Định hướng nghiên cứu kế toán công ở Việt Nam

Châu Hồng Phương Thảo Thứ tư, 22/07/2026 14:15 (GMT+7)

Nhận thức được vai trò quan trọng của kế toán trong quá trình cải cách KVC, bài viết trình bày tổng quan các nghiên cứu kế toán công (KTC) trong và ngoài nước, từ đó đề xuất định hướng nghiên cứu KTC ở Việt Nam nhằm tạo cơ sở khoa học cho những cải tiến về quy trình kế toán trong các đơn vị công.

1. Giới thiệu

Các nghiên cứu KTC giữ vai trò quan trọng trong bối cảnh quản trị công ngày càng hướng đến minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Trước hết, KTC là hệ thống thông tin cốt lõi gắn chặt với quy trình quản lý ngân sách, nguồn thông tin kế toán phục vụ ra quyết định chính sách. Các nghiên cứu KTC cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế giám sát tài chính công thông qua việc xem xét các vấn đề cải cách kế toán, minh bạch ngân sách, kiểm soát nội bộ, chất lượng báo cáo tài chính, chuyển đổi số trong kế toán. Trong bối cảnh hiện đại hóa quản trị công và chuyển đổi số định hướng quốc gia, KTC không thể vận hành theo mô hình truyền thống, cần phải có những cải cách tương ứng để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, khi đó các nghiên cứu về KTC đóng vai trò như là cơ sở dữ liệu cho những đề xuất hoàn thiện quy trình kế toán trong đơn vị công. Vì vậy, việc xác định các hướng nghiên cứu KTC ở Việt Nam trong giai đoạn tới là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.

Xét về thể chế, Luật Kế toán số 88/2015/QH13, Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn đã đặt nền tảng cho việc chuẩn hóa thông tin tài chính công theo hướng minh bạch, công khai và tăng cường trách nhiệm giải trình. Đặc biệt, Quyết định số 633/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Chiến lược kế toán – kiểm toán đến năm 2030 đã nêu rõ kế toán – kiểm toán là công cụ quản lý kinh tế quan trọng, một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của kế toán đặc biệt là trong quản lý công. Một trong những mục tiêu cụ thể của chiến lược theo Quyết định số 633/QĐ-TTg là tổ chức bộ máy kế toán tài chính tại các đơn vị kế toán nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng việc lập và trình bày báo cáo tài chính nhà nước, nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản và nguồn lực nhà nước từ trung ương đến địa phương (Chính phủ, 2022). Do đó, có thể thấy yêu cầu cải tiến, nâng cao hiệu quả công tác KTC là thiết thực.

Thực hiện tổng quan tài liệu về các nghiên cứu KTC cho phép nhận diện những nội dung nghiên cứu cần khai thác thêm, giúp các nhà nghiên cứu chọn lọc nội dung và phương pháp nghiên cứu phù hợp cho các nghiên cứu tiếp theo. Ngoài ra, đây cũng là bước xây dựng nền tảng lý luận vững chắc để các nhà hoạch định chính sách có thể xem xét điều chỉnh khung pháp lý về KTC, đảm bảo kế toán công trở thành công cụ đắc lực cho cho quản trị công hiện đại, hướng tới sự phát triển bền vững của khu vực công. Trong phạm vi của bài viết, xu hướng nghiên cứu KTC trên thế giới và ở Việt Nam được lược khảo theo từng dòng nghiên cứu, ghi chú các kết quả nghiên cứu nổi bật, những ưu điểm và hạn chế của thiết kế nghiên cứu. Từ đó, tác giả đề xuất các hướng nghiên cứu KTC ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo, đặc biệt dưới sự ảnh hưởng của chuyển đổi số. Nghiên cứu KTC thời trong giai đoạn cải cách KVC hiện nay ở Việt Nam không chỉ mang giá trị lý thuyết mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn cấp bách từ các nhà hoạch định chính sách và thực thi. Khi dữ liệu KTC được xử lý phù hợp, mức độ minh bạch, công khai ngân sách và trách nhiệm giải trình sẽ được nâng cao rõ rệt, cải thiện hiệu quả quản lý công và chất lượng dịch vụ công. Trong thực tiễn, hệ thống KTC vẫn tồn tại sự phân tán, mức độ liên thông dữ liệu còn hạn chế và năng lực phân tích dữ liệu tài chính chưa đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại. Do đó, việc xác định hướng nghiên cứu mới không chỉ nhằm hoàn thiện khuôn khổ lý thuyết mà còn hỗ trợ hoạch định chính sách, nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, tăng cường niềm tin công chúng và hiệu quả phân bổ nguồn lực ngân sách.

Để tiến hành tổng quan nghiên cứu, tác giả đã tập hợp các nghiên cứu trước đảm bảo các tiêu chí: có nội dung nghiên cứu về KTC, quản trị công và tài chính công; có nguồn trích dẫn rõ ràng và được công bố trên các tạp chí học thuật có uy tín; đảm bảo tính cập nhật trong thời gian 10 năm. Quy trình được thực hiện từ bước tìm kiếm từ khóa, chọn lọc nội dung, trích xuất dữ liệu và phân tích theo chủ đề; sau đó được trình bài nhóm theo từng dòng nghiên cứu; có sự phân biệt về bối cảnh nghiên cứu trong nước và nước ngoài.

2. Các nghiên cứu ở ngước ngoài

2.1. Tổng quan các nghiên cứu

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về kế toán KVC cho thấy sự dịch chuyển rõ ràng từ cách tiếp cận kỹ thuật, chuẩn mực sang các phân tích về thể chế, phê phán và hành vi. Đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và xu hướng cải cách trên toàn cầu. Trên nền tảng này, các nghiên cứu cung cấp một bức tranh đa chiều về sự tái cấu trúc của trách nhiệm giải trình, hệ thống kiểm soát quản lý và vai trò của công nghệ trong quản trị công. Tổng quan các nghiên cứu có thể phân theo từng nhóm như sau:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về chuyển đổi số và trách nhiệm giải trình nhấn mạnh tính hai mặt của công nghệ

Agostino, Saliterer và Steccolini (2022) khái niệm hóa chuyển đổi số như một quá trình tái cấu trúc thể chế, trong đó nền tảng số, dữ liệu lớn và phân tích thời gian thực làm thay đổi quy trình tạo lập và sử dụng thông tin tài chính công. Điểm mạnh của nghiên cứu nằm ở cách tiếp cận phê phán và khả năng đặt công nghệ trong quan hệ quyền lực và chính danh, qua đó chỉ ra hiện tượng “minh bạch ảo” và tái phân bổ quyền lực về phía chuyên gia công nghệ. Tuy nhiên, hạn chế đáng chú ý là thiếu bằng chứng thực nghiệm định lượng hoặc dữ liệu so sánh liên quốc gia để kiểm định mức độ và điều kiện xuất hiện của các hiện tượng này. Tương tự, Amalia (2023) củng cố lập luận về tác động tích cực của số hóa đối với tốc độ xử lý, độ chính xác của thông tin và kiểm soát nội bộ, đồng thời cảnh báo rủi ro bảo mật và khoảng cách năng lực số. Ưu điểm của nghiên cứu là làm rõ cơ chế vận hành ở cấp quy trình kế toán; song phương pháp chủ yếu mang tính tổng hợp lý thuyết, chưa cung cấp thiết kế thực nghiệm hay nghiên cứu tình huống sâu để kiểm chứng tác động thực tế đến hiệu quả và chất lượng của trách nhiệm giải trình. Tiếp theo, Brusca và Martínez (2016) phân tích các động lực, rào cản và lợi ích của việc áp dụng Chuẩn mực KTC quốc tế (IPSAS) trong bối cảnh hiện đại hóa và hòa hợp KTC. Dựa trên khung lý thuyết thể chế và mô hình ngẫu nhiên, nghiên cứu xây dựng mô hình cấu trúc nhằm kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố thúc đẩy, cản trở và mức độ chấp nhận IPSAS. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát 37 quốc gia thuộc Liên minh châu Âu và châu Mỹ, kết quả cho thấy các yếu tố như nhu cầu hòa hợp quốc tế, vai trò của Hội đồng chuẩn mực KTC quốc tế (IPSASB) và áp lực từ các tổ chức quốc tế có tác động tích cực đến việc áp dụng IPSAS, trong khi lo ngại về chủ quyền quốc gia và chi phí chuyển đổi là những rào cản đáng kể. Quan trọng hơn, nghiên cứu khẳng định rằng việc áp dụng IPSAS có ảnh hưởng tích cực đến nhận thức về tính so sánh quốc tế và chất lượng báo cáo tài chính, qua đó tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Thứ hai, các nghiên cứu về cải cách cải cách KVC và thể chế làm rõ tính chính trị của KTC

Polzer, Adhikari, Nguyen và GAarseth-Nesbakk (2023) cho thấy việc áp dụng IPSAS và kế toán dồn tích chịu ảnh hưởng của tổ chức quốc tế và nhà tài trợ, đồng thời thường mang tính hình thức. Điểm mạnh của công trình là kết hợp quan điểm thể chế và chính trị – kinh tế, nhấn mạnh vai trò tác nhân trung gian. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng dựa trên phân tích tài liệu và tình huống chọn lọc, đặt ra câu hỏi về khả năng khái quát hóa. Nghiên cứu chưa phát triển mô hình kiểm định định lượng về mối quan hệ giữa áp lực quốc tế, năng lực hành chính và mức độ nội địa hóa cải cách kế toán KVC. Tiếp theo, Grossi và Argento (2022) thực hiện tổng quan tài liệu nhằm phân tích sự biến đổi của kế toán KVC dưới tác động của quản trị công. Bài viết lập luận rằng sự chuyển dịch từ quản trị công mới (New Public Management) sang các hình thức quản trị mạng lưới (network governance), quản trị hợp tác (collaborative governance) và quản trị số (digital governance) đã tái định hình bản chất của trách nhiệm giải trình, đo lường thành quả hoạt động, lập ngân sách và báo cáo. Kết quả cho thấy quản trị mạng lưới thúc đẩy trách nhiệm giải trình và báo cáo hợp nhất; quản trị hợp tác nhấn mạnh trách nhiệm xã hội, đối thoại và và sự tham gia vào việc lập dự toán; trong khi quản trị số tạo ra các hình thức trách nhiệm năng động và tương tác, đồng thời đặt ra rủi ro về bất bình đẳng số và phụ thuộc công nghệ. Các tác giả nhấn mạnh rằng KTC không còn giữ vai trò kỹ thuật thuần túy mà trở thành công cụ điều phối, dân chủ hóa và “nhân văn hóa” quản trị công.

Thứ ba, dòng nghiên cứu về năng lực của nhân viên kế toán trong KVC

Tiêu biểu có nghiên cứu của Budding, de Jong và Smit (2022), nhóm tác giả cho rằng các kỹ năng thấu cảm (appreciative skills) gồm tư duy đa chiều, phản biện, định hướng giá trị và kỹ năng cá nhân (personal skills) được đánh giá là quan trọng nhất, trong khi kỹ năng kỹ thuật không còn giữ vị trí trung tâm như trong đào tạo kế toán truyền thống. Điều này cho thấy nhu cầu tăng cường đào tạo kỹ năng mềm trong giáo dục KTC. Nghiên cứu đã tái định vị hồ sơ năng lực của kế toán quản trị (KTQT) KVC theo hướng nhấn mạnh năng lực hành vi và tương tác xã hội, qua đó hàm ý điều chỉnh chương trình đào tạo nhằm thu hẹp khoảng cách kỹ năng trong bối cảnh quản trị công ngày càng phức tạp. Tiếp theo, Carlsson‐Wall, Goretzki, Hofstedt, Kraus và Nilsson (2022) phân tích mức độ hỗ trợ của hệ thống hoạch định nguồn nhân lực dựa trên điện toán đám mây đối với nhân viên KTQT công. Bằng phương pháp nghiên cứu tình huống, kết quả cho thấy hệ thống này cho phép các KTQT ở cấp trung ương huy động chuyên môn cụ thể của họ, loại bỏ công việc thủ công, tăng tính minh bạch và giúp họ cảm thấy thoải mái hơn với các con số. Tuy nhiên, vì hệ thống hoạch định nguồn nhân lực dựa trên điện toán đám mây do các nhà cung cấp bên ngoài cung cấp nên có có sự kém linh hoạt như khả năng tùy chỉnh hạn chế, điều này đặt ra thách thức cho các kế toán viên quản trị ở địa phương trong việc phục vụ các nhu cầu khác nhau của nhiều nhà quản trị và đơn vị kinh doanh khác nhau. Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét đến thái độ của nhân viên KTQT công cấp trung ương và địa phương đối với vai trò công nghệ, rõ ràng là tồn tại sự khác nhau. Trong khi các nhân viên KTQT công ở địa phương coi hệ thống này như một công cụ cho phép họ tận dụng chuyên môn để tạo ra thông tin phù hợp với từng đơn vị địa phương, các nhân viên kế toán quản công ở trung ương lại xem nó như một công cụ cho phép họ sử dụng thông tin “chất lượng cao” được tạo sẵn để đảm bảo các quy trình kế toán hiệu quả và an toàn trong toàn bộ tổ chức.

Thứ tư, dòng nghiên cứu có liên quan đến chuyển đổi số

Agostino, Lourenço, Jorge, Bracci và Cruz (2025) thực hiện tổng quan tài liệu nhằm phân tích mức độ và cách thức khoa học dữ liệu (data science), trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (Machine learning) được ứng dụng trong kế toán, báo cáo tài chính và kiểm toán KVC; đồng thời làm rõ các hệ quả đối với trách nhiệm giải trình. Trong đó, khoa học dữ liệu giúp tăng hiệu quả xử lý, giảm sai sót và hỗ trợ thời gian lập báo cáo tài chính; các công cụ AI nâng cao khả năng dự báo rủi ro tài khóa, tối ưu phân bổ ngân sách và tăng cường phát hiện gian lận. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào mô hình thuật toán làm gia tăng rủi ro thiên lệch dữ liệu, xói mòn lòng tin và làm phức tạp hóa trách nhiệm giải trình, đặc biệt khi các quyết định dựa trên mô hình khó giải thích đối với người dùng không chuyên môn. Bên cạnh đó, Lestari (2025) xem xét cách thức chuyển đổi số định hình lại kế toán KVC bằng cách tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách của nó. Kết quả cho thấy số hóa giúp nâng cao hiệu quả vận hành, giảm rủi ro gian lận thông qua tự động hóa và tăng cường truy vết kiểm toán. Các nền tảng chính phủ điện tử cải thiện khả năng tiếp cận thông tin tài chính, thúc đẩy sự tham gia của công dân và củng cố niềm tin công chúng. Đồng thời, ứng dụng dữ liệu lớn (big data) và kế toán điều tra (forensic accounting) tăng cường năng lực giám sát và phát hiện sai phạm. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những rào cản đáng kể như hạn chế hạ tầng, chênh lệch năng lực số, rủi ro an ninh dữ liệu và sự kháng cự tổ chức; chuyển đổi số của KTC trong kỷ nguyên số chỉ có thể được hiện thực hóa khi kết hợp đầu tư công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện khung thể chế hỗ trợ.

2.2. Nhận xét

Tổng hợp các công trình nghiên cứu có thể thấy ưu điểm nổi bật xu hướng nghiên cứu KTC hiện nay là thừa nhận tính chính trị và xã hội của KTC; bước đầu tích hợp công nghệ số vào phân tích trách nhiệm giải trình. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu cũng cho thấy tính đa dạng của các phương pháp được sử dụng như khảo sát, tổng quan có hệ thống hệ thống và nghiên cứu tình huống. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những khoảng trống đáng kể như:

Về nội dung, còn thiếu các phân tích tích hợp giữa chuyển đổi số và cải cách kế toán bằng cách áp dụng chuẩn mực KTC quốc tế; giữa năng lực cá nhân và cấu trúc thể chế; cũng như các khía cạnh của trách nhiệm giải trình. Ngoài ra, tác động của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu mở và quản trị thuật toán đến quyền lực và công bằng trong KVC vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Đồng thời, mối liên hệ giữa cải cách kế toán và niềm tin công chúng, chất lượng dịch vụ công hay phát triển bền vững còn ít bằng chứng thực nghiệm.

Về phương pháp nghiên cứu, vẫn còn hiếm những nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng. Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng dữ liệu cắt ngang, thu thập tại một thời điểm nhất định, còn thiếu những thiết kế sử dụng dữ liệu bảng để đánh giá tác động dài hạn (ví dụ đánh giá tác động của chuyển đổi số, áp dụng chuẩn mực KTC quốc tế,…). Phần lớn các nghiên cứu dựa vào dữ liệu tự báo cáo thay vì căn cứ vào dữ liệu lưu trữ có sẵn, điều này ảnh hưởng đến tính khách quan của kết quả khảo sát dữ liệu, làm hạn chế tính tổng quát hóa của nghiên cứu. Bên cạnh đó, các nghiên cứu so sánh giữa các quốc gia có kiểm soát của các yếu tố bối cảnh cũng chưa được thực hiện nhiều.

3. Các nghiên cứu ở Việt Nam

3.1. Tổng quan các nghiên cứu

Các nghiên cứu trong lĩnh vực KTC tại Việt Nam đang được tiếp cận theo những hướng chủ đề tương đối rõ nét, từ phân tích cải cách thể chế vĩ mô sang các nghiên cứu thực nghiệm về chất lượng thông tin và chuyển đổi số.

Thứ nhất, dòng nghiên cứu cải cách KTC như áp dụng chuẩn mực KTC quốc tế và chuyển đổi sang cơ sở dồn tích

Trước tiên có thể kể đến nghiên cứu của Minh (2014), sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để tập trung tìm kiếm cơ sở và những cân nhắc cho việc áp dụng các chuẩn mực KTC quốc tế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Tác giả đã chỉ ra rằng việc áp dụng chuẩn mực KTC quốc tế chịu ảnh hưởng mạnh của khung pháp lý tập trung và năng lực tổ chức, trong khi các yếu tố quan trọng khác như minh bạch và trách nhiệm giải trình mới được chú trọng ở mức định hướng. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong điều phối cải cách, song cũng chỉ ra những hạn chế về nguồn lực, trình độ chuyên môn và sự thiếu đồng bộ giữa các cấp quản lý là những rào cản áp dụng chuẩn mực KTC quốc tế ở Việt Nam. Tiếp theo, Le (2023) cung cấp bằng chứng định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sẵn sàng áp dụng các chuẩn mực kế toán KVC của Việt Nam đối với các kế toán viên gồm thái độ, nhận thức về tính hữu ích và áp lực cưỡng chế đều thúc đẩy các kế toán viên sẵn sàng áp dụng chuẩn mực KTC trong thực hành nghề nghiệp. Đối với chất lượng báo cáo tài chính của các đơn vị công nói chung, Pham, Truong, Ho và Nguyen (2022) xác nhận ba yếu tố gồm kiểm toán độc lập, hiệu quả kiểm soát nội bộ và tần suất thanh tra tài chính có tác động tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính. Trong đó, hiệu quả kiểm soát nội bộ đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa kiểm toán độc lập, tần suất thanh tra tài chính và chất lượng báo cáo tài chính. Đây là một trong những nghiên cứu làm nền tảng để xây dựng các chính sách và quy định nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính tại các đơn vị công ở Việt Nam.

Thứ hai, hướng nghiên cứu về KTQT công

Nghiên cứu của Ngo (2020) và Pomberg, Pourjalali, Daniel và Kimbro (2012) đề cập đến hiệu quả của hệ thống KTQT trong các cơ sở y tế công lập. Sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính để xử lý dữ liệu định lượng, kết quả cho thấy bốn đặc điểm của hệ thống KTQT là phạm vi rộng, tính kịp thời, tính tích hợp và tính tổng hợp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa cấu trúc phân quyền và hiệu quả quản lý (Ngo, 2020). Ngoài ra, ảnh hưởng của KTQT trong các bệnh viện công đang chuyển đổi từ quản lý tập trung sang môi trường vốn mở hơn, để đáp ứng những thay đổi về môi trường và quy định, các bệnh viện Việt Nam đã cải thiện chức năng kế toán và đang có kế hoạch tiếp tục phát triển hơn nữa (Pomberg và cs., 2012). Các nghiên cứu đã góp phần khẳng định vai trò quan trọng của việc thực hành KTQT trong KVC nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Khi nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục đại học công, KTQT chiến lược là một trong những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các trường đại học, đây là kết quả nghiên cứu của Phong, Dao và Nguyen (2023), cung cấp thêm bằng chứng để các nhà quản lý chú trọng hơn đến thông tin KTQT chất lượng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường đại học. Một khía cạnh khác của hệ thống KTQT đó là thực hành đo lường thành quả hoạt động, tác giả Tran, Nguyen, Thi Bao Nhu và Thi Thu Hao (2024) đã khẳng định vai trò trung gian của hệ thống đo lường thành quả hoạt động trong mối quan hệ giữa sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao và hiệu quả hoạt động của tổ chức công ở Việt Nam, nghiên cứu này đóng góp thêm cho dòng nghiên cứu về KTC ở Việt Nam bằng việc khai thác kỹ thuật chuyên sâu của KTQT đó là đo lường thành quả hoạt động thay vì nghiên cứu tổng quát về hệ thống KTQT.

Thứ ba, dòng nghiên cứu về giáo dục kế toán

Nhóm tác giả Bui, Hoang, Phan và Yapa (2017) thực hiện phỏng vấn với đại diện cơ quan quản lý nhà nước, ban giám hiệu, giảng viên và nhà tuyển dụng lao động kế toán nhằm tìm hiểu tác động của cải cách giáo dục đến chất lượng đào tạo kế toán ở bậc đại học ở Việt Nam. Từ đó cho thấy, giáo dục kế toán ở Việt Nam được thúc đẩy bởi việc giảm bớt sự kiểm soát của nhà nước, gia tăng quyền tự chủ của các tổ chức và sự hướng dẫn từ bên ngoài. Hậu quả là sự suy giảm quyền tự quản học thuật, khi giảng viên có quyền tự quyết trong việc giảng dạy chương trình học ở cấp độ từng môn học, nhưng lại ít được tham gia vào việc ra quyết định ở cấp khoa và tham gia rất ít vào quá trình phát triển chương trình giảng dạy. Kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về động lực giữa các bên liên quan trong giáo dục kế toán để nâng cao năng lực và kết quả học tập của sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán.

Thứ tư, dòng nghiên cứu chất lượng thông tin kế toán có liên quan đến chuyển đổi số

Dựa trên lý thuyết khuyếch tán đổi mới (Diffusion of innovation theory), lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết năng lực động, nhóm tác giả Quang Huy và Kien Phuc (2024) đã khám phá mối quan hệ tích cực của việc số hóa hệ thống thông tin kế toán và dịch vụ hóa trong các tổ chức công của Việt Nam, ngoài ra còn xem xét đến vai trò trung gian của hệ sinh thái đổi mới bền vững, đây là một trong những nghiên cứu hiếm hoi đề cập đến chủ đề chuyển đổi số trong KTC có sự kết hợp với yếu tố đổi mới bền vững. Tiếp tục mở rộng nội dung này, nghiên cứu của Huy và Phuc (2024) đã thiết lập và xác nhận một khung khái niệm tập trung vào mối tương quan giữa phân tích dữ liệu kế toán và chất lượng báo cáo bền vững kỹ thuật số, kết quả khẳng định phân tích dữ liệu kế toán giúp cải thiện báo cáo bền vững kỹ thuật số và được trung gian bởi hệ thống kiểm soát nội bộ xanh bền vững.

3.2. Nhận xét

Nhìn chung, các nghiên cứu về kế toán KVC của Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho thấy một bức tranh nghiên cứu hình thành theo các cụm chủ đề tương đối rõ ràng, phản ánh sự chuyển hóa từ các chủ đề truyền thống như việc vận dụng chuẩn mực KTC quốc tế, thực hành kỹ thuật KTQT, giáo dục kế toán sang các chủ đề có tích hợp chuyển đổi số và báo cáo bền vững. Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng, thực hiện xử lý dữ liệu khảo sát trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể (trường đại học, bệnh viện công). Điểm mạnh của các nghiên cứu này là cung cấp một bằng chứng cụ thể và lượng hóa được mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu.

Về nội dung

Nghiên cứu cải cách KTC và áp dụng chuẩn mực dừng lại ở mức độ đánh giá sự sẵn sàng áp dụng hoặc nhận thức, trong khi bằng chứng về tác động thực chất của việc áp dụng chuẩn mực mới đến chất lượng thông tin tài chính, tính minh bạch và hiệu quả phân bổ nguồn lực công vẫn còn hạn chế. Nói cách khác, nghiên cứu hiện nay thiên về phân tích tiền đề cải cách hơn là đánh giá tác động của cải cách. Đối với chất lượng báo cáo tài chính và cơ chế kiểm soát chỉ đang ở phạm vi xem xét các yếu tố kiểm soát chính thức như kiểm toán, kiểm soát nội bộ, thanh tra tài chính, trong khi các yếu tố phi chính thức như văn hóa tổ chức, đạo đức nghề nghiệp KVC, áp lực chính trị hoặc mức độ minh bạch ngân sách địa phương chưa được khai thác đầy đủ. Điều này cho thấy còn thiếu các nghiên cứu tích hợp giữa góc nhìn kế toán và quản trị công, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp ngân sách hiện nay có nhiều thay đổi. Riêng về vai trò của hệ thống KTQT công, các nghiên cứu tập trung vào hiệu quả hoạt động nội bộ, trong khi mối liên hệ giữa KTQT công và kết quả dịch vụ công đối với người dân chưa được làm rõ. Hiệu quả được đo lường chủ yếu ở cấp độ tổ chức thay vì cấp độ giá trị công. Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào kiểm tra sự phù hợp giữa chương trình đào tạo kế toán và yêu cầu áp dụng chuẩn mực KTC quốc tế. Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa chuyển đổi số và trách nhiệm giải trình công vẫn chưa được phân tích sâu dưới góc nhìn thể chế và chính sách công.

Về phương pháp nghiên cứu

Dễ dàng nhận thấy các nghiên cứu KTC tại Việt Nam cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt từ cách tiếp cận mô tả, phân tích quy định, chính sách sang các thiết kế nghiên cứu định lượng với mức độ chuẩn hóa ngày càng cao. Cách tiếp cận này phù hợp với bối cảnh nghiên cứu các vấn đề thể chế, chính sách và quá trình chuyển đổi sang chuẩn mực quốc tế, khi dữ liệu định lượng còn hạn chế. Ưu điểm của các nghiên cứu này là cung cấp cái nhìn sâu sắc về bối cảnh, cơ chế vận hành và động lực cải cách. Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các nghiên cứu định lượng, thực hiện khảo sát và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính. Điều này cho thấy mức độ đa dạng hóa phương pháp nghiên cứu đã được cải thiện. Việc sử dụng các phân tích để kiểm định vai trò trung gian phản ánh nỗ lực nâng cao chiều sâu phân tích thay vì chỉ dừng lại ở kiểm định tương quan đơn giản. Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý là các nghiên cứu định lượng vẫn dựa trên dữ liệu cắt ngang và dữ liệu phản hồi dựa trên nhận thức cá nhân. Điều này làm gia tăng rủi ro sai lệch phương pháp chung (common method bias) và hạn chế khả năng xác lập quan hệ nhân quả thực sự. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu tập trung vào một nhóm đối tượng cụ thể (kế toán viên, cán bộ quản lý trong một lĩnh vực như bệnh viện hoặc đại học), dẫn đến hạn chế về tính đại diện và khả năng so sánh liên ngành hoặc liên cấp quản lý.

4. Định hướng nghiên cứu ở Việt Nam

Quy trình thực hiện KTC ở Việt Nam nói chung đang có những chuyển biến mạnh mẽ để phù hợp với cải cách KVC. Việc sáp nhập các đơn vị hành chính ở Việt Nam từ ngày 01/07/2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15 (Quốc Hội, 2025b), ban hành chuẩn mực KTC theo hướng tiệm cận với chuẩn mực KTC quốc tế, đồng bộ hóa chế độ kế toán dành cho đơn vị công tạo ra những tác động sâu rộng đối với hệ thống KTC, cả ở phương diện tổ chức, kỹ thuật và thể chế. Trước hết, quá trình hợp nhất làm thay đổi cấu trúc đơn vị dự toán, hệ thống tài khoản và phạm vi lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán. Các đơn vị kế toán phải thực hiện rà soát, chuẩn hóa và tích hợp dữ liệu tài chính từ nhiều hệ thống khác nhau, xử lý chênh lệch về chính sách kế toán, phương pháp ghi nhận và quản lý tài sản công. Điều này đặt ra yêu cầu cần xây dựng cơ chế hợp nhất báo cáo, áp dụng mạnh mẽ công nghệ số và tăng cường kiểm soát nội bộ nhằm hạn chế rủi ro sai sót. Các điều kiện này kết hợp với những khoảng trống nghiên cứu từ kết quả lược khảo tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu KTC trong thời gian sắp tới. Cụ thể, định hướng nghiên cứu KTC tại Việt Nam trong thời gian tới cần gắn chặt với bối cảnh cải cách thể chế, chuyển đổi số KVC và lộ trình áp dụng chuẩn mực KTC quốc tế.

Trước tiên, các nghiên cứu về cải cách kế toán nên chuyển trọng tâm sang đánh giá kết quả cải cách, chẳng hạn như tác động của việc vận dụng chuẩn mực KTC đối với hiệu quả công tác kế toán. Đây sẽ là hướng nghiên cứu hỗ trợ cho việc điều chỉnh các biện pháp cải tiến kế toán, hướng đến nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu của Luật Ngân sách 89/2025/QH15 (Quốc Hội, 2025a). Sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để tăng độ tin cậy và tính tổng quát hóa của kết quả nghiên cứu. Các nghiên cứu nên thiết kế mô hình kiểm định tác động của việc cải cách kế toán và chuyển đổi số đến chất lượng báo cáo kế toán, hiệu quả phân bổ ngân sách và mức độ minh bạch ngân sách. Đặc biệt, cần tích hợp phân tích giữa chuyển đổi số và cải cách kế toán thay vì xem đây là hai tiến trình tách biệt.

Tiếp theo, cần mở rộng khung lý thuyết theo hướng kết hợp giữa năng lực cá nhân (trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, năng lực số) và cấu trúc thể chế (cơ chế phân cấp ngân sách, mức độ tự chủ tài chính, áp lực chính trị). Tập trung nghiên cứu về năng lực cá nhân của kế toán viên cũng góp phần hỗ trợ cho việc thiết kế các chương trình đạo tạo kế toán chất lượng hơn, đáp ứng yêu cầu công việc thực tế. Mặt khác, trong bối cảnh phân cấp tài chính ngày càng sâu rộng và sáp nhập đơn vị hành chính, nghiên cứu sự tương tác giữa yếu tố vi mô và vĩ mô sẽ giúp lý giải tốt hơn sự khác biệt về chất lượng báo cáo kế toán giữa các đơn vị công.

Trong KVC, chất lượng báo cáo kế toán phản ánh mức độ thực hiện trách nhiệm giải trình (Tran, Nguyen, & Hoang, 2021), các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chủ yếu quan tâm đến trách nhiệm giải trình về tài chính. Tuy nhiên, trách nhiệm giải trình trong khu vực có nhiều hình thức khác nhau (Aleksovska, Schillemans, & Grimmelikhuijsen, 2019), chẳng hạn như khi phân loại dựa trên nguồn gốc và mức độ kiểm soát thì trách nhiệm giải trình gồm trách nhiệm giải trính chính trị, pháp lý, hành chính và chuyên môn (Romzek & Dubnick, 2018). Như vậy chất lượng thông tin kế toán ngoài tác dụng giải trình tài chính thì có vai trò gì trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình ở các phương diện còn lại? Câu hỏi này cần lời giải đáp để làm rõ động lực đảm bảo chất lượng thông tin kế toán trong các đơn vị công.

Bên cạnh đó, quá trình cải cách KVC cũng đặt ra yêu cầu minh bạch thông tin ngân sách, đặc biệt là việc xây dựng chính phủ số theo Quyết định số 2629/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (Chính phủ, 2025). Ngoài ra, chính phủ số cũng thúc đẩy việc xây dựng dữ liệu tài chính trên nền tảng số, qua đó chuyển đổi hệ thống kế toán từ mô hình phân tán sang hệ sinh thái dữ liệu liên thông. Điều này làm thay đổi quy trình ghi nhận, tổng hợp và lập báo cáo tài chính công theo hướng tự động hóa dựa trên dữ liệu lớn. KTC không chỉ thực hiện chức năng ghi chép mà còn tham gia phân tích dữ liệu phục vụ ra quyết định. Do đó, các nghiên cứu về chuyển đổi số trong kế toán là thực sự cần thiết và cấp bách, đặc biệt là nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng nền tảng công nghệ thông tin và quy trình thực thi công việc chứ không dừng lại ở việc tìm hiểu nhu cầu và sự sẵn sàng thực hiện chuyển đổi số.

Một hướng nghiên cứu khác có thể đóng góp vào diễn đàn học thuật quốc tế về KTC đó là nghiên cứu có sự so sánh về cải cách và thực hành KTC giữa các quốc gia có sự tương đồng về thể chế, đây cũng là cơ hội để nhận diện những hạn chế của qui trình KTC trong nước và tiếp thu các kinh nghiệm có chọn lọc của các quốc gia khác, hướng tới việc cải thiện công tác kế toán trong nhằm nâng cao hiệu quả quản trị công.

5. Kết luận

KVC là một bộ phận đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Việc cải tiến và chuẩn hóa quy trình KTC theo từng giai đoạn phát triển là thực sự cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công. Tài liệu học thuật về KTC ngày càng phong phú và đa dạng bởi các công trình nghiên cứu, trong đó có sự gắn kết giữa kế toán và quản trị công. Theo thời gian, đề tài nghiên cứu KTC có sự điều chuyển khá rõ ràng theo từng dòng nghiên cứu truyền thống sang hiện đại, đặc biệt trong thời gian gần đây chủ đề chuyển đổi số trong KTC nhận được sự chú ý của cộng đồng học thuật, các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này cũng tăng dần. Các nghiên cứu KTC ở Việt Nam cũng hòa chung với xu hướng nghiên cứu của thế giới, đặc biệt có sự xuất hiện của những đề tài về báo cáo bền vững kỹ thuật số và kiểm soát nội bộ xanh bền vững. Tuy nhiên, vẫn còn độ trễ giữa nghiên cứu và thực tiễn, các nghiên cứu về việc thực hành công tác KTC còn hạn chế. Bên cạnh đó, khoảng trống về phương pháp nghiên cứu cũng là khía cạnh có thể khai thác tiếp theo.

Dựa trên kết quả tổng quan tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, yêu cầu cải cách KTC trong bối cảnh KVC của Việt Nam, bài viết đã đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo về KTC tập trung vào các nội dung đánh giá hiệu quả công tác kế toán, mở rộng khung lý thuyết, chất lượng thông tin kế toán đối với các trách nhiệm giải trình, chuyển đổi số và quy trình thực thi công tác kế toán, so sánh KTC của Việt Nam với các quốc gia khác. Các chủ đề này có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, đóng góp hiểu biết sâu sắc hơn về chủ đề liên quan và là cơ sở đề xuất các giải pháp thực hiện công tác KTC hiệu quả hơn.

Mặc dù nội dung lược khảo nghiên cứu về KTC trong bài viết này đã cung cấp một bức tranh tổng quan về tình hình nghiên cứu KTC trong nước và ngoài nước nhưng vẫn còn những hạn chế như sau: Thứ nhất, sự giới hạn về việc tiếp cận cơ sở dữ liệu nghiên cứu nên có thể bỏ sót những nghiên cứu liên quan trong quá trình thu thập. Thứ hai, việc tổng hợp các nghiên cứu từ các quốc gia phát triển để định hướng nghiên cứu ở Việt Nam cần phân tích thêm sự khác biệt về văn hóa, thể chế để tăng tính thuyết phục của các gợi ý nghiên cứu tiếp theo. Thứ ba, bài viết cũng chưa phân tích sâu về ưu nhược điểm của phương pháp nghiên cứu. Do đó, các bài viết tiếp theo về chủ đề này cần chú ý các hạn chế được nêu để nâng cao tính khả thi của các nghiên cứu KTC có thể thực hiện ở Việt Nam.