng của người sử dụng lao động, cùng với nhận thức của người học về kỹ năng và kiến thức của sinh viên ngành kế toán, kiểm toán. Từ việc tổng quan các nghiên cứu tiền nhiệm, là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu về khoảng cách đánh giá giữa nhà tuyển dụng và sinh viên ngành kế toán, trong các nghiên cứu tiếp theo.

Từ khóa: kế toán, kiểm toán, khoảng cách kỳ vọng, kỹ năng, kiến thức.

Abstract

The process of deepening international economic integration with the significant growth in the industrial revolution 4.0. It will affect the of fields of professional activities in particular. Besides, the field of accounting is not out of the trend. The increasing number of businesses means that the demand for accounting human resources is increasing. Identifying factors on knowledge and skills of accounting students will be an essential element to evaluate the satisfaction of requirements in both training and recruitment aspects from businesses. Thus, the article presents an overview of the employer’s expectations, along with the learners’ perception of the skills and knowledge of accounting and auditing students. From the overview of previous studies, it is the fundamental for building a research model on the evaluation gap between employers and accounting students in future studies.

Key words: Accounting, Auditing, Skills, Knowledge

  1. Đặt vấn đề

Một trong những vấn đề quan trọng hiện nay là, sinh viên tốt nghiệp cần đáp ứng được yêu cầu của xã hội, nghĩa là đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng. Điều này đòi hỏi, sinh viên không những cần trang bị chắc chắn kiến thức chuyên môn ngành đào tạo, mà cần thiết phải thích ứng nhanh với các kỹ năng, công nghệ ngày càng cao của xã hội. Trong đào tạo, ngành kế toán, kiểm toán được chia ra thành nhiều học phần, có mối quan hệ một cách tổng thể để cung cấp cho sinh viên hệ thống kiến thức cần có, đáp ứng được sự đa dạng ngành nghề của các doanh nghiệp hiện nay.

Xu hướng đối với vai trò của kế toán, kiểm toán trong môi trường kinh doanh thay đổi, đặt ra câu hỏi về những kỹ năng nào được ưu tiên hàng đầu của nhu cầu thị trường hiện nay. Quá trình chuyển đổi của sinh viên tốt nghiệp đại học sang nơi làm việc đã trở nên dài hơn, phức tạp và khó khăn hơn. Hiện nay, thế giới đang toàn cầu hóa, sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán, kiểm toán được kỳ vọng sẽ sở hữu tập hợp nhiều lượng kiến thức, kỹ năng chung và đạo đức nghề nghiệp để có thể đáp ứng yêu cầu của nơi làm việc cũng như các nhà tuyển dụng. Năng lực kế toán là không đủ cho đào tạo kế toán chuyên nghiệp và đôi khi cần được bổ sung bởi các năng lực khác như tư duy sáng tạo, học tập thường xuyên, kỹ năng công nghệ thông tin và kỹ năng truyền thông,… Khoảng cách giữa các kỹ năng, kiến thức mà các cá nhân thực sự sở hữu và các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho nơi làm việc vẫn đang là câu hỏi thiết thực mà các nhà nghiên cứu quan tâm nhất lúc này. Do đó, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, đề cập đến khoảng cách về kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành kế toán, kiểm toán giữa người sử dụng lao động và người học hiện nay.

  1. Tổng quan nghiên cứu

2.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng, cũng đã đề cập đến trong nhiều nghiên cứu. Hơn một nửa trong số các nhà tuyển dụng cũng tin rằng, các trường đại học đang chuẩn bị đầy đủ kỹ năng cho sinh viên, mặc dù điều này dường như đã được kiểm duyệt bởi một ý kiến giữa các nhà tuyển dụng. Các trường đại học có được thương hiệu tốt được coi là các trường đại học đã đào tạo ra những sinh viên tốt nghiệp có năng lực, để đáp ứng nhu cầu thị trường của người sử dụng lao động và nền kinh tế (Parvu, Ipate, &Mitran, 2014). Trong bối cảnh mới, sứ mệnh của trường đại học đã thay đổi và kiến thức cũng như kỹ năng không còn được coi là số ít. 

Ngày nay, với sự phát triển ngày càng quan trọng của công nghệ thông tin trong môi trường thời đại mới, vai trò của kế toán và kiểm toán không hề đơn giản. Họ không chỉ là những người chuẩn bị báo cáo tài chính, kiểm toán và kế toán còn đóng vai trò là người hỗ trợ thông tin (Yasin, Bayes & Czuchry, 2005). Sự phát triển của công nghệ thông tin làm cho tính chất của công việc thay đổi rất nhanh, sinh viên tốt nghiệp cần đạt được các thuộc tính mà có thể giúp họ không chỉ làm công việc tương ứng với ngành học, mà còn có thể học hỏi thêm các kỹ năng mới và kiến thức mới.

Các nghiên cứu trước đây cũng đã ghi nhận một “khoảng cách kỳ vọng” mà theo đó, sinh viên tốt nghiệp rời khỏi các trường đại học không có các kỹ năng và thuộc tính mà nhà tuyển dụng mong đợi (Botes, 2009), (Jackling & de Lange, 2009), (Low và cộng sự, 2013), (Marshall và cộng sự, 2010). Như một cách để phân tích rõ hơn về khoảng cách, được xác định trong các nghiên cứu trước đây (Bùi và Porter, 2010) đã phát triển một khuôn khổ toàn diện, để giải thích khoảng cách giữa các kỹ năng và kiến thức được mong đợi giữa sinh viên tốt nghiệp theo nghề và nhận thức sở hữu các kỹ năng này. Các tác giả giải thích rằng, cấu trúc của khoảng cách là bao gồm sự khác biệt về kỳ vọng của người sử dụng lao động và nhà giáo dục liên quan đến năng lực cần đạt được (khoảng cách kỳ vọng), hạn chế trong hiệu quả của giáo dục kế toán (khoảng cách hạn chế) và sự khác biệt trong những năng lực mà các nhà giáo dục mong đợi có được, bởi sinh viên tốt nghiệp và các nhà tuyển dụng tin rằng sinh viên tốt nghiệp thực sự sở hữu (khoảng cách hiệu suất).

Đến năm (2015, Yee Ting Ngoo cùng các cộng sự) là Kui Ming Tiong và Wei Fong Pok đã nghiên cứu về cầu nối, nhằm mục đích thu hẹp khoảng cách về kỹ năng nhận thức giữa nhà tuyển dụng và sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán, ở Malaysia. Khoảng cách lớn nhất về thuộc tính được ưu tiên hàng đầu giữa nhà tuyển dụng và sinh viên tốt nghiệp được tìm thấy là có tới 5 cấp độ khác nhau trong kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề, khả năng tiếp tục và tập trung hoàn thành nhiệm vụ được giao: về kỹ năng kỹ thuật, chỉ có thuế và kiểm toán có xếp hạng tương tự từ cả nhà tuyển dụng và sinh viên tốt nghiệp; trong khi ba kỹ năng kỹ thuật còn lại kế toán tài chính, kế toán quản trị và hệ thống thông tin có thứ hạng ưu tiên khác nhau, giữa nhà tuyển dụng và sinh viên. Nguồn cung cấp sinh viên tốt nghiệp được yêu cầu điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng gia tăng, cải thiện cả kỹ năng mềm và kỹ năng kỹ thuật để sinh viên có thể có những công việc và cơ hội tốt hơn.

Ngoài ra, trong nghiên cứu định tính của (Nikitina & Furuoka, 2012) kết quả cho thấy rằng, các kỹ năng mềm có tác động nhiều hơn trong việc thu hẹp khoảng cách nhận thức giữa nhà tuyển dụng và sinh viên tốt nghiệp.

Có rất nhiều mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách và các đối tác xã hội trên khắp châu Âu, về khoảng cách giữa kỹ năng mà người lao động sở hữu và nhu cầu của thị trường lao động. Năm (2013, Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii) nghiên cứu về kỳ vọng của nhà tuyển dụng có phù hợp với nhận thức của sinh viên hay không. Kết quả của bài viết, nhằm phân tích nhận thức của sinh viên về các kỹ năng cần thiết và cố gắng đưa họ đến gần hơn với kỳ vọng của nhà tuyển dụng. Trong trường hợp tại Đại học Tunisia, cho thấy có sự tồn tại giữa các khoảng cách có thể là kết quả của sự thiếu giao tiếp giữa sinh viên và các chuyên gia. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có một sự đồng nhất giữa nhận thức của cả hai nhóm nhưng vẫn xuất hiện một số khoảng cách đáng kể. “Kỹ năng giao tiếp cơ bản”, “kỹ năng giải quyết vấn đề”, “kiến thức kế toán tài chính và báo cáo tài chính”, “năng lực chuyên môn” là những thuộc tính ít xuất hiện khoảng cách, khi mà được cả hai đánh giá là những kỹ năng quan trọng nhất. Trong khi sinh viên không đánh giá cao về các kỹ năng lãnh đạo thì nhà tuyển dụng lại xem đây là kỹ năng quan trọng hàng đầu.

Nghiên cứu năm (2018, Atanasko Atanasovski cùng Zorica Bozhinovska Lazarevska) đã điều tra hiệu quả nhận thức của giáo dục kế toán tại các trường đại học, để phát triển những kỹ năng quan trọng ở mức độ phù hợp. Xem xét sự khác biệt, đã xác định giữa tầm quan trọng của nhận thức sinh viên về sở hữu kiến thức và kỹ năng nhất định trong số các sinh viên tốt nghiệp, nghiên cứu vào kỳ vọng của nhà tuyển dụng cho thấy những khoảng cách và đề ra giải pháp, để có thể cải thiện chất lượng chương trình giáo dục và quá trình tuyển dụng cũng như sự sẵn sàng làm việc của sinh viên tốt nghiệp. Các nhà tuyển dụng và sinh viên đồng ý rằng, quá trình giáo dục và chương trình cần cải tiến để cho phép phát triển tốt hơn những kỹ năng chuyên môn và kỹ năng chung của sinh viên tốt nghiệp mới ra trường.

Năm (2016, Mary Low cùng cộng sự) là Vida Botes và David Dela RueJackie Allen, dựa trên những phát hiện một số các khuyến nghị chính đã được thực hiện, bao gồm nhiều hơn các các kỹ năng trong giáo dục kế toán thông qua việc kết hợp các nghiên cứu tình huống thực tế các vấn đề trong chương trình kế toán, liên quan đến thảo luận nhóm và thiết lập các báo cáo bằng văn bản, các bài thuyết trình kinh doanh cho “khách hàng” của họ cũng như tiếp tục khuyến khích các cơ hội thực tập trong các trình độ đại học. Nghiên cứu này phát hiện ra rằng, phần lớn nhà tuyển dụng hài lòng với sinh viên tốt nghiệp kế toán và kỳ vọng của họ là được đáp ứng.

Qua các nghiên cứu nước ngoài, về khoảng cách giữa người học và kỳ vọng của người sử dụng lao động. Nhóm tác giả thấy rằng, vẫn xuất hiện khoảng cách, khác biệt đáng kể giữa nhận thức và kỳ vọng. Người học đánh giá cao kiến thức chuyên môn, cũng như các trường đại học chú trọng cung cấp kiến thức cho sinh viên thay vì đào tạo sâu hơn các kỹ năng khác như: giao tiếp, lãnh đạo, kỹ năng thông tin, kỹ năng giải quyết vấn đề đúng với kỳ vọng của người sử dụng lao động.

2.2. Các nghiên cứu Việt Nam

Các quan điểm truyền thống ở Việt Nam cho rằng, các trường đại học giáo dục và đào tạo nhằm hướng tới cho sinh viên làm việc lâu dài là không còn thích hợp, trong bối cảnh hiện nay. Vai trò truyền thống của các trường đại học, trong việc truyền đạt kiến thức đã thay đổi để tập trung nhiều hơn vào nhu cầu của xã hội. “Kiến thức được hệ thống hóa” có được từ việc giảng dạy giáo trình ở các trường đại học, có thể mâu thuẫn với kiến thức cần thiết tại nơi làm việc thực tế. Giống như những nơi khác trên thế giới, các nhà tuyển dụng ở Việt Nam cũng mong muốn thuộc tính tốt nghiệp của sinh viên, phù hợp với nơi làm việc hiện đại.

Các nghiên cứu trong nước về khoảng cách, giữa kỳ vọng của người sử dụng lao động và nhận thức của người học vẫn còn hạn chế. Có thể kể đến nghiên cứu của (Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự, 2018). Khảo sát sinh viên tại Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả mong đợi rằng, việc đánh giá từ các nhà tuyển dụng đối với các chương trình đào tạo cùng với sự tự đánh giá của sinh viên tốt nghiệp, sẽ đưa ra hiểu biết về kỳ vọng của thị trường cho sinh viên tốt nghiệp. Tác giả nhận thấy rằng, hiện nay các trường đại học ở Việt Nam cung cấp chương trình và các kỹ năng cần thiết chưa đầy đủ, thực tế phản ánh sinh viên Việt Nam tốt nghiệp không có các thuộc tính cần thiết để đáp ứng các yêu cầu của nơi làm việc, cũng như yêu cầu của các nhà tuyển dụng.

Nghiên cứu của (Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự, 2018) vẫn chưa đi sâu về khoảng cách kỳ vọng, khi mà chú trọng phân tích chương trình đào tạo ở các trường đại học Việt Nam có đáp ứng với kỳ vọng của nhà tuyển dụng hay không? Trong khi nguồn gốc xuất phát khoảng cách kỳ vọng nhận thấy là, giữa nhận thức của người học – sinh viên với người sử dụng lao động – nhà tuyển dụng.

Trên cơ sở các nghiên cứu tiền nhiệm trong nước và ngoài nước, các yếu tố đo lường đến khoảng cách giữa nhận thức của người học và kỳ vọng của người sử dụng lao động, được tổng hợp ở Bảng 1.

  1. Kết luận

Việc nghiên cứu khảo sát khoảng cách giữa kỳ vọng của người sử dụng lao động và người học về kỹ năng và chuyên môn của sinh viên ngành kế toán, kiểm toán là cần thiết, trong giai đoạn hiện nay. Để có được kết quả khảo sát tiếp theo này, trước hết cần khái quát tìm hiểu các nghiên cứu về vấn đề này. Các nghiên cứu đưa ra nhiều các kiến thức và kỹ năng mà yêu cầu một sinh viên ngành kế toán, kiểm toán hiện nay cần đáp ứng được, liên quan đến kỹ năng chuyên môn, kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đánh giá và phân tích,… Các nội dung nghiên cứu này được đưa vào mô hình nghiên cứu tiếp theo, để giúp sinh viên không ngừng nâng cao nhận thức nghề nghiệp và vai trò của nghề nghiệp ở mức cao hơn. Bên cạnh đó, giúp người sử dụng lao động có những tiêu chí phù hợp khi đánh giá người học, trong giai đoạn chuyển từ môi trường học đến làm việc thực tế.

 

 

  1. TS. Nguyễn Thị Nhinh – Nguyễn Ngọc Hà – Trương Thị Quỳnh Trang – Nguyễn Trà Vinh /Trường Đại học Thương Mại

Tài liệu tham khảo

  1. Atanasko Atanasovski, Zorica Bozhinovska Lazarevska, (2018), “Accounting Students’ and Employers’ Perceptions on Employability Skills in the SEE Country”.
  2. Botes, V. L, (2009), “The perception of the skills required and displayed by management accountants to meet future challenges”.
  3. Bui, B., & Porter, B, (2010), “The expectation-performance gap in accounting education: an exploratory study. Accounting Education: An International Journal” 19 (1), 23-50.
  4. Jackling, B., & de Lange, P, (2009), “Do accounting graduates’ skills meet the expectations of employers? A matter of convergence or divergence. Accounting Education: An International Journal” 18(4-5), 369-85.
  5. Low, M., Samkin, G. & Liu, C, (2013), “Accounting Education and the Provision of Soft Skills: Implications of the recent NZICA CA Academic requirement changes” E-Journal of Business Education & Scholarship of Teaching, 7(1), 1- 33.
  6. Mai Thị Quỳnh Lan, (2018), “Skill Gap from Employers” Evaluation: The Case of Graduates from Vietnam National University, Hanoi”.
  7. Marshall, P., Dombroski, R., Garner, R., & Smith, K., (2010), “The accounting education gap” CPA Journal, 80(6), 6-10.
  8. Mary Low, Vida Botes, David Dela RueJackie Allen, (2016), “Accounting Employers” Expectations – The Ideal Accounting Graduates.
  9. Mohamed Faker Klibi and Ahmed Atef Oussii, (2013), “Skills and Attributes Needed for Success in Accounting Career: Do Employers’ Expectations Fit with Students’ Perceptions? Evidence from Tunisia”.
  10. Nikitina L., Furuoka F., (2012), “Sharp Focus on Soft Skills: A Case Study of Malaysian University Students’ Educational Expectations” Educational Research for Policy and Practice, pp.207-224.
  11. (Parvu, I, Ipate, D.M., & Mitran, P.C) “Identification of Employability Skills-Starting Point for the Curriculum Process” Economics, Management, and Financial Markets, pp. 237–246, 2014.
  12. (Yasin, M.M., Bayes, P.E. and Czuchry, A.J) “The Changing Role of Accounting in Supporting the Quality and Customer Goals of Organizations: An Open System Perspective” International Journal of Management, 22, 323-331, 2005.
  13. (Yee Ting Ngoo, Kui Ming Tiong, Wei Fong Pok) “Bridging the Gap of Perceived Skills between Employers and Accounting Graduates in Malaysia” American Journal of Economics, 2015.