Ảnh hưởng của nhân tố con người đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Việt Nam

0
80

(TCKT&KT online) – Nghiên cứu này xem xét nhân tố con người có ảnh hưởng như thế nào đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) trong các đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) giáo dục công lập (GDCL) tại Việt Nam. Bằng việc sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình nhân tố khám phá, đề tài đã khẳng định nhân tố năng lực của nhân viên đối với KSNB và đạo đức nhà giáo có tác động cùng chiều còn nhân tố tư duy nhiệm kỳ có tác động ngược chiều đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB, trong các ĐVSN GDCL tại Việt Nam.

Từ khóa: sự hữu hiệu, hệ thống KSNB, ĐVSN GDCL.

Asbtracts

This research analyzed and measured the impact of the human factor on the effectiveness of internal control systems in academic public non-business units in Vietnam. By applying quantitative research methods and Exploratory Factor Analysis, the author was able to confirm Staffs’ capability in Internal control and Teachers’ ethic have positive relationship while term thinking has inverse relationship with the effectiveness of internal control systems in academic public non-business units in Vietnam.

Keywords: effectiveness, internal control system, academic public non-business unit.

  1. Đặt vấn đề

(Thomas P. DiNapoli, 2007) cho rằng, KSNB là sự tích hợp của các hoạt động, kế hoạch, thái độ, các chính sách và nỗ lực của những người trong một tổ chức làm việc cùng nhau, để cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng tổ chức sẽ đạt được mục tiêu và sứ mệnh. (Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400, 2001, trang 1) nêu rõ khái niệm hệ thống KSNB được hiểu là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị kiểm toán xây dựng và áp dụng; nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa, phát hiện các gian lận, sai sót để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Một hệ thống KSNB hữu hiệu, sẽ góp phần quan trọng làm tăng khả năng đạt được các mục tiêu của tổ chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, luôn có nguy cơ hệ thống KSNB được thiết kế kém hoặc hoạt động của nó không như dự định. Bởi vì hệ thống KSNB phụ thuộc vào nhân tố con người, nó có thể sai sót từ trong thiết kế, sai sót của sự đánh giá hoặc giải thích, sự hiểu lầm, bất cẩn, mệt mỏi, mất tập trung, sự thông đồng, lạm dụng, năng lực và đạo đức của người thực hiện. Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ĐVSN công lập nói chung, trong các cơ sở GDCL nói riêng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhân tố con người đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ĐVSN GDCL tại Việt Nam.

  1. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

2.1. Khái niệm KSNB và sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong khu vực công

Theo quan điểm của INTOSAI GOV 9100 định nghĩa: “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức, nghĩa là hoạt động một cách kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế và hiệu quả; thực hiện đúng trách nhiệm; tuân thủ theo luật pháp và quy định hiện hành; bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất”.

Một hệ thống KSNB hữu hiệu trong khu vực công phải đạt được mục tiêu và nhiệm vụ của một tổ chức đó, thông qua các nội dung sau: (1) thực hiện có kỷ cương, đạo đức, tiết kiệm, hiệu quả; (2) hoàn thành trách nhiệm giải trình; (3) tuân thủ các luật và quy định hiện hành; (4) bảo vệ tài sản chống lại sự mất mát, lạm dụng và thất thoát.

2.2. Tổng quan nghiên cứu

Nhân tố con người trong nghiên cứu này được xem xét trong bối cảnh các ĐVSN GDCL, bao gồm: (1) năng lực của nhân viên đối với KSNB; (2) đạo đức nhà giáo; (3) tư duy nhiệm kỳ.

Về năng lực của nhân viên

Nhân tố con người là một thành phần chính của hệ thống KSNB (Omar Mohammad Al-Hawatmeh, 2016). Cùng quan điểm trên, nghiên cứu của (George Myula, 2011) cho thấy, nhân tố con người như là: sự cam kết, năng lực, chế độ khen thưởng cũng ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB. Yếu tố con người như là: đào tạo và huấn luyện, vai trò của con người trong kiểm soát cũng tác động đến hệ thống KSNB, đó là kết luận của (Hongjiang Xu và công sự, 2003) trong nghiên cứu tìm hiểu các nhân tố tác động đến chất lượng báo cáo tài chính, trong các doanh nghiệp tại Australia.

Theo (Spencer và Spencer, 1993) thì đo lường năng lực của nhân viên qua 5 yếu tố, bao gồm: (1) thái độ; (2) tính cách cá nhân; (3) kỹ năng; (4) kiến thức; và (5) hành vi. (Dario Russo, 2016) đã xây dựng mô hình đo lường năng lực của nhân viên dựa trên nghiên cứu của (Draganidis và Mentzas, 2006) bao gồm 3 yếu tố, đó là: (1) kiến thức, liên quan đến mọi thứ có thể học được từ các hệ thống giáo dục hoặc đào tạo và có liên quan đến quá trình nhận thức (ghi nhận, học tập, giao tiếp, liên kết và lập luận); (2) bí quyết, liên quan đến kinh nghiệm cá nhân và điều kiện làm việc, nó có được bằng cách thực hành, bằng kinh nghiệm, đó chính là kiến thức thực tế; (3) hành vi, được đề cập đến các tính cách, tài năng, đặc điểm con người hoặc phẩm chất thúc đẩy một người nào đó để hành động hoặc phản ứng theo một cách nhất định trong những hoàn cảnh cụ thể.

Về đạo đức nhà giáo

Nghiên cứu của (Karma Sherpa, 2018) cho rằng, nhiều tổ chức đang phải đối mặt thực trạng là bên cạnh việc có nhiều bằng cấp, thành tích, huy chương và kiến thức thì đội ngũ giáo viên của họ lại thiếu đạo đức nghề nghiệp. Giảng dạy không chỉ là truyền đạt nội dung và chủ đề, mà giáo viên có một vai trò lớn hơn trong quá trình giáo dục hành động, góp phần xây dựng quốc gia bằng cách tạo ra nguồn nhân lực chất lượng tốt, những công dân có trách nhiệm, những cá nhân của xã hội và những nhân cách sáng tạo. Vì thế, nghề giáo đòi hỏi rất nhiều cam kết, cống hiến, chân thành đối với đơn vị và người học. Đạo đức nhà giáo được (Karma Sherpa, 2018) xây dựng bởi 10 tiêu chí sau:

– Có ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình.

– Có tầm nhìn rõ ràng, làm thế nào họ sẽ hoàn thành việc thực hiện yêu cầu và nguyện vọng của người học.

– Thích nghi với môi trường chuyên nghiệp của trường học.

– Thể hiện sự tôn trọng đối với tinh thần và các giá trị văn hóa, sự đa dạng, công bằng xã hội, tự do, dân chủ.

– Thể hiện tình cảm, sự quan tâm, yêu thương với người học.

– Trung thực, đáng tin cậy và tận tâm với nhà trường và người học.

– Xây dựng mối quan hệ thân thiết và tôn trọng với tất cả các bên liên quan của nhà trường.

– Tôn trọng quyền riêng tư của các thành viên khác trong trường và duy trì tính bảo mật của thông tin có được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, trừ khi có mệnh lệnh pháp lý yêu cầu tiết lộ.

– Luôn tránh xung đột giữa công việc chuyên môn và lợi ích cá nhân.

– Không thiên vị khi truyền đạt và đánh giá kết quả học tập của người học.

Tại Việt Nam, Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/04/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành “Quy định đạo đức nhà giáo”. Đây là cơ sở pháp lý để đánh giá và phân loại và giám sát nhà giáo, cũng là cơ sở để các nhà giáo nghiên cứu và chấp hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Quy định nêu rõ đạo đức nhà giáo phải đảm bảo: (1) phẩm chất chính trị; (2) đạo đức nghề nghiệp; (3) lối sống, tác phong; (4) giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo.

Về tư duy nhiệm kỳ

Tư duy nhiệm kỳ lần đầu tiên được đề cập trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng, nó được hiểu như một căn bệnh, tệ nạn trong xã hội. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII tiếp tục nhận định “Tư duy nhiệm kỳ là một biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”. Tư duy nhiệm kỳ là nguyên nhân phát sinh nhiều loại bệnh như: bệnh thành tích (đặc biệt là trong môi trường giáo dục hiện nay), bệnh cào bằng, bệnh quan liêu, bệnh gian dối, bè phái gây mất đoàn kết, tư lợi… dẫn đến tham nhũng, lãng phí, thất thoát. Tư duy nhiệm kỳ là biểu hiện của sự tha hóa, xuống cấp về đạo đức của nhà lãnh đạo. Tư duy nhiệm kỳ tác động xấu đến nhều hoạt động của đơn vị, như: công tác tổ chức, công tác quy hoạch, công tác cán bộ, tuyển dụng, quyết định lãnh đạo,… Tư duy nhiệm kỳ làm thay đổi mục tiêu hoạt động của đơn vị, làm tê liệt hoạt động của hệ thống KSNB, ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động và mục tiêu hoạt động của đơn vị và là nguyên nhân chủ yếu làm cho hệ thống KSNB của đơn vị kém hữu hiệu, trong các đơn vị thuộc khu vực công.

Về sự hữu hiệu của hệ thống KSNB

INTOSAI GOV 9100 xác định, KSNB là một quá trình không thể thiếu, chịu tác động bởi một bộ phận quản lý và được thiết kế để xử lý các rủi ro và cung cấp sự đảm bảo, trong việc theo đuổi sứ mệnh của tổ chức. Một hệ thống KSNB hữu hiệu, sẽ giúp tổ chức đạt được các mục tiêu chung sau đây: thực hiện nhiệm vụ có kỷ cương, đạo đức, tiết kiệm, hiệu quả; hoàn thành trách nhiệm giải trình; tuân thủ các luật và quy định hiện hành; bảo vệ tài sản chống lại sự mất mát, lạm dụng và thất thoát.

  1. Mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở lý thuyết INTOSAI GOV 9100 và kế thừa các nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu được tác giả đề xuất như hình 1:

Phương trình hồi quy có dạng:

HH = β0 +  β1*NL + β2*DD + β3*TDNK + e

Trong đó:

HH: sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ĐVSN GDCL tại Việt Nam

β0: hệ số chặn

β1, β2, β3: Hệ số hồi quy của các nhân tố độc lập

NL: năng lực của nhân viên đối với KSNB

DD: đạo đức nhà giáo

TDNK: tư duy nhiệm kỳ

e: phần dư

Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết H1: năng lực của nhân viên đối với KSNB có ảnh hưởng cùng chiều với sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ĐVSN GDCL, tại Việt Nam.

Giả thuyết H2: đạo đức nhà giáo có ảnh hưởng cùng chiều với sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ĐVSN GDCL, tại Việt Nam.

Giả thuyết H3: tư duy nhiệm kỳ có ảnh hưởng cùng chiều với sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ĐVSN GDCL tại Việt Nam.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp thiết kế tuần tự khám phá của (Cresswell và Cresswell, 2018) để thực hiện. Nghĩa là sử dụng quy trình nghiên cứu hỗn hợp bao gồm nghiên cứu định tính được thực hiện trước, sau đó thực hiện nghiên cứu định lượng để khẳng định mô hình và các khái niệm đã đặt ra.

Đối tượng khảo sát là các kế toán trưởng và thành viên ban giám hiệu có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên của các trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học công lập khu vực phía Nam. Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 09/2021 đến tháng 11/2021. Tổng số phiếu phát ra 150 phiếu, số phiếu thu hồi 118 phiếu, trong đó 112 phiếu đạt yêu cầu. Để đo lường các biến, nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 khoảng cho bảng câu hỏi như sau: (1) Hoàn toàn không đồng ý; (2) Không đồng ý; (3) Bình thường; (4) Đồng ý; (5) Hoàn toàn đồng ý.

  1. Kết quả nghiên cứu

5.1. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha)

Kiểm định thang đo năng lực của nhân viên đối với KSNB

(bảng 1)

Kết quả xử lý từ phần mềm SPSS 20 cho thấy, tất cả các thang đo của nhân tố Năng lực của nhân viên đối với KSNB đều có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item-Total Correlation) > 0.3; hệ số Cronbach’s Alpha của từng thang đo đều lớn hơn 0.6; Cronbach’s Alpha của nhân tố là 0.896. Do vậy, thang đo Năng lực của nhân viên đối với KSNB là đạt yêu cầu về độ tin cậy.

Kiểm định thang đo Đạo đức nhà giáo (Bảng 2)

 Kết quả xử lý từ phần mềm SPSS 20 cho thấy, thang đo DD5 có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item-Total Correlation)  = 0.082 < 0.3, nên loại bỏ thang đo này đo chưa đạt độ tin cậy. Tiếp tục kiểm định lại thang đo Đạo đức nhà giáo sau khi đã loại bỏ DD5 cho kết quả như Bảng 3.

Kết quả kiểm định lại sau khi đã loại bỏ thang đo DD5 cho kết quả là tất cả các thang đo đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3; hệ số Cronbach’s Alpha của từng biến đều lớn hơn 0.6; hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố Đạo đức nhà giáo là 0.861. Do vậy, thang đo đạo đức nhà giáo đạt yêu cầu về độ tin cậy.

Kiểm định thang đo tư duy nhiệm kỳ (Bảng 4)

 

Kết quả xử lý từ phần mềm SPSS 20 cho thấy, thang đo TDNK3 có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item-Total Correlation)  = 0.072 < 0.3, nên loại bỏ thang đo này đo chưa đạt độ tin cậy. Tiếp tục kiểm định lại thang đo Tư duy nhiệm kỳ sau khi đã loại bỏ TDNK3 cho kết quả như Bảng 5.

Kết quả kiểm định lần 2 sau khi đã loại bỏ thang đo TDNK3 cho kết quả là tất cả các thang đo đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3; hệ số Cronbach’s Alpha của từng biến đều lớn hơn 0.6; hệ số Cronbach’s Alpha của nhân tố Tư duy nhiệm kỳ là 0.820. Do vậy, thang đo Tư duy nhiệm kỳ đạt yêu cầu về độ tin cậy.

Kiểm định thang đo Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB (Bảng 6)

 

Phần mềm SPSS 20 xử lý phân tích cho kết quả là tất cả các thang đo của nhân tố Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB đều có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item-Total Correlation) > 0.3; hệ số Cronbach’s Alpha của từng thang đo đều lớn hơn 0.6; Cronbach’s Alpha của nhân tố là 0.938. Do vậy, thang đo sự hữu hiệu của hệ thống KSNB có độ tin cậy đạt yêu cầu.

5.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá – EFA (Bảng 7)

 

Kết quả tổng hợp từ kết quả xử lý của phần mềm SPSS 20 cho thấy, các nhân tố độc lập và nhân tố phụ thuộc đều phù hợp với mô hình nghiên cứu.

5.3. Kết quả hồi quy (Bảng 8)

 

Từ kết quả hồi quy tuyến tính, ta thấy hệ số R2 (Adjusted R Square) = 0.518; các hệ số Sig = 0.000 < 0.05; các hệ số VIF đều < 10. Nghĩa là, mô hình nghiên cứu là phù hợp, không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Các nhân tố biến độc lập đều có ảnh hưởng đến nhân tố biến phụ thuộc. Cụ thể, nhân tố Năng lực của nhân viên đối với KSNB có hệ số Beta đã chuẩn hóa (Standardized Coefficients Beta) = 0.287; nhân tố Đạo đức nhà giáo có hệ số Beta đã chuẩn hóa = 0.356; nhân tố Tư duy nhiệm kỳ hệ số Beta đã chuẩn hóa = – 0.317. Như vậy, kết quả phân tích cho thấy các giả thuyết ban đầu đặt ra đều phù hợp với kết quả nghiên cứu.

Từ đó, ta có mối quan hệ giữa các nhân tố được thể hiện qua phương trình hồi quy tuyến tính sau:

HH = 0,356 * DD – 0,317 * TDNK + 0,287 * NL

  1. Kết luận và hàm ý

Hệ thống KSNB trong một tổ chức là các quy trình, quy định được xây dựng và thực hiện bởi con người. Nhân tố con người luôn tồn tại trong một tổ chức, do vậy việc xây dựng hệ thống KSNB và để hệ thống KSNB đó hữu hiệu thì hoàn toàn chịu sự chi phối của con người trong tổ chức đó. Kết quả khảo sát và phân tích trên cho thấy, các giả thuyết đã đưa ra là hoàn toàn phù hợp. Nghĩa là, nhân tố Đạo đức nhà giáo và nhân tố Năng lực của nhân viên đối với KSNB có quan hệ cùng chiều với sự hữu hiệu của hệ thống KSNB; trong khi nhân tố Tư duy nhiệm kỳ có ảnh hưởng ngược chiều với sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ĐVSN GDCL tại Việt Nam. Mức độ ảnh hưởng của nhân tố Đạo đức nhà giáo là cao nhất; nhân tố Năng lực của nhân viên đối với KSNB có ảnh hưởng  thấp nhất trong 03 nhân tố; nhân tố Tư duy nhiệm kỳ có ảnh hưởng đáng kể và ngược chiều với sự hữu hiệu của hệ thống KSNB. Do vậy, để nâng cao sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ĐVSN GDCL tại Việt Nam hiện nay, cần có các giải pháp tác động trực tiếp đến các nhân tố trên.

Về Đạo đức nhà giáo

Các ĐVSN GDCL cần nâng cao đạo đức nhà giáo thông qua một số giải pháp sau:

Một là, các ĐVSN giáo dục căn cứ Quy định về Đạo đức nhà giáo tại Thông tư 16/2008/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, để cụ thể hóa thành các quy định phù hợp cho mỗi trường để hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện đạo đức nhà giáo. Cụ thể phải quan tâm đến các vấn đề sau:

– Chú trọng đến lối sống liêm khiết, không vụ lợi cá nhân của nhà giáo.

– Xây dựng cơ chế phù hợp để khuyến khích nhà giáo nâng cao trình độ chuyên môn, cải tiến các phương pháp giảng dạy và học tập.

– Có quy chế quản lý cụ thể để hoạt động của nhà giáo không xảy ra xung đột giữa công việc chuyên môn và lợi ích cá nhân; không thiên vị khi truyền đạt và đánh giá kết quả học tập của người học.

Hai là, các đơn vị xây dựng chế độ tiền công, tiền lương xứng đáng cho nhà giáo; kịp thời khen thưởng và động viên, nêu gương đối với những nhà giáo có thành tích xây dựng hình mẫu về đạo đức nhà giáo.

Ba là, mỗi nhà giáo phải ý thức được rằng luôn phải giữ gìn phẩm giá của nhà giáo, giữ hình ảnh của mình trước người học.

Về Năng lực của nhân viên đối với KSNB

Để nâng cao sự hữu hiệu của hệ thống KSNB, các đơn vị cần nâng cao năng lực của nhân viên trong việc thực hiện các quy trình, quy định của hệ thống KSNB, cụ thể:

– Tạo môi trường và phương tiện tốt nhất để các nhân viên có điều kiện làm việc, tạo động cơ cho nhân viên quan tâm xử lý công việc, và có khả năng thích ứng với công việc.

– Xây dựng chế độ hỗ trợ để nhân viên có điều kiện học tập, nâng cao trình độ chuyên môn trong lĩnh vực được phân công.

– Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ phận trong nội bộ đơn vị nhằm đảm bảo có sự kết nối, hợp tác, thống nhất để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ chung.

Về vấn đề Tư duy nhiệm kỳ

Tư duy nhiệm kỳ là các hành động tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB. Do vậy, để nâng cao sự hữu hiệu của hệ thống KSNB, cần phải làm giảm các hành động liên quan đến Tư duy nhiệm kỳ, cụ thể:

– Xây dựng cơ chế giám sát tại đơn vị thông qua việc ban hành các quy định về việc phân công, phân nhiệm, giám sát nhằm thực hiện kiểm soát quyền lực đối với lãnh đạo đơn vị.

– Tăng cường phổ biến Quy chế dân chủ cơ sở một cách rộng rãi, chi tiết đến toàn thể viên chức nhà trường để biết và thực hiện. – Thực hiện đánh giá, phân loại viên chức, tự phê bình và phê bình hàng năm một cách nghiêm túc, thẳng thắn.

– Thực hiện nghiêm quy trình về công tác quy hoạch cán bộ, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, tuyển dụng nhân sự một cách công khai, dân chủ./.

Theo: PGS.TS. Trần Văn Tùng – Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

         Th.S. Tạ Văn Trọng – Trường Cao đẳng Giao thông Vận tải Trung ương VI

Tài liệu tham khảo

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII. Hà Nội.
  2. Creswell, J. W., & Creswell, J. D, (2018) Research design: qualitative, quantitative, and mixed methods approaches. Fifth edition. Los Angeles: SAGE. Chicago.
  3. George Myula, (2011) Assessment of factors affecting effectiveness of internal control system in local government authorities in Tanzania.
  4. International Organization of Supreme Audit Institutions, (2004) Guidelines for Internal Control Standards for the Public Sector.
  5. Karma Sherpa: Importanceofprofessionalethicsforteachers. Volume 4, Issue 3, March 2018. Research Paper.
  6. Omar Mohammad Al-Hawatmeh, (2016). Evaluation of Internal Control Units for the Effectiveness of Financial Control in Administrative Government Units: A Field Study in Jordan.