Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank
Phạm Khả Vy
Thứ ba, 28/07/2026 11:16 (GMT+7)
Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Chúng Việt Nam (PVComBank). Dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu được đề xuất với năm nhân tố gồm: chất lượng dịch vụ, sự tin cậy và an toàn, ứng dụng công nghệ số xanh, trách nhiệm xã hội và hình ảnh thương hiệu bền vững.
Quá trình toàn cầu hóa và sự gia tăng các hoạt động giao dịch
xuyên biên giới đã làm cho dịch vụ chuyển tiền quốc tế trở thành một cấu phần
quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại. Dịch vụ này
không chỉ đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền của cá nhân và doanh nghiệp
mà còn góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế và luân chuyển dòng vốn giữa các
quốc gia (Ngân hàng Thế giới, 2020).
Quá trình toàn cầu hóa và sự gia tăng các hoạt động giao dịch
xuyên biên giới đã làm cho dịch vụ chuyển tiền quốc tế trở thành một cấu phần
quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại. Dịch vụ này
không chỉ đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền của cá nhân và doanh nghiệp
mà còn góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế và luân chuyển dòng vốn giữa các
quốc gia (Ngân hàng Thế giới, 2020).
Trong những năm gần đây, cùng với yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh
doanh, ngành Ngân hàng còn chịu áp lực ngày càng lớn trong việc thực hiện các
mục tiêu phát triển bền vững, bao gồm phát triển kinh tế gắn với trách nhiệm xã
hội và bảo vệ môi trường (UNEP, 2019). Theo đó, các dịch vụ Ngân hàng, trong đó
có dịch vụ chuyển tiền quốc tế, cần được thiết kế và triển khai theo hướng an
toàn, minh bạch, ứng dụng công nghệ số và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi
trường.
Tại Việt Nam, PVComBank (PVComBank) đang từng bước mở rộng và nâng
cao chất lượng dịch vụ chuyển tiền quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của khách hàng. Tuy nhiên, ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng không chỉ
chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố truyền thống như chi phí hay tốc độ giao dịch mà
còn bị chi phối bởi mức độ tin cậy, ứng dụng công nghệ và hình ảnh phát triển
bền vững của Ngân hàng (Ajzen, 1991; Kotler & Keller, 2016).
Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu được thực hiện nhằm phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo
hướng phát triển bền vững tại PVComBank, qua đó đề xuất các hàm ý quản trị phù
hợp cho Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định sử dụng dịch vụ Ngân hàng, tuy nhiên các nghiên cứu liên quan đến dịch vụ
chuyển tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại Việt Nam còn khá hạn
chế. Đặc biệt, chưa có nhiều công trình phân tích vai trò của các yếu tố gắn
với phát triển bền vững như công nghệ số xanh, trách nhiệm xã hội và hình ảnh
thương hiệu bền vững trong việc tác động đến ý định sử dụng dịch vụ của khách
hàng. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm bổ sung khoảng trống nghiên cứu
trên, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh hoạt động của PVComBank.
Cơ sở lý thuyết
Một số khái niệm liên quan
Dịch vụ chuyển tiền quốc tế
Dịch vụ chuyển tiền quốc
tế là hoạt động Ngân hàng cho phép khách hàng thực hiện việc chuyển tiền từ
quốc gia này sang quốc gia khác thông qua hệ thống tài chính quốc tế, đảm bảo
tuân thủ các quy định về ngoại hối, phòng chống rửa tiền và an toàn giao dịch
(Madura, 2015). Dịch vụ này đòi hỏi mức độ chính xác, bảo mật và độ tin cậy cao
do liên quan đến các giao dịch xuyên biên giới.
Ý
định sử dụng dịch vụ
Ý định sử dụng được hiểu
là mức độ sẵn sàng của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi cụ thể trong
tương lai. Theo Ajzen (1991), ý định là yếu tố dự báo trực tiếp và mạnh mẽ nhất
đối với hành vi thực tế của con người. Trong lĩnh vực Ngân hàng, ý định sử dụng
dịch vụ phản ánh khả năng khách hàng lựa chọn và tiếp tục sử dụng các sản phẩm,
dịch vụ của Ngân hàng.
Phát triển bền vững trong lĩnh vực Ngân hàng
Phát triển bền vững trong
Ngân hàng được hiểu là việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính đáp ứng
nhu cầu hiện tại của khách hàng, đồng thời đảm bảo lợi ích lâu dài cho xã hội
và môi trường (UNEP, 2019). Điều này bao gồm việc ứng dụng công nghệ số, nâng
cao trách nhiệm xã hội và xây dựng hình ảnh thương hiệu Ngân hàng thân thiện,
minh bạch.
Lý thuyết nền
Lý
thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB)
Lý thuyết hành vi có kế
hoạch do Ajzen (1991) đề xuất cho rằng ý định thực hiện hành vi của cá nhân
chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận
thức về khả năng kiểm soát hành vi. Trong nghiên cứu dịch vụ Ngân hàng, TPB
thường được sử dụng để giải thích ý định sử dụng các sản phẩm tài chính, trong
đó thái độ và niềm tin của khách hàng đóng vai trò then chốt trong việc hình
thành ý định sử dụng dịch vụ.
Lý
thuyết giá trị cảm nhận (Perceived Value Theory)
Theo Zeithaml (1988), giá
trị cảm nhận là sự đánh giá tổng thể của khách hàng về lợi ích nhận được so với
chi phí phải bỏ ra khi sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ. Đối với dịch vụ
chuyển tiền quốc tế, giá trị cảm nhận không chỉ bao gồm chi phí và tốc độ giao
dịch mà còn liên quan đến mức độ an toàn, tiện ích công nghệ và uy tín của Ngân
hàng cung cấp dịch vụ.
Lý
thuyết chất lượng dịch vụ
Lý thuyết chất lượng dịch
vụ cho rằng cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến sự hài lòng và ý định sử dụng dịch vụ (Parasuraman et al., 1988).
Trong lĩnh vực Ngân hàng, chất lượng dịch vụ chuyển tiền quốc tế thể hiện qua
độ chính xác, tính kịp thời, sự hỗ trợ của nhân viên và khả năng giải quyết rủi
ro.
Lý
thuyết phát triển bền vững trong Tài chính – Ngân hàng
Lý thuyết phát triển bền
vững nhấn mạnh sự cân bằng giữa mục tiêu kinh tế, trách nhiệm xã hội và bảo vệ
môi trường trong hoạt động của tổ chức (Elkington, 1997). Khi áp dụng vào lĩnh
vực Ngân hàng, lý thuyết này cho rằng việc tích hợp công nghệ số xanh, nâng cao
trách nhiệm xã hội và xây dựng hình ảnh thương hiệu bền vững sẽ góp phần gia
tăng niềm tin và ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng.
Dựa trên các lý
thuyết nền tảng như Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), Lý thuyết giá trị cảm
nhận và Lý thuyết chất lượng dịch vụ, có thể thấy rằng nhận thức của khách hàng
về chất lượng dịch vụ, mức độ tin cậy, giá trị công nghệ cũng như hình ảnh và trách
nhiệm xã hội của Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định
sử dụng dịch vụ. Trong bối cảnh ngành Ngân hàng hướng tới phát triển bền vững,
các yếu tố như ứng dụng công nghệ số xanh, trách nhiệm xã hội và hình ảnh
thương hiệu bền vững được xem là những thành phần quan trọng góp phần gia tăng
niềm tin và thúc đẩy ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế của khách hàng.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất mô hình gồm năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định
sử dụng dịch vụ.
Phương pháp nghiên
cứu và mô hình nghiên cứu
Phương pháp nghiên
cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua 2 bước: (1)
Bước 1: Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp thảo luận
nhóm và tham vấn chuyên gia nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thang đo
phù hợp với bối cảnh nghiên cứu. Nhóm thảo luận gồm 10 khách hàng cá nhân đã
từng sử dụng hoặc có nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế tại PVComBank
và 3 chuyên gia đang công tác trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng. Các đối
tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích nhằm đảm bảo có kinh
nghiệm thực tế liên quan đến dịch vụ chuyển tiền quốc tế. Kết quả nghiên cứu
định tính giúp hiệu chỉnh các biến quan sát và hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát
trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng. (2) Bước 2: Nghiên cứu
định lượng: Sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’S Alpha để kiểm định mức độ chặt chẽ
mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau; Phân tích nhân tố khám phá
(EFA) được sử dụng để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng và nhận diện các yếu tố
được cho là phù hợp; đồng thời sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến xác
định các nhân tố và
ảnh hưởng của từng nhân tố đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo
hướng phát triển bền vững tại PVComBank (PVComBank).
Thông qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu và tham vấn
khách hàng, bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu sử dụng phương pháp thảo luận nhóm
để xác định có 5 nhân tố với 20 biến quan sát được cho là có ảnh hưởng đến ý
định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank
(PVComBank).
Dữ liệu và phương pháp thu thập
dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp sưu tầm
tài liệu, phương pháp phỏng vấn trực tiếp kết hợp với phương pháp trả lời bảng
câu hỏi qua Google Document. Nội dung các câu hỏi là các biến quan sát đo lường
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế
theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank (PVComBank) và sử dụng thang đo 5
Likert cho toàn bộ bảng hỏi: 1 – Hoàn toàn không đồng ý, 2 – Không đồng ý, 3 –
Bình thường, 4 – Đồng ý, 5 – Hoàn toàn đồng ý. Đối tượng khảo sát là khách hàng
cá nhân đã và hoặc đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế tại PVComBank
(PVComBank). Thời gian khảo sát và thu thập dữ liệu sơ cấp được thực hiện từ
tháng 09/2025 đến tháng 12/2025.
Dựa
theo nghiên cứu của Hair và cộng sự (2006) cho rằng để sử dụng phương pháp EFA,
kích thước mẫu tối thiểu gấp 5 lần tổng số thang đo (biến quan sát) của các
biến độc lập. Nghiên cứu này có 5 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc với tổng
cộng 24 biến quan sát, vì vậy kích thước mẫu tối thiểu là 5 x 24 = 120. Vì vậy
tác giả chọn điều tra 230 mẫu ( > 120) là phù hợp.
Phương pháp chọn mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp
chọn mẫu thuận tiện kết hợp với điều kiện sàng lọc đối tượng khảo sát là khách
hàng cá nhân đã từng hoặc đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế
tại PVComBank. Việc khảo sát được thực hiện trực tiếp tại một số điểm giao dịch
của Ngân hàng và thông qua bảng hỏi trực tuyến nhằm mở rộng khả năng tiếp cận
người trả lời.
Mô hình, giả thuyết nghiên cứu
Mô hình nghiên
cứu
Căn cứ vào các lý thuyết nền, tổng quan các công trình nghiên cứu
trước, nghiên cứu chuyên gia, nhóm tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu Hình
1.
Hình 1. Mô hình nghiên
cứu
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
Giả thuyết nghiên
cứu
H1:
Chất lượng dịch vụ có tác động cùng chiều (+) đến Ý định sử dụng dịch vụ chuyển
tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank (PVComBank);
H2:
Sự tin cậy và an toàn có tác động cùng chiều (+) đến Ý định sử dụng dịch vụ
chuyển tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank (PVComBank);
H3:
Ứng dụng
công nghệ số xanh có tác động cùng chiều (+) đến Ý định sử dụng dịch vụ chuyển
tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank (PVComBank);
H4:
Trách nhiệm xã hội có tác động cùng chiều (+) đến Ý định sử dụng dịch vụ chuyển
tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank (PVComBank);
H5:
Hình ảnh thương hiệu bền vững có tác động cùng chiều (+) đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo hướng phát
triển bền vững tại PVComBank (PVComBank).
Phương
pháp xử lý dữ liệu
Căn
cứ số liệu khảo sát, bài viết sử dụng phần mềm SPSS Statistics 26.0 để phân
tích độ tin cậy của các nhân tố cũng như các tiêu chỉ đo lường nhân tố, đồng
thời, áp dụng phương pháp thống kê để tổng hợp, so sánh nhằm lượng hóa mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc
tế theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank (PVComBank).
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kiểm định chất lượng thang đo (Cronbach’s
Alpha)
Qua kết quả kiểm định chất lượng thang đo ở bảng 1 ta thấy hệ số
Cronbach’s Alpha của tổng thể đều lớn hơn 0.6. Như vậy hệ thống thang đo được
xây dựng gồm 6 nhân tố đảm bảo chất lượng tốt với 24 biến quan sát đặc trưng.
Bảng
1: Kết quả phân tích chất lượng thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
(Nguồn: Tác giả tổng hợp
từ kết quả phân tích SPSS)Phân tích nhân tố khám phá
Phân tích nhân tố
khám phá các biến độc lập
Kết quả kiểm định cho thấy KMO = 0.712 thoả mãn điều
kiện 0.5 < KMO < 1, phân tích nhân tố khám phá là thích hợp cho
dữ liệu thực tế. Chỉ số Sig. < 0.05 cho thấy các biến quan sát có
tương quan tuyến tính với nhân tố đại diện.
Từ kết quả bảng số liệu sau khi chạy Fixed number of
factors ta thấy phương sai trích là 67.697% > 50% đạt yêu cầu.
Phân tích khám phá EFA cho biến phụ thuộc
Kết
quả phân tích EFA cho thấy tất cả các điều kiện về phân tích nhân tố khám phá
đều đáp ứng, hệ số KMO = 0.775 > 0.5; Sig. = 0.000 < 0.05; hệ số tải nhân
tố > 0.5; giá trị trích Eigenvalue = 2.461 > 1 (yêu cầu lớn hơn 1); và
tổng phương sai trích đạt 61.517% > 50% và đạt yêu cầu.
Phân
tích hồi quy bội
Kiểm
định sự phù hợp của mô hình:
(Nguồn: Phân
tích dữ liệu của tác giả)
Hệ
số xác định của mô hình hồi quy R2 hiệu chỉnh là 0.620. Nghĩa là mô hình hồi
quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với dữ liệu 62%. Điều này cho biết khoảng 62%
sự biến thiên của biến phụ thuộc (YDSD) là do tác động của 5 biến độc
lập, các phần còn lại là do sai sót của các yếu tố khác. Kiểm định Durbin Watson
= 2.185 trong khoảng 1< D < 3 nên không có hiện tượng tự tương quan của
các phần dư.
Bảng 3: Thống kê trong mô hình hồi
quy bằng phương pháp Enter
(Nguồn: Phân
tích dữ liệu của tác giả)
Trong bảng số liệu khi xét tstat và tα/2 của các biến để đo
độ tin cậy thì các biến độc lập CLDV, TCAT, UDCN, TNXH và THBV đều đạt yêu cầu
và các giá trị Sig thể hiện độ tin cậy khá cao, đều < 5%. Ngoài ra, hệ số
VIF của các hệ số Beta đều nhỏ hơn 10 cho thấy không có hiện tượng đa cộng
tuyến xảy ra.
Phương trình hồi quy chuẩn hóa được xác định như
sau:
Trong đó: CLDV là Chất lượng dịch vụ; TCAT là Sự tin cậy và an toàn;
UDCN là Ứng dụng công nghệ số xanh; TNXH là Trách nhiệm xã hội; THBV là Hình
ảnh thương hiệu bền vững.
Để
so sánh mức độ ảnh hưởng từng nhân tố độc lập đối với ý định sử dụng dịch vụ
chuyển tiền quốc tế theo hướng phát triển bền vững tại PVComBank (PVComBank) ta
căn cứ vào hệ số Beta chuẩn hóa. Ta thấy, ở phương trình hồi quy, trong 5 nhân
tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo hướng phát
triển bền vững tại PVComBank (PVComBank) thì nhân tố Chất
lượng dịch vụ ảnh hưởng mạnh nhất với Beta = 0.552; nhân tố Sự tin cậy
và an toàn mạnh thứ hai với hệ số Beta = 0.360; nhân tố Ứng dụng công nghệ số
xanh ảnh hưởng mạnh thứ ba với hệ số Beta = 0.293; nhân tố Trách nhiệm xã hội
ảnh hưởng mạnh thứ tư với hệ số Beta = 0.163 và cuối cùng là nhân tố Hình ảnh
thương hiệu bền vững ảnh hưởng thấp nhất với hệ số Beta = 0.091.
Kết luận và hàm ý quản trị
Kết luận
Thông
qua các kiểm định của mô hình nghiên cứu, có thể khẳng định các nhân tố
ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo hướng phát
triển bền vững tại PVComBank (PVComBank) theo thứ tự từ cao đến thấp như sau:
Bảng 4: Thống kê mức độ tác động
của các nhân tố
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ
sung bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ
chuyển tiền quốc tế trong bối cảnh phát triển bền vững mà còn cung cấp cơ sở
tham khảo cho các Ngân hàng thương mại trong việc xây dựng chiến lược phát
triển dịch vụ gắn với chuyển đổi số và trách nhiệm xã hội.
Hàm ý quản trị
Các hàm ý quản
trị được đề xuất trong nghiên cứu này được xây dựng dựa trên kết quả phân tích
thực nghiệm đối với khách hàng của PVComBank, do đó các khuyến nghị tập trung
vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ chuyển tiền quốc tế, tăng cường ứng dụng
công nghệ số xanh và củng cố hình ảnh thương hiệu bền vững của Ngân hàng.
Chất lượng dịch vụ
Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ là yếu tố có tác động
mạnh nhất đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền quốc tế theo hướng phát triển
bền vững tại PVComBank. Do đó, Ngân hàng cần ưu tiên nâng cao chất lượng dịch
vụ theo hướng cải thiện trải nghiệm khách hàng một cách cụ thể. Trước hết,
PVComBank nên tối ưu hóa thời gian xử lý các giao dịch chuyển tiền quốc tế, đặc
biệt đối với các giao dịch qua hệ thống SWIFT nhằm rút ngắn thời gian chuyển
tiền và nâng cao khả năng cạnh tranh. Đồng thời, cần đơn giản hóa quy trình,
thủ tục và hồ sơ giao dịch theo hướng tinh gọn nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ quy
định về quản lý ngoại hối. Bên cạnh đó, việc phát triển hệ thống tra cứu trạng
thái giao dịch theo thời gian thực sẽ giúp khách hàng chủ động theo dõi dòng
tiền, từ đó nâng cao mức độ hài lòng và thúc đẩy ý định sử dụng dịch vụ.
Sự tin cậy và an toàn
Sự tin cậy và an toàn là yếu tố có ảnh hưởng lớn thứ hai, phản ánh
đặc thù rủi ro của dịch vụ chuyển tiền quốc tế. Vì vậy, PVComBank cần tăng
cường các biện pháp đảm bảo an toàn và bảo mật trong giao dịch. Cụ thể, Ngân
hàng nên áp dụng các phương thức xác thực đa lớp đối với các giao dịch trực
tuyến, đồng thời nâng cao năng lực kiểm soát rủi ro trong các giao dịch xuyên
biên giới. Ngoài ra, việc minh bạch hóa thông tin về phí chuyển tiền, tỷ giá và
thời gian xử lý là cần thiết nhằm giảm thiểu sự không chắc chắn cho khách hàng.
Bên cạnh đó, PVComBank cần đẩy mạnh truyền thông về việc tuân thủ các tiêu
chuẩn quốc tế như phòng chống rửa tiền và nhận diện khách hàng, qua đó củng cố
niềm tin của khách hàng đối với dịch vụ.
Ứng dụng công nghệ số xanh
Kết quả nghiên cứu cho thấy ứng dụng công nghệ số xanh có tác động
đáng kể đến ý định sử dụng dịch vụ, cho thấy xu hướng khách hàng ngày càng quan
tâm đến yếu tố công nghệ gắn với phát triển bền vững. Do đó, PVComBank cần đẩy
mạnh triển khai dịch vụ chuyển tiền quốc tế trên nền tảng số, cho phép khách
hàng thực hiện giao dịch hoàn toàn trực tuyến nhằm giảm thiểu việc sử dụng giấy
tờ và tiết kiệm chi phí vận hành. Đồng thời, việc tích hợp dịch vụ trên ứng
dụng Ngân hàng số, đặc biệt là mobile banking, sẽ giúp nâng cao tính tiện lợi
và khả năng tiếp cận của khách hàng. Ngoài ra, Ngân hàng có thể đầu tư vào các
giải pháp công nghệ nhằm tối ưu hóa hệ thống vận hành, tiết kiệm năng lượng và
hướng đến mô hình Ngân hàng số xanh, phù hợp với định hướng phát triển bền
vững.
Trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm xã hội có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ,
cho thấy khách hàng có xu hướng đánh giá cao các Ngân hàng có đóng góp cho cộng
đồng. Vì vậy, PVComBank cần lồng ghép các hoạt động trách nhiệm xã hội vào việc
phát triển dịch vụ chuyển tiền quốc tế. Cụ thể, Ngân hàng có thể triển khai các
chương trình hỗ trợ phí chuyển tiền cho du học sinh, người lao động ở nước
ngoài hoặc các nhóm khách hàng có nhu cầu đặc thù. Đồng thời, cần tăng cường
các hoạt động truyền thông về tài chính toàn diện và các chương trình vì cộng đồng
nhằm nâng cao nhận thức của khách hàng. Những hoạt động này không chỉ mang lại
giá trị xã hội mà còn góp phần gia tăng niềm tin và sự gắn kết của khách hàng
với Ngân hàng.
Hình ảnh thương hiệu bền vững
Mặc dù có mức độ tác động thấp nhất, nhưng hình ảnh thương hiệu bền
vững vẫn đóng vai trò hỗ trợ trong việc thúc đẩy ý định sử dụng dịch vụ. Do đó,
PVComBank cần chú trọng xây dựng và định vị thương hiệu gắn với các giá trị
phát triển bền vững trong lĩnh vực Ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ chuyển tiền
quốc tế. Ngân hàng nên triển khai các hoạt động truyền thông nhấn mạnh vào tính
minh bạch, an toàn, ứng dụng công nghệ và trách nhiệm xã hội, đồng thời đảm bảo
sự nhất quán giữa thông điệp truyền thông và trải nghiệm thực tế của khách
hàng. Việc củng cố hình ảnh thương hiệu theo hướng bền vững sẽ góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh và tạo lợi thế dài hạn cho Ngân hàng trên thị trường.
CTCP Đầu tư và quản lý khách sạn TNH không báo cáo về dòng tiền nhiều mã trái phiếu, chấp nhận bị phạt tình tiết tăng nặng nhưng không báo cáo dư nợ trái phiếu được kiểm toán.
Tạp chí Fortune vừa công bố bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (Fortune SEA 500)
năm 2026 – danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á dựa trên doanh thu của năm
tài chính trước đó. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) xếp vị trí 141, tăng 20 bậc so
với năm 2025, đồng thời ghi dấu năm thứ ba liên tiếp góp mặt trong bảng xếp hạng uy tín này.
Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước
và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài
chính hàng đầu Việt Nam.
Cách đây khoảng 10 năm, chuyển đổi số là yếu tố giúp một ngân hàng tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã thay đổi. Ngân hàng đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ, phát triển ứng dụng ngân hàng số, triển khai eKYC, thanh toán không dùng tiền mặt, trí tuệ nhân tạo và nhiều dịch vụ trực tuyến khác. Có thể nói, chuyển đổi số không còn là lợi thế riêng của một vài ngân hàng mà đã trở thành "điều kiện cần" để tồn tại và cạnh tranh trên thị trường.